Thần tiên Việt Nam

64 quẻ độn toán Mai Hoa ứng nghiệm T2

 

CẤN QUÁI: 7 thuộc Thổ, gồm có 8 quái là:

Thuần Cấn – Sơn Hỏa Bí – Sơn Thiên Đại Súc – Sơn Trạch Tổn – Hỏa Trạch Khuê – Thiên Trạch Lý – Phong Trạch Trung Phu – Phong Sơn Tiệm.

Thiên Thời: Mây – Mù – Khí núi bốc lên nghi ngút.

Địa lý: Đường tắt trong núi – Gần sơn thành – Gò động – Phần mộ – Hướng Đông Bắc.

Nhân vật: Thiếu nam – Kẻ nhàn rỗi – Người ở trong núi.

Nhân sự: Trở ngại – Yên lặng – Tiến thối chẳng quyết – Phản bội – Còn ở đó – Chẳng thấy.

Thân thể: Tay, ngón tay – Xương – Sống mũi – Lưng.

Thời tự: Tháng thuộc Đông Xuân – Tháng Chạp – Năm, tháng, ngày giờ thuộc Thổ – Tháng ngày 7, 5, 10.

Động vật: Con gấu – Con chuột – Bách cầm – Vật có mỏ đen.

Tịnh vật: Đất đá – Dưa, quả – Vật sắc vàng – Vật ở trong đất.

Ốc xá: Nhà ở hướng Đông Bắc – Ở gần núi dá – Nhà ở gần đường.

Gia trạch: Yên ổn – Mọi việc trở ngại – Người nhà chẳng hòa thuận – Mùa Xuân chiêm bất yên.

Hôn nhân: Cách trở khó thành – Hoặc chậm trễ – Lợi gá hôn với thiếu nam – Mùa Xuân chiêm bất lợi – Nên gá hôn với người đối hương thôn (khác xã).

Ẩm thực: Vị vật ở trong đất – Thịt loài thú – Măng tre ở gần bờ ruộng hoặc mồ mả – Vị ăn ở đồng ruộng.

Sinh sản: Khó sanh – Có ách nạn hiễm trở – Lâm sản nên hướng Đông Bắc – Mùa Xuân chiêm bị tổn hại.

Cầu danh: Cách trở không thành danh – Nên nhậm chức về hướng Đông Bắc – Nên giữ chức ở chốn sơn thành.

Mưu vọng: Trở ngại khó thành – Tiến thối chẳng quyết.

Giao dịch: Khó thành – Giao dịch về sơn lâm điền thổ – Mùa Xuân chiêm bị tổn thất.

Cầu lợi: Cầu tài trắc trở – Nên hướng tài về chốn sơn lâm – Mùa Xuân chiêm bất lợi – Có tổn thất.

Xuất hành: Không nên đi xa – Có trở ngại – Nên đi gần bằng đường bộ.

Yết kiến: Chẳng gặp – Có trở ngại – Nên gặp người ở chốn sơn lâm.

Tật bệnh: Tật tay – Ngón tay – Tỳ vị.

Quan tụng: Quý nhân trở trệ (trắc trở) – Thưa kiện chưa giải quyết – Dính líu chẳng quyết.

Phần mộ: Huyệt hướng Dông Bắc – Mùa Xuân chiêm bất lợi – Gần ven lộ có đá.

Phương đạo: Phương Đông Bắc.

Ngũ sắc: Sắc vàng.

Tính tự (Họ, Tên): Tiếng cung (ngũ âm) – Người có tên họ đeo chữ Thổ ở một bên – Hàng vị 5, 7, 10.

Số mục: 5, 7, 10.

Ngũ vị: Vị ngọt

ĐOÀI QUÁI: 2 thuộc Kim, gồm có 8 quái là:

Thuần Đoài – Trạch Thủy Khổn – Trạch Địa Tụy – Trạch Sơn Hàm – Thủy Sơn Kiển – Địa Sơn Khiêm – Lôi Sơn Tiểu Quá – Lôi Trạch Quy Muội.

Thiên Thời: Mưa dầm – Trăng mới – Sao.

Địa lý: Đầm ao – Chỗ ngập nước – Ao khuyết (dở hư) – Giếng bỏ hoang – Chỗ núi lỡ, gò sụt – Chỗ đất nước mặn không có cây cối.

Nhân vật: Thiếu nữ – Vợ hầu – Con hát – Người tay sai – Dịch nhân (người diễn dịch) – Thầy đồng bóng (phù thủy).

Nhân sự: Vui mừng – Khẩu thiệt – Dèm pha – Phỉ báng – Ăn uống.

Thân thể: Lưỡi – Miệng – Phổi – Đờm – Nước dãi.

Thời tự: Mùa Thu, tháng 8 – Năm, tháng, ngày, giờ Dậu – Năm, tháng, ngày, giờ thuộc Kim – Tháng, ngày số 2, 4, 9.

Động vật: Dê – Vật ở trong ao, hồ, đầm.

Tịnh vật: Kim, gai bằng vàng – Loài thuộc Kim – Nhạc khí – Đồ sứt mẻ – Vật vất bỏ, phế thải.

Ốc xá: Ở về hướng Tây – Ở gần ao hồ – Nhà vách tường đổ nát. Cửa hư hỏng.

Gia trạch: Chẳng yên – Phòng khẩu thiệt – Mùa Thu chiêm đẹp đẽ – Mùa hạ chiêm gia trạch hữu họa.

Hôn nhân: Chẳng thành – Mùa Thu chiêm khá thành – Có việc mừng – Thành hôn cát – Lợi gá hôn với thiếu nữ – Mùa Hạ chiêm bất lợi.

Ẩm thực: Thịt dê – Vật ở trong ao hồ – Thức ăn cách đêm – Vị cay nồng.

Sinh sản: Bất lợi – Phòng có tổn hại – Hoặc sinh nữ – Mùa Hạ chiêm bất lợi – Lâm sản nên hướng Tây.

Cầu danh: Nan thành – Vì có danh mà có hại – Lợi nhậm chức về hướng Tây – Nên quan về việc Hình – Võ chức – Chức quan coi về việc hát xướng – Quan phiên dịch.

Mưu vọng: Nan thành – Mưu sự có tổn – Mùa Thu chiêm có sự vui – Mùa Hạ chiêm chẳng vừa lòng.

Giao dịch: Bất lợi – Phòng khẩu thiệt – Có sự cạnh tranh – Mùa Hạ chiêm bất lợi – Mùa Thu chiêm có tài có lợi trong giao dịch.

Cầu lợi: Đã không có lợi mà có tổn – Khẩu thiệt – Mùa Thu chiêm có tài lời – Mùa Hạ chiêm phá tài.

Xuất hành: Chẳng nên đi xa – Phòng khẩu thiệt – Bị tổn thất – Nên đi về hướng Tây – Mùa Thu chiêm nên đi vì có lợi.

Yết kiến: Đi hướng Tây thì gặp – Bị nguyền rủa rầm rĩ.

Tật bệnh: Tật yết hầu, khẩu thiệt – Tật suyễn nghịch khí – Ăn uống chẳng đều.

Quan tụng: Tranh tụng không ngớt – Khúc trực chưa quyết – Vì việc tụng mà tổn hại – Phòng hình sự – Mùa Thu chiêm mà được Đoài là thể thì ắt đắc thắng.

Phần mộ: Nên hướng Tây – Phòng trong huyệt có nước – Mộ gần ao hồ – Mùa Hạ chiêm chẳng nên – Chôn vào chỗ huyệt cũ bỏ hoang.

Phương đạo: Hướng Tây.

Ngũ sắc: Trắng.

Tính tự (Họ, Tên): Tiếng thương (ngũ âm) – Người có họ hay tên đeo chữ Kim hay chữ Khẩu ở một bên – Hàng vị 2, 4, 9.

Số mục: 2, 4, 9.

Ngũ vị:Cay nồng.

Chương Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên theo mọi sự việc mà suy từng loại vậy.

XEM TRONG TOÀN QUÁI MÀ CÓ QUẺ SINH THỂ

(thì tốt xấu thế nào?)

Quẻ Càn: Sinh Thể thì các việc công môn có sự vui mừng; hoặc công danh hiển đạt, hoặc làm quan có tài, hoặc việc thưa kiện thắng lý. Hoặc có lợi về kim báu, hoặc có người già tuổi tiến tiền của, hoặc có quý nhân tôn trưởng gia ân, hoặc có việc mừng về quan sự.

Quẻ Khôn: Sinh Thể chủ sự vui mừng về ruộng đất, hoặc do điền thổ mà có tài, hoặc có người ở cùng làng đem

đến sự lợi ích, hoặc có đàn bà làm lợi cho mình, hoặc có lợi về hoa quả mùa màng, hoặc có lợi về vải lụa.

Quẻ Chấn: Sinh Thể chủ lợi về sơn lâm sản, hoặc do sơn lâm mà phát tài, hoặc có sự vui mừng trong sư hoạt động, hoặc có tài về hướng Đông, hoặc buôn bán về loại mộc có lợi, hoặc có người họ, tên mang bộ thảo mộc làm lợi cho mình.

Quẻ Tốn: Sinh Thể chủ lợi về sơn lâm sản, hoặc do sơn lâm mà có tài, hoặc có tài lợi về hướng Đông Nam, hoặc nhân có người có họ, tên mang bộ thảo mộc làm lợi cho mình, hoặc lợi về quả, trà, hoặc có người biếu tặng trà, quả, rau ráng. Nói tóm lại là tất cả có lợi về loài Thảo Mộc.

Quẻ Khảm: Sinh Thể có sự vui mừng về phương Bắc đem tới, hợac có tài về hướng Bắc, hoặc có người ở gần sông

nước đem tới, hoặc buôn bán về nghề cá, muối, rượu, văn thơ giao dịch mà có lợi, hoặc có người cho rượu, cá, muối. Nói tóm lại là tất cả có lợi về loài bộ Thủy.

Quẻ Ly: Sinh thể chủ có tài về hướng Nam, hoặc có người ở hướng Nam làm tài lợi cho mình, hoặc có sự vui

mừng về văn thơ, hoặc có lợi về các xưởng đúc, các lò đúc đồ sắt, hoặc có người mang tên bộ Hỏa làm lợi cho mình. Nói tóm lại tất cả có lợi về loại thuộc Hỏa.

Quẻ Cấn: Sinh Thể chủ có tài về hướng Đông Bắc, hoặc có người ở hướng Đông Bắc đem tài lợi, hoặc có tài

về sơn lâm điền thổ, hoặc có người có họ tên mang bộ Thổ hay người mang tiếng cung(1) (tức là tiếng cung trong ngũ âm) đem tài lời cho mình, mọi sự đều yên ổn, mọi sự đều có thủy có chung.

Quẻ Đoài: Sinh Thể chủ có tài lợi về hướng Tây, hoặc do người ở hướng Tây đem tài lợi đến, hoặc có sự vui

tươi, hoặc được ăn uống, hoặc được lợi về buôn bán vàng ngọc, hoặc có người tên họ mang bộ Khẩu làm lợi cho mình, hoặc chủ khách có việc vui mừng, bè bạn kết tập mua vui, hoặc có người có tiếng thương(2) (tức là tiếng thương trong ngũ âm) làm lợi cho mình.

Ghi chú:

NHỮNG QUẺ KHẮC THỂ

(thì tốt xấu thế nào?)

Quẻ Càn: Khắc Thể, là triệu có sự lo lắng về công môn, hoặc có sự lo buồn trong gia trạch, hoặc mất của, hoặc hao tổn về ngũ cốc, hoặc oán giận cùng tôn trưởng hoặc bị tội với cấp trên.

Quẻ Khôn: Khắc Thể, chủ có sự lo lắng về điền thổ, hoặc vì điền thổ mà tổn hại, hoặc bị tiểu nhân làm hại, hoặc bị đàn bà lấn hiếp, hoặc bị mất của về vải sợi, hoặc thất chí lổ lả về ngũ cốc.

Quẻ Chấn: Khắc Thể, chủ bị sợ hãi rối loạn thường thường nơm nớp hoặc trong lòng chẳng được yên, hoặc trong gia trạch có tai biến, hoặc có người họ tên mang bộ Thảo mộc xâm lăng, hoặc bị thất thoát về sơn lâm.

Quẻ Tốn: Khắc Thể, chủ sự lo lắng, hoặc mưu sự gì về sơn lâm, mưu sự thất bại, hoặc có người tên họ mang bộ Thảo mộc làm hại, hoặc người ở Đông Nam mưu sự, kỵ giao tranh, sinh sự với đàn bà.

Quẻ Khảm: Khắc Thể, chủ có sự hiểm họa, hoặc bị cướp bóc hoặc có oán thù với người ở ven nước, hoặc bị tai

nạn sau khi rượu chè, hoặc bị hãm hại trong lúc ăn uống, hoặc cùng với người phương Bắc gây họa.

Quẻ Ly: Khắc Thể, chủ bị văn thư quấy rối, hoặc kinh sợ về hỏa hoạn, hoặc có nhiều âu lo từ phương Nam tới, hoặc có người mang tên họ bộ Hỏa gây rối loạn.

Quẻ Cấn: Khắc Thể, mọi việc liên lụy, trăm việc trở ngại, hoặc bị hao tổn về sơn lâm, hoặc có người tên

họ mang bộ Thổ gây loạn, đề phòng họa do phương Đông Bắc tới, hoặc ưu lo về mộ phần bất yên.

Quẻ Đoài: Khắc Thể, chẳng lợi về hướng Tây, chủ khẩu thiệt nhiều sự rối ren, hoặc có người mang tên họ bộ

Khẩu gây rối loạn, hoặc bị thương què gãy, hoặc do ăn uống mà sinh ưu sầu.

* Nếu không có quẻ sinh Thể hay khắc Thể thì tùy theo bản quẻ mà đoán.

CHIÊM VỀ THỜI TIẾT

Phàm chiêm về thời tiết chẳng cần phân Thể Dụng, chỉ xem toàn quái lấy ngũ hành hợp lại mà suy như: nhiều Ly thì trời tạnh; nhiều Khảm thì trời mưa; nhiều Khôn thì trời âm u. Càn chủ tạnh ráo; nhiều Chấn ở vào mùa Xuân, Hạ thì có tiếng vang; nhiều Tốn thì gió dữ; nhiều Cấn thì mưa lâu rồi sẽ tạnh; nhiều Đoài trời chẳng âm u cũng thì có mưa.

Mùa Hạ mà chiêm được nhiều quẻ Ly mà không có Khảm thì trời nắng hạn chang chang; mùa Đông mà thấy nhiều Khảm mà không có Ly thì trời vần vũ tuyết ủ ê.

Xem toàn quái nên gồm cả Hổ quái, Biến quái, còn ngũ hành là: Ly thuộc Hỏa chủ trời tạnh; Khảm thuộc Thủy chủ trời mưa; Khôn thuộc Thổ là khí đất chủ u ám; Càn là trời chủ tạnh ráo; Chấn là sấm; Tốn là gió.

Mùa thu và mùa Đông có nhiều Chấn tuy không phải thời tiết, nhưng cũng có sấm lạ thường; nếu có Tốn giúp thêm thì gió lớn làm chấn động kinh hồn. Cấn là khí của sơn vân, nên mưa lâu mà gặp Cấn thì trời tạnh. Cấn là thôi (dứt) lại có nghĩa là Thổ khắc Thủy vậy. Đoài tượng trưng cho cái hồ, cái đầm, nên nếu không mưa thì trời cũng u ám.

Ôi! Biệt luật của Tạo hóa rất khó giải; Lý số cũng phải dựa vào cái lý cho thật kỳ diệu; Càn tượng trưng cho Trời,

bốn mùa tạnh ráo; Khôn tượng trưng cho đất, là một khí tiết bi đát. Càn Khôn lưỡng đồng, tạnh mưa biến đổi; Khôn Cấn gồm đôi, nhâm tối bất thường.

Quái số có âm có dương, Tượng số(1) có chẳn có lẽ. Âm thời mưa, Dương thời tạnh, chẳn lẽ chồng chất bí ẩn (kín ngầm) huyền vi. Khôn là ngôi lão mẫu, tạnh lâu ắt phải mưa, âm khí nặng nề, mưa lâu ắt phải tạnh. Nếu gặp Trùng Khảm (hai quẻ Khảm), Trung Ly (hai quẻ Ly) khi mưa khi tạnh.

Khảm là Thủy thì phải mưa; Ly là Hỏa thì phải tạnh. Càn Đoài là Kim, về mùa Thu thì tạnh ráo; mùa Đông tuyết sa lạnh buốt; Khôn cấn thuộc Thổ, về mùa Xuân thì mưa thấm nhuần, mùa Hạ lại nắng gắt.

Dịch viết:

Vân tòng long, Phong tòng Hổ và,

Cấn vi vân, Tốn vi Phong.

Cấn Tốn trùng phùng thì gió mây giao hiệp, cát bay đá dậy khuất che mặt trời, tối tăm rừng núi, bất chấp thời tiết cả hai chẳng nài.

Khảm trên Cấn dưới (quẻ Khảm nằm trên quẻ Cấn) bủa giăng mây mù; nếu Khảm nằm trên Đoài, sương động thành tuyết; Càn Đoài là tuyết sa, mưa đá; Ly là Hỏa biểu hiệu chớp, cầu vồng; Ly là điện, Tốn là Lôi cả hai giao hợp thì sấm chớp vang rền.

Khảm là vũ, Tốn là phong bỗng nhiên tương ngộ, thì gió mưa nổi trận lôi đình; Quẻ Chần mà trùng phùng thì sấm vang

ngàn dậm; hai Khảm chồng nhau thì mưa nhuận thấm muôn trùng.

Ấy là cái nguyên nhân của quái thể trùng phùng, nay lại suy tường Hậu tượng mà quyết đoán.

Thiên Địa Thái, Thủy Thiên Nhu là tượng mưa dây dưa, hôn ám.

Thiên Địa Bỉ, Thủy Địa Tỷ là hình dáng tối tăm mịt mù. Nếu Thuần Ly (hai quẻ Ly), về mùa Hạ thì hạn hán; tứ quý đến

tạnh ráo

Thuần Khảm (hai quẻ Khảm), về mùa Đông thì rét lạnh, mưa dầm dề, khó bề tạnh ráo; gặp Cấn thì mưa dứt ngay, nắng luôn luôn trương nhựt, cơ ấy là như vậy.

Lại như Thủy Hỏa Ký Tế, Thủy Hỏa Vị tế, thì phong vân biến cố bất thần; Phong Trạch Trung Phu, Trạch Phong Đại quá,

ba tháng mùa Đông mưa sa tuyết rụng; Thủy Sơn Kiển, Sơn Thủy Mông, đi đâu phải lo sấm lấy dù; Địa phong Thăng, Phong Địa Quan, không nên đi thuyền đề phòng tai biến.

Ly nằm trên Cấn: sáng mưa chiều tạnh;

Ly Hổ thành Cấn: sáng tạnh chiều mưa. Tốn Khảm Hổ Ly tất thấy ráng, cầu vồng;

Tốn Ly Hổ Khảm cũng chung một cuộc.

Cần nên dò xét kỹ càng, không chấp nê một lý. Chấn Ly có chớp, sấm, ứng vào mùa Hạ. Càn Đoài có sương tuyết, thiết

nghiệm với mùa Đông.

Tạo Hóa chi lý, rộng vậy thay, Số Lý chi diệu, rất sâu, rất kín, hiểu thấu đạo thánh hiền xưa truyền để lại, ta đáng cung, đáng kính mà thọ báu truyền.

Ghi chú:

(1) Tượng số là hình vẽ Bát quái, có hào 2 vạch là chẳn, có hào 1 vạch là lẽ.

II.- CHIÊM NHÂN SỰ

Chiêm nhân sự cần xét Thể, Dụng. Thể quái là chủ, Dụng quái là khách.

Dụng khắc Thể chẳng nên, Thể khắc Dụng lại tốt.

Dụng sinh Thể có sự vui mừng. Thể sinh Dụng thường xảy ra tổn thất.

Thể Dụng hòa đồng (tỵ hòa) mưu sự có lợi.

Cần xét thêm Hổ quái và Biến quái để đoán cát hung, nghiên cứu thịnh suy để tường tai hại.

Chiêm về nhân sự thì dùng toàn chương Thể Dụng Tổng Quyết, để định cát hung.

Nếu có quái sinh Thể quái, nên xem chương Bát Quái ở trước Quái sinh Thể có những gì tốt, khắc Thể có những gì xấu.

Nếu không thấy có sinh Thể, khắc Thể thì lấy bổn quái mà suy.

III.- CHIÊM GIA TRẠCH

Phàm chiêm gia trạch lấy Thể làm chủ Dụng làm gia trạch.

Thể khắc Dụng thì gia trạch vững vàng.

Dụng khắc Thể thì gia trạch bất an.

Thể sinh Dụng: nhiều việc tổn hao, ly tán phòng đạo tặc.

Dụng sinh Thể được nhiều lợi ích, hoặc được của người dâng biếu.

Thể Dụng tỵ hòa: gia trạch yên ninh.

Nếu có Quái sinh Thể thì xem lại chương chiêm Nhân sự mà đoán.

IV.- CHIÊM ỐC XÁ

Chiêm vụ này phải dùng thời gian sáng tạo. Phàm chiêm ốc xá, lấy thể làm chủ, Dụng làm ốc xá.

Thể khắc Dụng: chỗ ở vừa ý.

Dụng khắc Thể: thì gia trạch bất ân.

Thể sinh Dụng: chủ tư tài suy thối.

Dụng sinh Thể: gia môn hưng thịnh.

Thể Dụng tỵ hòa: tự nhiên yên ổn.

V.- CHIÊM HÔN NHÂN

Xem hôn nhân lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự hôn nhân.

Dụng sinh Thể: việc hôn nhân thành, hoặc nhân sự hôn nhân có lợi.

Thế sinh Dụng: việc hôn nhân không thành, hoặc vì hôn nhân mà có hại.

Thể khắc Dụng: hôn nhân thành nhưng phải chậm trễ.

Dụng khắc Thể: bất thành, nếu thành cũng có hại.

Thể Dụng tỵ hòa rất tốt.

Phàm xem hôn nhân lấy Thể làm mình, làm chủ, mà Dụng tượng trưng cho nhà thông gia.

Thể quái mà vượng thì nhà mình được gia môn ưu thắng.

Dụng quái mà vượng nhà thông gia có địa vị thuận lợi.

Dụng sinh Thể có tài lợi về sự hôn nhân, hoặc nhà thông gia chiều chuộngtheo ý ta.

Thể sinh Dụng thì không hộp bỏ quả hoặc mình phải thối sự cầu hôn.

Nếu Thể Dụng tỵ hòa: hai bên tương tụ, lương phối nhàn du.

Càn thì đoan chính mà giỏi, mạnh bạo.

Khảm là dâm, háo sắc, hay ghen quá độ.

Cấn sắc hoàng, đa xảo (khéo giỏi).

Chấn dáng mặt đẹp mà rắn rỏi.

Tốn tóc ít mà thưa hình xấu, tâm tham.

Ly đoản, xích sắc, tính khí bất thường, thấp lùn.

Khôn thì xấu bụng to mà vàng.

Đoài cao và giỏi, nói năng vui vẻ, sắc trắng.

VI.- CHIÊM SINH SẢN

Chiêm sinh sản lấy Thể là mẹ, Dụng là sự sinh.

Thể Dụng cả hai nên thừa vượng, chẳng nên thừa suy, nên tương sinh, không nên tương khắc.

Thể khắc Dụng không lợi cho con.

Dụng khắc Thể chẳng lợi cho mẹ.

Thể khắc Dụng mà Dụng quái lại suy, chắc con chẳng toàn.

Dụng khắc Thể mà Thể quái lại suy, ắt nguy cho mẹ.

Dụng sinh Thể thì lợi cho mẹ. Thể sinh Dụng thì mẹ dễ sinh.

Thể Dụng tỵ hòa thì mẹ tròn con vuông.

Nếu muốn biết sinh nam hay nữ, nên dùng Bát quái trước đây mà suy. Dương quái mà dương hào nhiều hơn: sinh nam; Âm

quái mà âm hào nhiều hơn: sinh nữ.

Âm Dương quái hào tương đồng thì xem số người có mặt lúc chiêm, số chẳn lẽ, đó là lý ngẫu nhiên chứng nghiệm.

Như muốn biết ứng kỳ ngày giờ, thì lấy Khí quái số của quẻ Dụng là quẻ gì, rồi tra nơi mục Thời tự của Bát Quái Vạn Vật trước đây mà đoán.

VII.- CHIÊM ẨM THỰC

Phàm chiêm ăn uống lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự ăn uống.

Dụng sinh Thể, ăn uống no say.

Thể sinh Dụng bụng không, trống rỗng.

Thể khắc Dụng tuy có ăn mà gặp sự đình trệ.

Dụng khắc Thể thì thật toàn vô.

Thể Dụng tỳ hòa, ăn uống phong túc.

Trong quái có Khảm thì nhiều rượu, có Đoài thì nhiều mỹ vị; không Khảm không Đoài cả hai đều không.

Đoài Khảm sinh Thể, rượu thịt ê hề, say sưa lướt thướt.

Muốn biết ăn uống thức gì, dùng mục ẩm thực mà suy.

Muốn biết ai là thực khách, dùng Hổ quái mục nhân sự mà luận. Cả hai đều có mục riêng ở Bát quái Vạn vật thuộc loại

ở phần I.

VIII.- CHIÊM CẦU MƯU

Cầu mưu lấy Thể làm chủ. Dụng làm mưu sự.

Thể khắc Dụng, mưu tất thành nhưng chậm.

Dụng khắc Thể, mưu bất thành nếu thành cũng có hại.

Dụng sinh Thể, mưu sự thành đạt mà có lợi.

Thể sinh Dụng, mưu sự khó thành chẳng được vừa ý.

Thể Dụng tỵ hòa, mưu sự xứng tâm.

IX.- CHIÊM CẦU DANH

Cầu danh lấy Thể làm chủ, Dụng làm danh.

Thể khắc Dụng, danh khả thành nhưng phải chậm.

Dụng khắc Thể danh bất khả thành.

Thể sinh Dụng, danh bất khả tựu, hoặc nhân danh mà thất chí.

Dụng sinh Thể, công danh thành toại hoặc nhân danh mà có lợi.

Thể Dụng tỵ hòa, công danh xứng ý.

Muốn biết ngày nào thành danh dùng Khí quái của quẻ sinh Thể mà suy.

Muốn biết chức nhiệm phương sở dùng Biến-quái mà quyết đoán.

Nếu không có quẻ khắc Thể, thì danh dễ thành, muốn biết nhạt kỳ, thì xem nơi mục Thời tự mà định ngày giờ.

Bằng như kẻ chiêm quẻ còn tại chức,tối kỵ nhất thấy quẻ khắc Thể, thấy nó tức là thấy họa, nhẹ thì bị khiển trách, nặng thì phải cách chức thôi quan, mà nhật kỳ cũng ứng vào Khí quái khắc Thể, ở mục Bát quái Vạn Vật ở phần I, mục Thời tự mà suy.

X.- CHIÊM CẦU TÀI

Xem cầu tài lấy Thể làm chủ, Dụng làm tài.

Thể khắc Dụng có tài, Dụng khắc Thể vô tài.

Thể sinh Dụng ắt tài hao tổn,

Dụng sinh Thể, tài càng phát đạt.

Thể Dụng tỵ hòa, tài lợi khoái tâm.

Muốn biết ngày có tài, dùng khí quái của quẻ sinh Thể mà suy.

Muốn biết ngày phá tài, lấy khí quái của quẻ khắc Thể mà đoán.

Nếu trong chính quái, thấy có quẻ Thể khắc Dụng, hoặc có quẻ Dụng sinh Thể, tất là có tài, xem khí quái của chính quái, thì biết ngay nhật kỳ.

Trái lại, nếu thấy Dụng khắc Thể, hay Thể sinh Dụng, ấy là quẻ phá tài, xem khí quái, biết ngay thời kỳ phá sản.

XI.- CHIÊM GIAO DỊCH

Xem giao dịch lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự giao dịch

Thể khắc Dụng, giao dịch thành mà chậm.

Dụng khắc Thể bất thành.

Thể sinh Dụng nan thành, hoặc nhân sự giao dịch mà hóa ra có hại.

Dụng sinh Thể tất thành, thành mà có lợi lớn.

Thể Dụng tỵ hòa giao dịch thành toại.

CHIÊM XUẤT HÀNH

Xem quẻ xuất hành, lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự xuất hành.

Thể khắc Dụng, xuất hành tốt được nhiều lợi lớn.

Dụng khắc Thể, đi ắt có họa.

Thể sinh Dụng ra đi ắt phá tài.

Dụng sinh Thể, ngoại tài vô lượng.

Thể Dụng tỵ hòa xuất hành tiện lợi.

Phàm xuất hành Thể nên thừa vượng và chư quái cần phải sinh Thể mới tốt.

Quái Thể mà Chấn Càn thì chủ đa động,

Khôn Cấn chủ bất động.

Tốn nên đi bằng thuyền,

Ly nên đi bộ hành,

Khảm phòng thất thoát,

Đoài chủ phân tranh (lộn xộn, khẩu thiệt)

XIII.- CHIÊM HÀNH NHÂN

Chiêm hành nhân lấy Thể làm chủ, Dụng làm hành nhân.

Thể khắc Dụng, hành nhân về mà trễ.

Dụng khắc Thể, hành nhân không về.

Thể sinh Dụng, hành nhân chưa về.

Dụng sinh Thể, hành nhân sẽ tới.

Thể Dụng tỵ hòa, ngày về sắp tới.

Lại xem quẻ Dụng mà vượng lại phùng sinh thì hành nhân ở ngoài rất phong túc. Nếu phùng suy mà lại gặp khắc, ắt tại ngoại thọ tai.

Quẻ Chấn phần nhiều chẳng được an ninh,

Cấn thì bị trở ngại,

Khảm gặp nhiều hiểm họa,

Đoài thì càng lộn xộn phân tranh.

XVI.- CHIÊM YẾT KIẾN

Chiêm yết kiến lấy Thể làm chủ chính mình, Dụng làm người mình muốn gặp.

Thể khắc Dụng hì gặp;

Dụng khắc Thể không gặp.

Thể sinh Dụng, có gặp cũng khó khăn lắm mà có gặp chăng thì cũng chẳng có lợi gì.

Dụng sinh Thể đối diện tương phùng, hòa đàm tương đắc.

Thể Dụng tỵ hòa, hoan nhiên tương kiến.

XV.- CHIÊM THẤT VẬT

Xem thất vật lấy Thể làm chủ, Dụng làm thất vật.

Thể khắc Dụng, tìm được nhưng phải chậm.

Dụng khắc Thể, tìm không được.

Thể sinh Dụng, rất khó tìm.

Dụng sinh Thể, tìm ngay được thấy.

Thể Dụng tỵ hòa, của không mất.

Lại xem Biến quái cho biết phương hướng nào:

– Biến quái là Càn thì tìm ngay phương Tây Bắc, hoặc trên lầu gác các công sở hoặc dấu ở bên kim thạch, hoặc dấu trong vật hình tròn, hoặc chỗ trên cao khỏi mặt đất.

– Biến quái là Khôn tìm hướng Đông Nam, gần ruộng vườn hoặc ở kho vựa hoặc chỗ gặt hái, hoặc chôn trong hang dưới đất hoặc trong đống gạch ngói hoặc trong đồ hình vuông.

– Biến quái là Chấn tìm về hướng Đông, gần chỗ sơn lâm, hoặc dấu trong bụi gai góc, hoặc gần chỗ trống chiêng, hoặc ở trong chiêng trống, hoặc ở chỗ ồn ào hoặc gần đường cái.

– Biến quái là Tốn tìm phương Đông Nam, hoặc gần chỗ sơn lâm, hoặc gần chùa chiền, hoặc tại vườn rau hoặc trong xe thuyền, hoặc dấu trong đồ bằng mộc.

– Biến quái là Khảm tìm phương Bắc, dấu gần ven nước hoặc gần kinh ngòi, mương rảnh, giếng ao hoặc gần chỗ để rượu, dấm hoặc ở chỗ có cá muối.

– Biến quái là Ly tìm phương Nam, gần lò bếp, hoặc ở gần cửa sổ, hoặc dấu ở nhà trống, hoặc gần chỗ văn thư hoặc ở chỗ có khói lửa.

– Biến quái là Cấn tìm phương Đông Bắc, gần chỗ sơn lâm, hoặc gần mé đường, hoặc chỗ đá sỏi hoặc dấu trong hang đá.

– Biến quái là Đoài tìm phương Tây, hoặc gần bờ ao giếng, hoặc trong đống vách tường đổ vở, hoặc trong nền hoang đổ nát, hoặc trong ao giếng bỏ hoang.

VIII.- CHIÊM TẬT BỆNH

Chiêm bệnh thì lấy Thể làm bệnh nhân, Dụng làm bệnh chứng.

Thể quái nên vượng chẳng nên suy, Thể nên phùng sinh không nên thấy khắc.

Dụng sinh Thể chớ nên khắc Thể,

Thể sinh Dụng bệnh dễ lành.

Dụng sinh Thể bệnh khó khỏi.

Thể khắc Dụng không thuốc cũng lành.

Dụng khắc Thể tốn thuốc vô công.

Nếu Thể phùng khắc nhưng được vượng khí thì cũng còn hy vọng.

Thể ngộ khắc mà lại gặp suy, đoán chẳng được bao nhiêu ngày nữa.

Muốn biết có thể cứu được trong cơn hung thì xem có quẻ nào sinh Thể chăng.

Thể sinh Dụng, bịnh dây dưa liên sàng,

Dụng sinh Thể bịnh càng chóng khỏi.

Thể Dụng tỵ hòa ắt bịnh chẳng phải lo.

Muốn xem bịnh ngày nào khỏi hẳn, xét ở quẻ sinh Thể mà suy, muốn rõ thời kỳ lâm nguy, xét quẻ khắc Thể mà định.

Muốn biết bịnh cho uống thuốc gì, xét quẻ sinh Thể mà xử dụng như:

– Ly quái sinh Thể nên uống thuốc sắc chín.

– Khảm quái sinh Thể nên uống thuốc lạnh.

– Cấn thì ôn bổ, Càn Đoài thì dùng lương dược (thuốc mát).

Nếu có thuyết tin quỷ thần tuy không phải là đạo của Dịch, nhưng cũng không nói rằng Dịch đạo chẳng lưu tâm, hãy lấy lý mà suy, như có quái khắc Thể, tức biết được bịnh phạn quỷ thần.

– Càn quái khắc Thể, chủ Tây Bắc phương chi thần, hoặc binh đao chi quỷ, hoặc thiên thời hành khí, hoặc xung

chính chi tà thần.

– Khôn thuộc Tây Nam chi thần, hoặc khóang dạ (ruộng đồng) chi quỷ, hoặc liên thân chi quỷ (quỷ ở cạnh nhà),

hoặc phạm Thổ Thủy thần trong làng, hoặc phạm quỷ đạo lộ, hoặc phạm vô chủ chi quỷ.

– Chấn thuộc Đông phương hoặc Mộc hạ chi thần, hoặc yêu quái, hoặc bị ảnh hưởng chi thời.

– Tốn là quỷ Đông Nam, hoặc quỷ tự ải tự sát hoặc quỷ già tỏa trí mạng (bị xiềng xích mà chết, thắt cổ treo cây v.v…)

– Khảm là quỷ phương Bắc, hoặc Thủy thần, hoặc trầm mịch chi vong, hoặc quyết bịnh chi quỷ.

– Ly thì quỷ Nam phương, hoặc Dũng mạnh chi thần, hoặc phạm Táo tự, hoặc đắc tội Tổ tiên, hoặc bị Phần thiêu

chi quỷ, hoặc bị quỷ đau sót mạng vong.

– Cấn là bị thần phương Đông Bắc, hoặc bị sơn lâm chi thần, hoặc bị sơn tiêu (yêu quái hiện người), mộc khách hoặc Thổ quái thạch tinh.

– Đoài thì phạm Tây Nam hoặc Trận vong chi quỷ hoặc Phế tật chi quỷ hoặc Vẩn kỉnh tường sinh (thắt cổ tự sát, xiềng xích mà chết) chi quỷ.

Trong Bản quái không có quẻ khắc Thể thì chớ nên bàn đến.

Lại có người hỏi: Chiêm bịnh mà gặp quẻ Càn Khôn, tức là quẻ Thiên Địa Bí thì đoán như thế nào?

Nhiêu Phu dạy rằng:

1.- Càn thượng Khôn hạ, mà sơ hào động, ấy gọi quái sinh Thể, Biến thì thành Chấn thuộc Mộc, Hổ thì thấy Tốn Cấn đều là sinh Thể chi nghĩa, vậy chẳng nên lo gì, gặp ngày tương sinh thì bịnh khỏi hẳn.

CHIÊM PHẦN MỘ

Lấy Thể làm chủ, lấy Dụng làm phần mộ.

Thể khắc Dụng, sự an táng rất tốt.

Dụng khắc Thể, chỗ chôn thấy xấu.

Thể sinh Dụng, chỗ chôn ấy chủ thối bại.

Dụng sinh Thể, chủ hưng vượng, có âm phước hậu tự.

Thể Dụng tỵ hòa, là chôn đất tốt, chôn chỗ ấy rất cát xương.


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 5.603
  • 275
  • 8.765
  • 282
  • 3.628.318
  • 774.562