Thần tiên Việt Nam

Địa Lý Tả Ao Tiên Sinh Pháp Thái Cực Chi Đồ Hình Con Đất Quý – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

ĐỊA LÝ TẢ AO TIÊN SINH PHÁP THÁI CỰC CHI ĐỒ HÌNH CON ĐẤT QUÝ

201361419463988167.jpg

 

Đệ nhất cách

 

HỮU ĐỆ NHẤT CÁCH

                                  Thiền thiều mạch khởi tố phương la

                                  Nhập não tu cầu lưỡng thủy lai

                                  Hậu hợp đường tiền tiên tối hảo

                                  Tự nhiên phú quý đích vô sai.

 

CÁCH THỨ NHẤT

                                  Đùn đùn mạch tự tổ sơn lai.

                                  Đến huyệt hai dòng nước khép đai

                                  Thủy hậu hợp tiền, hồ nguyệt ánh.

                                  Giàu sang đoán trước tất không sai.

 

CHƯƠNG II

ĐỊA LÝ TẢ AO TIÊN SINH PHÁP ĐIỂM HUYỆT

A. HƯỚNG DẪN PHẦN ĐIỂM HUYỆT

Điểm huyệt là phép tìm ra chỗ đúng của huyệt trường. Cũng theo phép quân bình âm dương, cao thấp mà điểm nơi huyệt trường có hình: Oa hoặc Kiềm hoặc Nhũ hoặc Đột. Thường mạch nơi sơn cước ta dùng Oa và Kiềm, mạch nơi bình dương (đất bằng) ta dùng Nhũ, Đột.

Mạch sơn cước chỗ đầu núi cúi xuống gặp nước hay gặp đất bằng mà kết thì hay có hình oa hay hình kiềm. Còn đồng bằng mà nổi lên kết thì hay có nhũ và đột. Đột là cao lên như cái gò nhỏ, còn nhũ là cao lên và dài như cái vú quả mướp.

Điểm huyệt ở huyệt hình Kim, khác điểm ở hình Mộc, khác hình Thủy, khác hình Hỏa, khác hình Thổ. Ngoài khi điểm huyệt cũng nên chú trọng đến những ngấn nước ở hai bên huyệt ta gọi là hà tu thủy. Ta cũng cần chú trọng đến những bông cỏ xanh tươi hoặc những mô cao thấp một chút. Huyệt điểm cao quá thì sát, thấp quá thì yếu. Ngoài ra, tay long, tay hổ dài ngắn cũng ảnh hưởng đến phép điểm huyệt, án cao, thấp cũng thế.

 

B. ĐIỂM HUYỆT

Câu 1:     Sơn cốc tựu kỳ oa túc

               Bình dương tựu kỳ đột lĩnh.

Nơi sơn cốc huyệt ở noi oa thấp.

Vũng bình dương tuyệt ở chỗ đột kết.

 

Luận câu 1: Sơn cao úy phong xuy, thực lăng cố cổ tầm oa xứ, sơn túc điểm chi, xứ phong bất xuy giả. Tha sơn cao tụ khí thái khí giả, như  nhân chi nguyên khí, do ngạnh tác bất chung đa, tắc âm nhu nan tầm oa xứ, cập sơn túc sử khí chung bất phong xuy giả, – bình dương đa bạc địa, khí tụ ư cao hậu đột lĩnh chi xứ, cố tầm đột táng sử chi, khí bất bạc giả.

 

Nơi núi cao ta sợ gió thổi nên phải tìm chỗ vững thấy (oa) nơi chân núi mà điểm, khiến cho gió không thổi tới được.

Bởi núi cao mà tụ khí thì khí quá mạnh, khí ở đây như nguyên khí của người nên chỗ cương ngạnh (chỗ cao) có gió thổi thì khí không tụ, ta phải tìm chỗ ôn nhu ở chỗ khai oa ở chân núi để cho khí chung tụ (không bị gió thổi tới).

Còn nơi bình dương khí bạc, ta lại phải tìm chỗ khí là tránh chỗ khí đơn bạc.

 

Câu 2:     Chứng tá vô như vượng tướng.

               Cao đê bất thất tụ chung.

Nhiều chứng tá không bằng chứng tá vượng tướng.

Đất cao thấp, không thể để mất chỗ tụ chung.

 

Luận câu 2: Phàm huyệt tả hữu thượng hạ, chứng tá quân bình, thế đại nan y thừa kỳ vượng tướng. Mạch thừa kỳ Bính Tý, Canh Tý chi loại, nhi tỵ cô hư chi khí. Hoặc cao hoặc đê, nan y giả dã, tất thừa kỳ chung tụ chi khí, nhi thiên chi chung tụ giả – viên hậu phì nhũ, thổ bao chung tú, thảo mộc thanh tú dị giả. Nhược chung tụ câu đại nan cứ giã. Thượng lập chuẩn tiêu ư mạch ưng đáo xứ khởi huyệt xứ, hạ lập chuẩn tiêu ư nậu tận, thủy hợp lưu xứ.

Thượng khởi hộ nhi hạ, hạ khởi bộ nhi thượng, phàm bộ chi xích thốn, hợp đoản thiểu.

Hạ kế: Kiên, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế.

Thượng kế: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Nhi trực ngộ xuất xứ

a. Hạ đắc: Bình, Định, Thành, Khai.

b. Thượng đắc: Giáp, Ất, Canh, Tân

Tiết điểm chi

Nhược huyệt như đích hữu chứng tá, an thập đạo táng.

a. Ngộ Kiến, Phá, Trừ, Mậu, Kỷ, Quý: Tiên sát tam nhân, hậu phát.

b. Ngộ Chấp, Bế, Ất, Đinh – Bất phát, hưu kiến đại tai.

c. Ngộ Mãn, Thâu, Bình, Chi.

Phàm huyệt tả hữu trên dưới có chứng tá, quân bình thế rộng lớn, khó mà căn cứ, thì ta phải thừa mạch Vượng, Tướng, ví dụ như mạch nên thừa Bính Tý (nếu là Nhâm Long) Canh Tý (nếu là Tý Long) và tránh khí Cô Hư (Giáp Tý, Mậu Tý, Nhâm Tý).

Còn mạch cao thấp khó mà căn cứ nên phải thừa vào chỗ Khí chung tụ để táng huyệt. Chung tụ là chỗ viên hậu, phì nhu, có sắc thổ tốt đẹp, cỏ cây xanh tươi đó là đất lạ.

Nếu chỗ chung tụ mà rộng thì cũng khó mà căn cứ được, ta lại phải lập tiêu chuẩn.

Lập một tiêu chuẩn ở chỗ khởi huyệt (bên trên).

Lập một tiêu chuẩn ở chỗ khởi lưu (bên dưới). Rồi đi từ phía trên đi xuống, phía dưới đi lên. (Bằng cỡ chân bước ngắn, dãy đều nhau).

Khi bước từ dưới lên đếm (tuần tự đọc): Kiên – Trừ – Mãn – Bình – Định – Chấp – Phá – Nguy – Thành – Thâu – Khai – Bế.

Còn bước từ trên xuống ta đọc: Giáp – Ất – Bính – Đinh – Canh – Tân – Nhâm – Quý.

Mỗi bước một chữ

Khi trên dưới gặp nhau mà:

a. Phía dưới đi lên gặp chữ Bính – Đinh – Thành khai.

b. Phía trên đi xuống gặp chữ Giáp – Ất – Canh – Tân.

Tức là điểm đúng huyệt rồi đó

Còn như huyệt có đủ chứng tá phân minh thì ta chăng dây hình chữ thập (một dây chiều trước sau, và một dây chiều phải trái) để làm đích mà táng.

Lúc táng mà được Kiên, Phá, Trừ, Mậu, Kỷ, Quý thì trước phải bị sát 3 người sau mới phát.

Còn gặp được Chấp, Bế, Ất, Đinh thì không có phát và gặp tai họa dữ dội.

Còn gặp ngay Mãn, Thâu thì bình thường.

 

Câu 3:     Mạch thừa tả hữu, bất câu tả hữu

               Địa hữu minh ám, tu biện minh ám.

Mạch nhận tả hữu mà không câu nệ tả hữu.

Đất có minh ám, nên biện biệt minh ám.

 

Luận câu 3: Kỳ pháp, mạch tòng tả lai, khí chung vu hữu. Mạch tòng hữu lai, khí chung vô tả. Diệc nhiên, địa nhất minh, nhất ám, nhất hư, nhất thực.

a. Minh giả: mạch thùy giáng khai minh, thủy tiểu tiểu vi mang dã.

b. Ám giả: chúng tương hành

c. Hư giả: nhuyễn nhược bạc dã.

d. Thực giả: viên vụng, phi hậu tú khí dã

Tại nơi điểm huyệt, nếu thấy mạch từ tả đến (nhiều khi tả cao, hữu thấp) thì khí chếch sang bên hữu (nên điểm huyệt sang bên phải).

Và nếu thấy mạch từ hữu sang tả (khi hữu cao tả thấp) thì khí tụ chếch sang bên tả (nên điểm huyệt sang bên trái).

Cũng tại nơi điểm huyệt, nếu thấy đất một bên minh, một bên ám, hoặc một bên hư một bên thực, cũng phải biết mà liệu điểm huyệt thì mới trúng nơi khí chung tụ.

a. Minh là mạch rủ xuống, trông thấy rõ.

b. Ám thì lờ mờ khó nhận.

c. Hư là mềm yếu mỏng manh.

d. Thực là quầng tròn và đầy đặn.

Vì vậy nếu thấy đất Minh thì dễ, còn đất Ám, ta phải coi thêm kỹ các chứng ứng như: Long, Hổ, Ám v.v…

Còn đất Thực thì ta chọn chỗ thực mà bỏ chỗ hư – Bởi hư thì khí bạc mà thực thì mới có tú khí.

 

Câu 4:     Cấp lai hoãn thụ, Hoãn lai cấp thụ

               Âm lai dương thụ, Dương lai âm thụ

Mạch cấp lại thì chỗ Hoãn là kết. Hoãn lại thì chỗ cấp là kết.

Mạch Âm lại thì chỗ Dương là kết và mạch Dương lại thì chỗ Âm là kết.

 

Luận câu 4: Địa hữu hoãn hữu cấp, như nhân hữu nhược hữu cường. Cấp giả, cao đại, huyệt tại Kiềm Nhũ. Hoãn giả vi tiểu, đê bạc.

Phàm lai long nhị tam tiết giai hùng, Cấp tựu kỳ Oa Kiềm, sơn túc chi xứ điểm chi.

Sơn cao vi âm, đê giả vi dương. Quần sơn giai cao, tầm kỳ đê xứ nhi điểm.

Chúng sơn giai đê, tầm kỳ cao xứ nhi điểm chi. Diệc cứ âm lai dương thụ chi nghĩa dã.

Mạch có hoãn có cấp, như người ta có nhược có cường. Cấp thì cao lớn: Huyệt tại Kiềm Nhũ. Còn Hoãn thì nhỏ bé, thấp bạc.

Phàm lai long hai ba tiết đều hùng mạnh là Cấp huyệt ở Oa, Kiềm nơi chân núi mà điểm.

Còn sau huyệt mà thấy sơn bằng phẳng, nhuyễn nhược thì phải tìm chỗ đột cao lên ở huyệt trường mà điểm (nơi đột lĩnh).

Sơn cao là Âm, thấp là dương. Đám sơn đều cao ta chọn chỗ thấp mà điểm huyệt.

Các sơn đều thấp, tìm chỗ cao mà điểm huyệt. Đây là căn cứ vào nghĩa câu:

Âm lai dương thụ – Dương lai âm thụ.

 

Câu 5:     Quan mạch tương tiếp, bất sai

               Khí mạch kiêmthu, hữu hiệu.

Quan với mạch nối tiếp nhau là đúng phép.

Khí với mạch gồm thu cả mới hữu hiệu.

 

Luận câu 5: Điểm huyệt chi pháp, sử quan bất ly mạch, mạch bất ly quan, nhược bất sai chi như mãn cư tán dã.

Chính li vi mạch, lưỡng biên vi khí, yếu đắc kiêm thu nhập huyệt, thủy phát phúc hữu hiệu giả dã.

Điểm huyệt là phép tìm chỗ cho quan không xa lìa mạch, mạch không xa lìa quan, phải như vậy mới được kết. Chính giữa là mạch thì hai bên là khí, cần phải cả khí lẫn mạch đều được kiêm thu vào huyệt thì việc phát phúc mới hữu hiệu.

 

Câu 6:     Kim dụng Oa, Mộc dụng Tiết, diệu tại nhẫn suy. Thủy tầm khúc, Thổ tại Giốc, tựu chung linh tại nhỡn kiến.

Huyệt trường hình Kim (tròn) thì huyệt dụng Oa. Hình mộc (dài) thì kiếm chỗ Đốt (mắt) khéo léo ở mắt quan sát.

Hình thủy (hình vòng vèo, méo) thì tìm huyệt ở chỗ Khúc (cong mập).

Hình thổ thì ở nơi góc (nếu có khác mấy góc kia) hoặc ở giữa (nếu 4 góc giống nhau) đó là hình lợi ở mắt nhìn.

 

Luận câu 6: Kim viên hình, tựu oa nhi oa thủ. Vô oa tựu khai – nhi long, hổ, chủ, khách hữu tình tức tu khai tắc kim oa. Cố viết diệu tại nhãn suy.

Mộc bản cao kỳ tiết, vô tiết tầm ảnh, nhược vô tiết, ảnh, nhi sơn thủy hữu tình, tắc khí qui căn, nghi tác niêm căn (gốc).

Thổ tinh huyệt tại Giốc. Nhước bất minh tắc mạch quán trung, vi chính nghi huyệt tâm.

Thủy tinh nhược, đang tầm khúc xứ – Thủy tùy mạch nhi điểm – Cố viết linh tại nhãn kiến dã.

Kim hình tròn, ta kiếm chỗ vụng (oa) làm huyệt. Nếu không thấy chỗ vụng (oa) thì tìm chỗ Khai hoa (biến thể của oa) mà có long, hổ, chủ, khách hữu tình thi chính chỗ khai hoa này thay thế cho hình Oa (chỗ vụng) làm huyệt cho huyệt trường hình kim. Nên mới nói là khéo léo ở mắt quan sát.

Hình Mộc (dài) thì quý ở chỗ Đốt (mắt của cây). Nếu không thấy đốt (mắt của cây) thì ta tìm cái bóng của Đốt. Trường hợp không có đốt, lại không có cả bóng của đốt nữa, mà thấy sơn thủy hữu tình thì khí mạch tụ ở gốc (căn). Nên điểm sát gốc.

Thổ tinh (huyệt trường vuông hoặc chữ nhật) thì huyệt hay ở vào một góc (góc có hình tích khai huyệt và ngoài có long hổ vòng ôm).

Nếu các góc không có huyệt thì khí mạch đều tụ ở chính giữa. Nó chính là huyệt tâm, trường hợp 4 mặt cao giữa thấp, hoặc 4 mặt bằng mà giữa nổi lên hình Kim thì lại càng đúng.

Thủy tinh thì khí nhu nhược, ta nên tìm ở chỗ cong (phì hậu) mà điểm (phải có chứng ứng như long, hổ, án, sa). Như trên trình bày ta tùy mạch mà điểm, nên mới nói là linh ở mắt nhìn.

 

Câu 7:     Hỏa tinh thập cá cửu không, biến kỳ quý khí đương cầu.

               Kỵ long thập cá cửu giả, nhận kỳ thực huyệt vi thủ.

Hỏa tinh thì mười cái có 9 cái không, nếu thấy có quý khí mới nên tìm.

Kỵ long thì mười cái có 9 cái giả, nên tìm chỗ thực huyệt mà lấy.

 

Luận câu 7: Hỏa bản tiêm đầu vô huyệt, nhược hỏa hình như đầu đại phì, tú khí tắc họa tuyệt ư phì xứ – Kỳ tọa hoành đạp hoành sử bất kiến tiêm đầu hỏa, cố viết chiên hỏa cách. Kỵ long đại địa bất kết ư tận xứ, cố viết kết chi ư nội, tiền hậu giai xung, giáp huyệt; phong bất chí, thử bất sinh, tầm kỳ chính tích, hoặc Oa, Kiềm, Nhũ, Đột. Minh tiền hiển hậu, đương nhận thử chi.

Kỵ hữu, thuận kỵ, đảo kỵ, hoành kỵ.

Thuận kỵ, lai sơn tác huyệt, khứ sơn tác án.

Đảo kỵ giả, khứ sơn tác huyệt lai sơn tác án.

Hoành kỵ, tống sơn tác tuyệt, nhược huyệt vật dụng dã.

Phàm kỵ long, sơn bảo hành thủy do phân, thập cá cửu không dã.

Nhược Long tụ, thủy giao, hữu chân huyệt, phát phúc vĩnh niên giả.

 

Hình hỏa nhọn đầu vốn không có huyệt. Nếu hỏa hình mà đầu mập lớn, có tú khí thời tọa tuyệt ở chỗ đầu mập. Nhưng dù chọn chỗ đầy mập cũng phải “tọa hoành, đạp hoành” nghĩa là làm sao chỗ ngồi của huyệt không còn nhìn thấy chỗ nhọn đầu của hình hỏa (hình nhọn) được. Phép này gọi là “Tiễn hỏa cách”.

Thế kỵ long (ngồi trên lưng long, còn xa mới tới minh đường) hay ở những ngôi đất lớn. Kỵ long thì huyệt không kết ở nơi tận xứ (gần minh đường) mà kết ở ngay trong (trên lưng) long, và trước sau của nó đều vệ giáp vào huyệt. Phải là chỗ mà gió không thổi tới, nắng không tới. Huyệt ở trên sống lưng long có thể là Oa – Kiềm – Nhũ hoặc Đột nhưng phải là chỗ trước, sau (những chứng ứng) phải minh hiển, rõ rệt.

Nói về kỵ long ta có cách:

1. Thuận kỵ (huyệt nhìn xuôi)

2. Đảo kỵ (huyệt nhìn nghịch)

3. Hoành kỵ (huyệt nhìn ngang)

a. Thuận kỵ thì lai sơn (sơn đến) làm huyệt và khứ sơn (sơn đi) làm án.

b. Đảo kỵ thì khứ sơn (sơn đi) làm huyệt, và lai sơn (sơn đến) làm án.

c. Hoành kỵ thì tống sơn (sơn tiễn) làm huyệt và nghinh sơn làm án.

Tuy nhiên, kỵ long mà thấy huyệt không chính xác thì chớ có dùng.

Phàm kỵ long mà sờn của long còn chạy đi, nước chưa tụ thì mưới cái có đến 9 cái không.

Còn khi thấy chắc chắn long đã đinh, thủy đã giao thì mới là chân huyệt. Sẽ phát phúc vĩnh viễn vậy.

 

Câu 8:     Thổ tinh hữu huyền lăng, cá cá giai thị.

               Thổ huyệt hữu triều ảnh, nhất nhất giai chân

Thổ tinh mà có “huyền lăng” thì cái nào cũng phải.

Thổ huyệt mà có “triều ảnh” thì nhất nhất đều trúng.

 

Luận câu 8: Thổ tinh vi bình, tứ diện thành khởi, tựu trung nhi bất nghi, triều ảnh gia vận chi trung, lưỡng biên vệ huyệt, thiên vũ thủy vọng chi ảnh vimang, hợp ư vận nhi điểm huyệt chi, bất sai huyệt dã.

Thổ tinh bằng phẳng mà 4 phía chung quanh có thành cao lên thì huyệt kết tại chính giữa, không còn hoài nghi gì nữa.

Triều ảnh là ở trong vầng quầng mà hai bên có vệ huyệt, khi trời mưa nhìn thấy ánh nước lờ mờ, hợp với vầng quầng, ta điểm huyệt thì hẳn là đúng huyệt.

 

Câu 9:     Hà tu nhất thể

               Giải nhỡn lưỡng đầu

Râu tôm một thể

Mắt cua hai đầu.

 

Luận câu 9: Hà tu giả, vi thủy vệ huyệt, dị kiến, chí nhược.

– Giải nhỡn, tả hành tắc tả biên minh, hữu biên ám. Tùy án tiền nhi điểm chi dã.

Râu tôm, hà tu là cái vi thủy (thủy nhỏ bé) vệ huyệt dễ nhìn thấy.

Mắt cua (giải nhỡn) thì nếu mạch đi tả biên thì tả biên rõ hữu biên mờ. Trường hợp này thì theo án đằng trước mà điểm huyệt.

 

Câu 10:   Sơn bất hứa ư trực xung

               Mạch trực sử ư quán nhĩ.

Sơn không nên đi thẳng đến huyệt.

Mạch trực nên cho vào (tài liệu mờ)

 

Luận câu 10: Sơn mạch trực nhập, nhi tọa chi vị chi đấu, mạch sát, thả như:

a. Dậu long, tọa Dậu hướng Mão

b. Hợi long, tọa Hợi hướng Tỵ chi loại.

Phạm huyệt trực nhập, tác phân kim, thiên hướng sử mạch quán nhĩ, mạch nhập nhị dã.

Sơn mạch chạy thẳng vào quan là “đấu sát” (đấu mạch bị sát). Ví dụ như:

a. Dậu long mà tọa Dậu hướng Mão.

b. Hợi long mà tọa Hợi hướng Tỵ.

Là mạch xông thẳng vào quan.

Phàm huyệt mà trực nhập thì phân kim phải cho mạch đi xiên (khiến cho mạch không đâm thẳng vào não. Phải cho mạch nhập nhĩ, gọi là mạch vào tai vậy).

 

Câu 11:   Sở quý cầu mạch thảo xà

               Sở ái lâm điền bộ ảnh

Đáng quý, mạch như rắn bò trên cỏ

Đáng yêu mạch như bóng hiện trên ruộng

 

Luận câu 11: Thảo xà mạch, hành như xà nhập dư tất tâm truyền thụ.

Ảnh giả, truyền giốc điền mạch dã.

Mạhc hành bình điền, nhận điều giốc bán thốn vi cao vọng chi, như ảnh tùy thân, khai khẩu minh dịch nhi điểm chi.

Thảo xà là mạch đi nhu rắn bò trên cỏ (hơi gợi lên).

Ta đã được tâm truyền thụ thụ.

Ảnh là mạch truyền góc ruộng. Đó là mạch đi ở bình điền, nhận thấy ở góc ruộng hơi cao lên (độ 1 tấc) trông nó như là bóng theo người. Tìm chỗ khai khẩu, hiện rõ mà điểm.

 

Câu 12:   Tiêm đầu mạc hạ

               Thử vĩ hưu thiên

Nhọn đầu đừng có hạ

Đuôi chuột chớ nên rời.

 

Luận câu 12: Tiêm đầu khí bất tụ, thử vĩ khí bất chung. Phàm hình như tiêm đầu thử vị, tế tiểu nhi điểm khí bất chung dã.

Nhọn đầu khí không tụ, đuôi chuột khí không chung. Phàm mạch bé, hình đầu nhọn, hình đuôi chuột điểm ở chỗ nhọn chỗ nhỏ đó thì không có khí tụ vậy.

 

Câu 13:   Án long tỵ vật thượng ư thần

               Táng quy kiên, vật dụng ư sác.

Để ở mũi rồng, thì chớ cho xuống môi.

Táng trên vai rùa thì đừng cho lên mai.

 

Luận câu 13: Long bản quý khí tại tỵ – Nghi điểm chi Quy bản huyệt tại kiên, vật dụng ư sác dã. Long điểm ư thần, tận khí dã.

Rồng vốn quý ở nơi mũi (nói chung là huyệt ở chỗ khí chung tu nên điểm vào mũi, chớ điểm thấp xuống mồm rồng.

Rùa, nếu huyệt ở vai (nói chung là huyệt ở chỗ khí chung tụ) nên điểm vào vai (chớ điểm cao lên mai rùa).

Như trên, nếu rồng có khi chung tụ ở mũi mà điểm xuống quá thấp là điểm ở chỗ tận khí (không tốt).

Cũng như trên, nếu rùa có khí chung tụ ở vai mà điểm cao lên mai, thì bị sát, không tốt.

 

Câu 14:   Thạch sơn tầm thổ huyệt

               Thổ huyệt tầm thạch long.

Núi đã kiếm thổ huyệt

Thổ huyệt tìm thạch long

 

Luận câu 14: Phàm thạch sơn bản vô huyệt, nhược kiến oa hình, thổ nhuận nghi điểm chi, giác thư vi quý. Nhược vô thạch mạch tụ, tựu hạ ư thổ xứ điểm chi.

Phàm núi đá vốn không có huyệt. Nếu núi đá mà thấy ở chỗ vụng (oa) có đất mềm thì nên chú ý mà điểm huyệt – Thư thái là quý.

Còn như không thấy khí mạch trên núi đá thì ta tìm xuống dưới chỗ có đất mà điểm.

 

Câu 15:   Thạch thượng nghi táng

               Thủy để diệc thiên.

Trên núi đá cũng có cách táng.

Dưới nước cũng có cách dời xuống.

 

Luận câu 15: Thạch giả như nhân chi cốt, phàm cốt ngạnh, vô huyệt, nhược kiến tả hữu, hữu tình, tiền hậu phân minh, tú khí tụ chung, thổ diện giai thạch – Bất nghi phủ định quật chi – Kỳ pháp, trí quan ư thạch thượng, dĩ khách thổ bồi chi – Cao hậu ngũ xích diệt phát phúc dã.

Nhược chí mạch hành hoạt long, hoạt xà, quý sơn sở dẫn, quý thủy sơ tòng, đáo xứ bất biến huyệt, hoặc trì hồ tĩnh thủy bất động, hữu khởi tinh phong, hữu thực, thị thủy để huyệt nghi táng chi.

Đá cũng như xương người, phàm cốt, thì thô ngạnh, không có huyệt, nhưng thấy tả hữu mà hữu tình, trước sau phân minh, có tú khí chung tụ, mà trên mặt đất chỉ thấy có đá không có đất thì ta chớ nên dùng đinh và búa mà đào khoét xuống (làm huyệt). Ta phải dùng phép đặt quan tài trên đá, rồi lấy đất chỗ khác đem đến đắp lên. Đắp cao độ 5 thước (thước ta độ 25cm) cũng phát phúc vậy.

Còn nếu mạch đi hoạt long, hoạt xà, có quý sơn dẫn dắt, quý thủy đi theo, tới chỗ thích ứng mà không thấy huyệt mà thấy nơi đó có nước hồ trong sạch, êm tịnh bất động lại thấy (có chứng ứng) tinh phong khởi lên. Đó là có huyệt chim dưới nước. Ta nên tìm cách táng ở đó.

 

Câu 16:   Phản thủ tắc niêm cao cốt.

               Khúc bối tu ỷ tùy đầu.

Đất như bàn tay úp thì cốt lộ lên cao

Đất như khum lưng xuống thì kết huyện ở chỗ khum.

 

Luận câu 16: Cốt giả sơn chi khởi phong, sơn hành như thủ chi phản, tầm kỳ cốt nhi điểm chi.

Sơn đầu, cốt thủy đầu, tựu ư đầu, huyệt điểm chi.

Cốt là chỗ khởi phong của núi – Nếu thế núi như bàn tay úp, ta tìm chỗ cốt lộ mà điểm.

Xương đầu núi cúi khom xuống, ta tới chỗ đầu núi, tìm huyệt mà điểm.

 

Câu 17:   Hiển đột bất dị ư đột thượng. Minh nhũ bất ly ư nhũ trùng.

               Kiềm tác kỳ ỷ – Oa tác kỳ chi.

Hiển đột không rời khỏi “mặt đột”. Minh nhũ không lìa quá “trong nhũ” – Kiềm thời táng “ỷ” (ỷ là chỗ tựa). Oa thời táng “chi” (chỉ là chỗ ngưng).

 

Luận câu 17: Thế hữu thiên đoan vạn hình, bất quá tứ thế: Oa – Kiềm – Nhũ – Đột.

Thế đất có nghìn vạn đoạn hình, nhưng điểm huyệt chẳng qua 4 thế là: Oa – Kiềm – Nhũ – Đột.

 

Câu 18:   Tả hữu đầu trường, huyệt cư Nam

               Tả hữu đầu đoản, huyệt cư Bắc.

Hai bên đầu tả hữu (long, hổ) dài, huyệt ở Nam. Hai bên đầu tả hữu (long, hổ) ngắn, huyệt ở Bắc (gần).

 

Luận câu 18: Phàm huyệt thí như anh nhi, tả hữu như thế sở cầu. Tả hữu trường tắc nguyệt ngoại của tả hữu đoản tắc huyệt nội trú.

Đại khái huyệt cũng ví như đứa trẻ (được hai tay long hổ ôm bế che đỡ). Tả (long) hữu (hổ) cũng ví như người dìu dắt nó.

Tả hữu (long hổ) dài thì huyệt ở ngoài xa. Tả hữu (long hổ) ngắn thì huyệt ở trong gần.

Lưu ý: Bởi thế núi, nguyên tắc đi từ Bắc xuống nên nói Nm là nói ở xa, nói Bắc là nói ở gần. Và các vị thâm nho kể cũng thâm thật.

 

Câu 19:   Ngoại kháng tầm nội mật

               Nội cùng mịch ngoại thư.

Rộng rãi không khoáng thì tìm kín đáo bên trong.

Bức bách chật hẹp thì tìm thênh thang bên ngoài.

 

Luận câu 19: Phàm huyệt hữu thế, hữu hình, minh đường khoảng khoát tất di, sử ư tiền hữu vi, cao dĩ yểm tâm dã. Nhược nội bức thái quá giả, nghi tựu mịch ư ngoại thư giả điểm chi.

Phàm huyệt có thế, có hình, nếu minh đường rộng rãi, phải rời xa xa, khiến cho đằng trước có chỗ hơi cao để che trước ngực. Nếu bên trong bức bách quá, kiếm chỗ thư thái bên ngoài mà điểm.

 

Câu 20:   Tả động tả tầm

               Hữu động hữu tầm.

Bên tả động, tìm huyệt bên tả. Bên hữu động tìm huyệt bên hữu (chỗ động, chỗ trông khang khác là chỗ khai huyệt).

 

Luận câu 20: Truyền ngôn: thị Mộc, thị Kim, động trung thủ huyệt

Lời truyền rằng: Dù hình Mộc, dù hình Kim, cứ trông chỗ động mà tìm huyệt.

 

Câu 21:   Minh Đường hiệp đê xứ điểm.

               Minh Đường khoan cao xứ tầm.

Minh đường hẹp, điểm huyệt chỗ thấp. Minh đường rộng, điểm huyệt cao (chỗ cao mới bao quát được chỗ rộng).

 

Luận câu 21: Hiệp nhi tọa đê, khoan nhị tọa cao. Giai bất hiểu ư đường tất tùy kỳ thế dã.

 

Câu 22:   Chân lai Ngụy lạc, huyệt kỳ chân

               Ngụy lai chân lạc, huyệt kỳ ngụy.

Mạch chân lại, mạch ngụy lạc, huyệt ở mạch chân.

Mạch ngụy lại, mạch chân lạc, huyệt ở mạch ngụy.

 

Luận câu 22: Mạch hữu chân hữu ngụy, như long hành tam tứ tiết nhi Hợi giao, đáo hữu ngạnh tiết. Tý, Quý hành đáo như hữu minh dịch, diệc tựu Hợi điểm chi.

Mạch có mạch chân mạch ngụy. Nếu long hành ba bốn tiết đến Hợi giao tiếp, có tiết thô ngạnh. Tý quý có nước mạch rõ rệt, cũng theo mạch Hợi đó mà điểm.

 

Câu 23:   Vật ngộ dụng bích lập tàng sơn

               Vật ngộ dụng đê điền bạc xứ

Đừng dùng chỗ vách đứng của núi non.

Đừng dùng chỗ bạc nhược của bình dương.

 

Luận câu 23: Hậu đầu sơn xứ bích lập cận điểm chi tắc sinh hung họa. Phàm đê điền bạc xứ vô huyệt tất bất dụng.

Nếu điểm huyệt gần vách đứng dựng của hậu đầu sơn thì sẽ sinh tai họa. phàm điểm huyệt mà thấy đất ruộng thấp đê bạc của bình dương thì cũng nên tránh.

 

Câu 24:   Bắc thần lãnh thủy bức án vô phương

               Hậu đầu chiết mộc, cận huyệt vật dụng

Phía Bắc có lãnh thủy, dù có án bức cũng vô hại.

Nơi hậu đầu có có chiết mộc, gần huyệt ta chớ nên dùng.

 

Luận câu 24: Phàm huyệt tại bình điền, bình địa, tiền án cao nhất xích, cận ngũ bộ bức huyệt, sát hại, Đan Bắc hướng, bất hại. Nhược kiến nhất sơn hậu hoành án như mộc, cận táng đắc hại trướng.

 

Phàm huyệt ở nơi bình điền, bình địa mà trước huyệt có án cao một thước, ở gần huyệt năm bộ, sẽ bức huyệt, thì bị sát hại. Song, nếu án cao ở phương Bắc thì không hề chi. Nếu thấy núi vắt ngang đằng sau như hình Mộc mà táng gần, thì hại con trưởng.

 

Câu 25:   Cao vật dụng phong xuy

               Đê vật dụng thủy phá

Nơi cao đừng dùng huyệt có gió thổi.

Nơi thấp đừng dùng huyệt bị thủy phá.

 

Luận câu 25: Cao úy phong xuy, phàm sơn cốc tùy kỳ tàng phong, cố sơn túc điểm chi.

Phàm đê điền vật dụng hậu sơn lưỡng bối cao mãn, hoàn thủy lâm phá hậu đầu, tất tuyệt tự dã.

Huyệt nơi cao phải tránh chỗ gió thổi, phàm huyệt nơi sơn cốc, phải điểm huyệt ở chỗ ít gió (mới tụ được khí). Ta phải kiếm huyệt ở chỗ chân núi mà điểm.

Phàm nơi bình dương (đất thấp) không nên điểm huyệt ở chỗ có hậu sơn mà hai bên huyệt cao đầy, sẽ dễ bị nước tràn phá vào hậu đầu – tất sẽ bị tuyệt tự.

 

Câu 26:   Khai khẩu dụng thị đích

               Minh dịch điểm vô sai

Điểm huyệt nơi khai khẩu là đích.

Điểm huyệt chỗ minh dịch không sai.

 

Luận câu 26: Khai khẩu cứ khẩu nhi điểm – minh cứ dịch nhi điểm – Vận vô nhất thất dã

Thấy khai khẩu cứ chỗ khẩu mà điểm – Thấy dịch cứ chỗ dịch mà điểm, vạn cái không sai một.

 

Câu 27:   Tứ loan kim vật dụng kim

               Tứ loan thủy vật dụng thủy

Bốn kim nhạc đừng dùng kim.

Bốn thủy nhạc đừng dùng thủy.

 

Luận câu 27: Tứ loan kim ư tứ phương, thủy dịch.

Bốn hình kim tròn ở bốn phương, thủy cũng như vậy. Trường hợp này mạch cương (kim) thì cương quá, mạch nhu (thủy) thì nhu quá cũng không có đất kết.

 

Câu 28:  Đại để điểm huyệt chi pháp, cầu kỳ nguyệt chi đắc thế, mạch chi sở quán, khí chi sở quán, khí chi sở chung, dĩ các kỳ dư hỹ.

Đại để phép điểm huyệt:

– Cần tìm chỗ đắc thế.

– Mạch suốt tới chỗ quán.

– Khí phải chung tụ.

Là nói bao quát vậy.

 

Câu 29:  Dưới đây là điểm huyệt vào những chỗ khai khẩu và minh dịch của các thế đất. Nếu không khai khẩu phải tìm chỗ long chân huyệt đích mới được, còn nếu cứ theo hình mà điểm huyệt rất dễ sai nhầm.

 

1.      Thụ Đăng giả, điểm ư Đăng Tâm

      (Cây đèn thì điểm vào tim đèn)

2.      Liên Hoa giả, điểm ư Hoa Nội.

      (Hình hoa sen thì điểm trong bông hoa)

3.      Ngư tầm Phúc dữ Nhãn.

      (Hình con cá tìm ở bụng và mắt).

4.      Xà tầm Nhĩ di Tê

      (Hình con rắn thì tìm nơi tai và rốn)

5.      Tượng hình khán Khổng Tỵ.

      (Hình con voi thì xem ở lổ mũi).

6.      Ngưu hình khán Phúc Trung

      (Hình con trâu thì coi nơi bụng)

7.      Kê bão tầm Noãn Thượng

      (Hình gà ấp tìm trên trứng)

8.      Long hý châu, cầu Châu Trung

      (Hình rồng rỡn quả châu tìm trong hạt châu)

9.      Phượng ngộ tản phi, khí quy Túc Hạ

      (Phượng tan bay thì khí quy ở dưới chân)

10.    Phượng hàm thư khí quy Chủy Đầu

      (Phượng ngậm sách, khí quy ở đầu mỏ).

11.    Xà thính cáp tầm Nhĩ Thượng

      (Rắn ngậm trai, tìm ở tai)

12.    Long ẩm thủy, tầm Phúc Tề

      (Rồng uống nước tìm ở bụng, rốn)

13.    Bạch tượng quyến hồ, Hồ Trung thủ

      (Bạch tượng cuốn nước trong hồ thì tìm trong hồ)

14.    Mãnh hổ xuất sơn, Sơn Thượng tầm

      (Mãnh hổ ra khỏi núi thì tìm trên núi)

15.    Miên tróc thử, quan Nhãn

      (Mèo bắt chuộc coi ở mắt)

16.    Tê ngưu vọng nguyệt tầm Mục

      (Con tê ngắm trăng tìm ở mắt)

17.    Bạch mã ẩm thủy tầm Phúc

      (Ngựa trắng uống nước tìm ở bụng)

18.    Kim kê kiến xà, tầm Mục

      (Kim kê thấy rắn, tìm ở mắt)

19.    Quy hạ than tầm Lưỡng Nhãn

      (Rùa xuống bến nước tìm ở hai mắt)

20.    Quy triều Bắc, mịch Lưỡng Kiên

      (Rùa triều hướng Bắc, tìm ở hai vai)

21.    Quần dương kiến khuyển, huyệt tại Khuyển

      (Đàn dê thấy khuyển, huyệt ở hình khuyển)

22.    Quần nga kiến Thi, huyệt tại Thi

      (Đàn quạ thấy xác chết, huyệt tại xác)

23.    Hoàng xà thổ khí, kiếm Ngoại khí

      (Hoàng xà phun khí, kiếm ngoại khí)

24.    Sư tử hí châu, Châu Thử mịch

      (Sư tử dỡn trâu, tìm quả châu)

25.    Ngô công, khán Lưỡng Nhãn.

      (Hình con rết xem ở hai mắt).

26.    Uyển đình quan Nhất Tề

      (Hình con thằn lằn xem ở rốn)

27.    Tiên nhân thúc đái, huyệt tại Âm Môn.

      (Cô tiên thắt dây lưng huyệt ở âm môn)

28.    Mỹ nữ hiển hoa, huyệt cư Nhũ Thượng

      (Gái đẹp dâng hoa, huyệt ở trên vú).

 

 

MÃ TỬ ĐỒ

Đệ nhị cách

 

HỮU ĐỆ NHỊ CÁCH

                                 Thê tòng Huyền Vũ, Hổ, Long phân

                                 Tả hữu loan hoàn nhập thử phần

                                 Lưỡng Hổ đới triền thành triết phụ

                                 Trùng Long liên bút xuất hiền nhân.

                                 Đường tiền nguyệt chiếu sinh Tiên nữ

                                 Sơn hậu trùng trùng xuất Tướng quân.

                                 Đại địa khả tri y thử cục.

                                 Đương minh huyệt nội thọ thiên xuân.

 

CÁCH THỨ HAI

                                 Thế theo Huyền Vũ, Hổ, Long phân,

                                 Phải, trái vòng cong ấp mộ phần

                                 Lưỡng Hổ thêm triền nên vợ tốt,

                                 Trùng Long liền bút xuất hiền nhân

                                 Minh đường trăng chiếu, sinh Tiên nữ

                                 Sơn hậu muôn lần, phát Tướng quân

                                 Đại địa là đây, ai khá biết.

                                 Đường minh gần huyệt, thọ muôn xuân.

20137520393836349.jpg


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.199
  • 59
  • 5.942
  • 127
  • 6.011.627
  • 845.007