Thần tiên Việt Nam

64 quẻ độn toán Mai Hoa ứng nghiệm T7

 

DiỄn Giải

 

Bát Thuần Càn

_____

_____

_____

 

_____

_____

_____

Tượng về Trời cương kiện. Ba nét trên là Càn thượng tức Ngọai Càn; ba nét dưới là Càn Hạ tức Nội Càn, Càn là thuần dương, cực kiện, có 4 đức là:

– Nguyên: là đầu tiên, lớn,

– Hanh: là thông thái, thuận tiện.

– Lợi: thỏa thích, tiện lợi, nên, phải.

– Trinh là chính, bền chặt cho đến cùng.

Càn là hoàn toàn dương cương lại trung chính, có thể to lớn, thông thái, lợi tiện, kiên cố có tài đức, ứng vào việc gì cũng vậy.

Bát Thuần Khôn

__ __

__ __

__ __

 

__ __

__ __

__ __

Tượng về Đất, hoàn toàn chất nhu thuận. Ba nét trên là Khôn thượng tức Ngoại Khôn. Ba nét dưới là Khôn hạ tức Nội Khôn.

Khôn nghĩa là thuận. Khôn cũng có 4 đức như Càn là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh,và cực thịnh thuần âm.

Thủy Lôi Truân

__ __

_____

__ __

 

__ __

__ __

_____

Dinh dã là đầy, lúc vạn vật mới sinh ra. Vì lúc vạn vật mới sinh nên chưa hanh thái được. Lại có nghĩa là khốn nạn.

Truân là hạng người có gan mạo hiểm, có chí tiến thủ, có tài, hữu vi, nhưng vì thời thế đương buổi truân nạn, nên phải cẩn thận kỹ càng, chẳng nên vội vàng.

Truân là thời bắt đầu lâm nạn. Cho nên cần phải có nhiều bạn hiền giúp đỡ.

Sơn Thủy Mông

_____

__ __

__ __

 

__ __

_____

__ __

Mông dã, vật chi trĩ dã là non yếu, mù mờ, mù tối, chẳng tiến được.

Cấn là cao sơn, Khảm là thủy thâm tức là chốn hiểm.

Thủy Thiên Nhu

__ __

_____

__ __

 

_____

_____

_____

Ẩm thực chi đạo dã, nuôi nấng cho ăn uống, chữ Nhu có ba nghĩa:

1.- Do dự, rù rơ.

2.- Cần thiết mà cần thiết cho người không gì bằng ăn uống.

3.- Chờ đợi. Phải đợi thời cơ, chẳng có thể nôn nao được mà bị sai lầm.

Thiên Thủy Tụng

_____

_____

_____

 

__ __

_____

__ __

Tranh tụng dã, tranh nhau, tranh biện, kiện cáo. Thế dương cường áp chế người dưới, kẻ dưới lấy lòng hiểm đối đãi người trên, tất xảy ra kiện. Quẻ Tụng ở sau quẻ Nhu là vì ẩm thực mà sinh ra tranh nhau.

Địa Thủy Sư

__ __

__ __

__ __

 

__ __

_____

__ __

Chúng dã, có phe, có chúng là tượng quần chúng nhóm họp, tượng đem quân đi đánh, tượng một tướng thông suốt toàn quân.

Quẻ này Ngoại Khôn là thuận, Nội Khảm là hiểm, thuận thì an, hiểm thì bất trắc.

Quẻ này lục tam nhu nhược lại bất trung mà đảm lấy chức Sư, chẳng những đã không nên việc mà thất bại, thua quân nên chở thây ma về, nên gọi là dư thi: xe chở thây.

Quẻ thượng lục cho thấy tiểu nhân, vật dụng, là nói lúc khai quốc thừa gia, không nên dùng tiểu nhân vì nó làm loạn.

Thủy Địa Tỷ

__ __

_____

__ __

 

__ __

__ __

__ __

Tỷ dã nghĩa là thân phụ, có ý liên lạc dây dính với nhau.

Tỷ chính là người cầm đầu trong một đám, một đoàn thể, vậy nên phải nhóm bạn tìm thầy làm việc thân tỷ với người.

Phong Thiên Tiểu Súc

_____

_____

__ __

 

_____

_____

_____

Súc dã. Súc có hai nghĩa: nuôi nhau và ngăn đón, tức súc chỉ.

Tiểu nhân nuôi quân tử, thần nuôi quân, dân nuôi quan. Còn nghĩa ngăn đón, dù có thời thế trong một lúc mà dương thì âm súc chỉ, chẳng qua tạm thời ngăn cản, chứ không thể gây ra biến lớn.

Thiên Trạch Lý

_____

_____

_____

 

__ __

_____

_____

1.- Giày đạp bằng chân.

2.- Cái giày đi đỡ dưới chân.

Cả hai nghĩa kết lại bằng Lý là Lễ. Nói rộng ra đụng phải hoạn nạn, nhưng chẳng thương hại đến mình.

Lý là lễ tất phải có trật tự.

Trong pho Dịch, bắt đầu quẻ Càn, quẻ Khôn là biết rằng có trời đất; đến quẻ Truân thời có vạn vật và loài người bắt đầu phát sinh. Vì mong mỏi mà cần phải có dạy, nên có quẻ Mông; vì có ăn uống cần phải nuôi nên có quẻ Nhu; vì ăn uống sanh ra tranh nhau nên có quẻ Tụng; vì đấu tranh, cần có quần chúng nên có quẻ Sư; vì phải có liên lạc nên có quẻ Tỷ; vì đông nhóm, cần có chốn nuôi chứa, nên có quẻ Tiểu súc; vì đã súc (nuôi được đông người), tất phải có trật tự nên có quẻ Lý.

 

 

Địa Thiên Thái

__ __

__ __

__ __

 

_____

_____

_____

Thông dã. Thỏa thích, thông thuận là tượng âm dương hòa hiệp, thiên địa tương giao.

Thiên Địa Bỉ

_____

_____

_____

 

__ __

__ __

__ __

Tắc dã, nghĩa là lắp, cùng.

Quân tử thất thế, tiểu nhân đạo trưởng, nội nhu, ngoại cương, quân tử đạo tiêu, thiên địa bất giao, quân tử kiêm đức tỵ nạn.

Thiên Hỏa Đồng Nhân

_____

_____

_____

 

_____

__ __

_____

Thân dã. Tượng quẻ: thượng hạ tương đồng, thượng hạ đồng âm thời chẳng hiểm trở nào, chẳng gian nguy nào mà không lọt được, là cảnh tượng đại đồng vui vẻ.

Hỏa Thiên Đại Hữu

_____

__ __

_____

 

_____

_____

_____

Khoan dã, đại dã. Tượng quẻ là mặt trời với lửa ở tận trên trời, tia sáng đã tột bực cao, chói lọi tột xa. Việc gì cũng tốt, thông thuận đến trời, soi đến muôn vật.

Chẳng quẻ nào tốt bằng quẻ Đại hữu, sáu hào đều tốt, hạnh phúc cực điểm.

 

Địa Sơn Khiêm

__ __

__ __

__ __

 

_____

__ __

__ __

Khiêm dã, chịu lún, chịu nhường cho người khác mà mình an ở vị khuất lún.

Lôi Địa Dự

__ __

__ __

_____

 

__ __

__ __

__ __

Duyệt dã, vui vẻ, sung sướng, hòa thuận, có nghĩa Sấm ra mặt đất, khí dương phát động.

Còn sơ lục dự mà hung.

Lục tam dự mà hối.

Cửu tứ dự mà nghi.

Ngũ lục thì mắc lấy trình, tật.

Cho nên cảnh sung sướng vui vẻ là cái cửa vào nguy hiểm.

Cho nên dự cũng có nghĩa là dự bị nữa, thời khỏi mắc họa.

Trạch Lôi Tùy

__ __

_____

_____

 

__ __

__ __

_____

Tùy tòng dã, là theo, nhiều người vui theo như thiếu nữ ưa thiếu nam mà theo nhau.

Nhưng đạo tùy có hai phương diện: mình tùy người hay người tùy mình.

Chọn minh sư mà tùy là tùy hay; mắc lấy tiểu nhân gian ác mà tùy là tùy dở.

Sơn Phong Cổ

_____

__ __

__ __

 

_____

_____

__ __

Sự dã là việc.

Tượng quẻ: gió ở dưới núi, gió đụng lấy núi mà quay trở lại, gái dưới trai, gái vì say trai mà mê hoặc là tượng Cổ loạn, đã cổ loạn thì không ngồi yên, tất phải có việc. Phàm sửa trị một việc đều xong phải nguy hiểm, trải gian nan mới trị được Cổ (Cổ là việc).

Địa Trạch Lâm

__ __

__ __

__ __

 

__ __

_____

_____ Đại dã là lớn, thịnh lớn, lân cận với.

quẻ Lâm là quẻ tháng 12, dương cương trưởng, âm càng tiêu, đã gần lúc thông thái, quân thần đông đúc, xóa đổi cuộc đời. Bảo dân vô cương. Tuy nhiên, có đâu thịnh mãi mà chẳng loạn, hễ người xử vào thời Lâm chớ nên kiêu xa, phòng tứ, chẳng như thế thời e họa loạn tới ngay trong tám tháng nữa, mà cũng có nghĩa là tháng 8 ắt có hung họa (tháng 8 tức là quẻ Quan vậy).

Phong Địa Quan

_____

_____

__ __

 

__ __

__ __

__ __ Quan dã dòm xem, xem xét.

Tượng quái hai dương trên, bốn âm dưới, âm trông vào dương, dương hiển thị cho âm, nên gọi là quan.

Trái lại nguyên quẻ có bốn âm đuổi hai dương là tượng tiểu nhân hại quân tử, đó cũng là ý phù dương, ức âm, phù quân tử, ức tiểu nhân, được biến hóa của Dịch.

Hỏa Lôi Phệ Hạp

_____

__ __

_____

 

__ __

__ __

_____ Hợp dã, khiết dã là hợp, cắn. Nghĩa là cắn để hợp lại.

Trong thiên hạ, gia đình có cha con, vợ chồng, anh em. Nước có vua tôi, quân dân. Xã hội có thầy trò, bạn hữu, tất cẩ hợp được mới thông, nhưng sở dĩ không hợp được là vì có trung gian làm gián cách, nên phải dùng thủ đoạn cắn để trừ khử trung gian mà hợp lại. Xem thể quái, thì hào sơ cửu và thượng cửu ví như hai hàm dưới và trên của miệng người ta, trung gian ba hào vạch đứt đôi là miệng trống lại bị một hào dương ở giữa cản ngang miệng, làm thành một gián cách, cho nên phải cắn mà trừ khử nét cản đó đi; cho đến việc quốc gia cũng vậy hễ trừ khử được bọn gián cách, gian tà, sàm nịnh thì được hòa bình vô sự.

 

 

Sơn Hỏa Bí

_____

__ __

__ __

 

_____

__ __

_____

Sức dã là văn sức, trang sức.

Tượng quẻ Hỏa ở dưới Sơn, là ở trong núi có lửa rọi lên hiện ra quang thái, là hỏa bí sức cho sơn.

Sơn Địa Bác

_____

__ __

__ __

 

__ __

__ __

__ __

Bác dã, là mòn hết.

Quẻ Bác là quẻ âm trưởng cực, dương tiêu cực, âm là kẻ tiểu nhân, dương là người quân tử, nên tiểu nhân đắc chí, hoành hành, quân tử không chốn hành động, chỉ ẩn núp chờ thời. Nguyên nhất âm sinh ở quẻ Cấn là tháng 5, bắt đầu nhất dương biến nhất âm.

Nhị dương biến thành quẻ Độn là quẻ tháng 6, tam dương biến thành quẻ Bỉ là quẻ tháng 7.

Tứ dương biến thành quẻ Quán là quẻ tháng 8. Ngũ dương biến thành quẻ Bác là quẻ tháng 9. Chốc nữa biến thêm một nét nữa thành quẻ Bát thuần Khôn, là quẻ vô dương.

Cho nên Bác có nghĩa là tiêu hết, rụng hết, dương tiêu rụng, âm nhu quá mạnh.

Địa Lôi Phục

__ __

__ __

__ __

 

__ __

__ __

_____

Phục dã, trở lại, hoàn phản.

Quẻ Phục cũng là đạo tiểu nhân thịnh cực, thịnh cực thời phải tiêu, đạo quân tử tiêu cực, tiêu cực thời lại trưởng, cho nên gọi là phục (trở lại), thời quân tử bây giờ có hành động ắt thuận lợi.

Thiên Lôi Vô Vọng

_____

_____

_____

 

__ __

__ __

_____

Vọng dã là làm càn.

Tượng quẻ: Càn trên, Chân dưới, hoạt động hành vi thuận theo lẽ trời, ấy là vô vọng, nếu làm vì nhân dục tức là vọng.

Sơn Thiên Đại Súc

_____

__ __

__ __

 

_____

_____

_____

Tụ dã. Chữ Súc có ba nghĩa:

1.- Nhóm chứa.

2.- Nuôi nấng.

3.- Ngăn đón.

Tượng quẻ: Cấn trên, Càn dưới là tượng trời lọt vào ở trong núi, đó là sức núi súc chỉ được trời, mà cũng là súc tụ (nhóm) vào trong núi.

Sơn Lôi Di

_____

__ __

__ __

 

__ __

__ __

_____

Dưỡng dã, nuôi. Chữ Di có hai nghĩa:

1.- Nuôi dưỡng.

2.- Toàn bộ cằm và miệng.

Tượng quẻ: trên Cấn, dưới Chấn, hình như bộ miệng mép của người, thủ tượng bằng miệng cũng thuộc về ăn uống để nuôi sống. Quẻ Di: 3 hào trên là mình cách trách nhiệm nuôi người; 3 hào dưới là nhờ người nuôi mình.

Trạch Phong Đại Quá

__ __

_____

_____

 

_____

_____

__ __

Là lớn quá. Có hai nghĩa:

Theo quẻ dương bốn hào mà âm chỉ có hai, là dương đại thời nhiều hơn âm, thế là Đại quá.

Còn có nghĩa là quá lớn như nói về đạo đức, công nghiệp lớn hơn người.

Toàn quẻ bốn dương ở giữa, hai âm ở hai đầu, dương quá cương, âm quá nhược, tượng như cái cây làm cột giữa quá lớn, cội ngọn quá bé, làm sao đứng được, tất phải cong queo. Cũng như âm nhược, dương cương, thì tiểu nhân tiêu hao, quân tử thịnh.

Bát Thuần Khảm

__ __

_____

__ __

 

__ __

_____

__ __

Hãm dã, là sụp, hiểm; vì dương hạm ở giữa hai âm, cho nên hãm; lại có nghĩa Khảm là nước, hiểm sâu không gì bằng. Người mà xử vào thời đại trùng hãm, thì hoàn cảnh rất nguy.

Bát Thuần Ly

_____

__ __

_____

 

_____

__ __

_____

Lê dã. Chữ Ly có hai nghĩa:

Ly là lệ, theo thẻ quẻ một âm ở giữa, nương dựa vào hai dương trên và dưới, nên gọi là lệ. Còn một nghĩa Ly là minh, vì giữa nét đứt đôi, cho nên trống, tượng là trung hư, hư thời sáng, lại là tượng mặt trời, là lửa thảy đều soi sáng, tức là minh.

Nguyên lai chữ Ly có nghĩa: chính và phản. Nghĩa chính Ly là dính dựa vào và Ly nghĩa là phản là lìa. Nhưng đây dùng theo nghĩa chính là dính dựa. Ví như: chim dựa vào rừng, cá dựa vào nước, đến loài người cũng thế, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn cũng đều dựa vào nhau mà tạo nên dân tộc, gọi là hữu sở lệ. Còn nói dính dựa thì có hai cách là dựa vào lối chính hay dựa vào lối tà đó thôi.

 

ẫn là việc chưa nên, chỉ chưa nên mà thôi, chứ thời đến, thì kết quả cũng nên.


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 7.456
  • 112
  • 10.630
  • 127
  • 4.582.175
  • 806.023