Thần tiên Việt Nam

Quán Nghinh Bắc Đẩu Thất Tinh nơi sinh Danh thần Đăng Huân Thạch Am tiên sinh 越南道教- 道教神仙 – Thần Tiên Việt Nam

Quán Nghinh Bắc Đẩu Thất Tinh nơi sinh Danh Thần Đăng Huân Thạch Am tiên sinh 阮登勳

 Bài thi(明命; 1820-1841)  Đệ nhất danh (Hoàng giáp)

 1293940467939459169pp.jpg

Danh thần Nguyễn Đăng Huân (阮登勳) đời Minh Mạng (明命; 1820-1841) có tên huý là Hưng, tự Đăng Huân, hiệu Thạch Am tiên sinh, quê xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, sau đổi thuộc xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội). Ông vốn là hậu duệ họ Mạc, với các danh nhân Mạc Hiển Tích, Mạc Đĩnh Chi, Mạc Đăng Dung, …

Nguyễn Đăng Huân là người xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay là thôn Hương Ngải, xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội).

Năm Minh Mạng thứ 9 (Mậu Tý, 1828), ông thi đỗ Cử nhân. Năm sau (1829, Kỷ Sửu), ông thi đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Đệ nhất danh (Hoàng giáp) lúc 26 tuổi.

Ban đầu, ông được bổ chức Tri phủ Điện Bàn (Bình Định). Được vài năm vì cha mất, ông phải xin về chịu tang. Sau đó, ông được cử làm Lang trung bộ Lễ, từng được theo vua Minh Mạng đi tuần.

Bài đối sách của ông trong kỳ thi Đình đã được chép trong Lịch khoa Hội Đình văn tuyển (Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu: A.1759/2).

Nguyễn Đăng Huân kết bạn với Cao Bá Quát (1808-1854), Tiến sỹ Hà Tôn Quyền (1798-1839), Tiến sỹ Vũ Tông Phan (1800-1851), Phó bảng thứ 9 Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), Phó bảng thứ 2 Dương Đăng Dụng (1804-18?), Phó bảng thứ 6 Diệp Xuân Huyên (1808-1847), …. Trong đó Phó bảng Diệp Xuân Huyên tự là Di Xuân hay Cổ hiên Diệp Huyên viết bài Nguyễn Đình nguyên bi ký để ghi lại sự tích, công trạng của Đình nguyên tiến sỹ Nguyễn Đăng Huân. Hiện nay, tấm bia này vẫn còn, thuộc địa phận Bia gai, xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, Hà Nội.

Ông sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống Nho học. Thuở còn nhỏ được cha mẹ nuôi cho ăn học, được cha là ông Hoè Hiên dạy học chữ nho. Ông tham gia thi Hương, thi Hội đều trúng Á nguyên. Năm Mậu Tý (1828) đỗ cử nhân. Năm Kỷ Sửu (1829), lúc 25 tuổi ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ – đệ nhất tiến sĩ xuất thân, vì khoa thi không lấy Tam khôi đệ nhất giáp nên ông tuy đỗ đầu khoa thi nhưng chỉ đứng đầu đệ nhị giáp và gọi là Hoàng giáp tiến sỹ. Đến ngày 3-8 năm Kỷ Sửu (1829), Nguyễn Đăng Huân được dự yến tiệc của triều đình, được thăm vườn thượng uyển, được ban mũ áo, vinh quy bái tổ. Thời gian này ông được tặng nhiều văn chương và câu đối chúc mừng.

Sơ bổ Tri phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trên hoạn lộ ông nổi tiếng thanh liêm, được lòng dân nên được thăng làm Lang trung chỉ trong một thời gian ngắn. Ông đã soạn thảo chính Hương ước của làng vẫn còn tồn tại cho đến trước năm 1954. Ông cũng là người đã soạn bài Minh cho chuông chùa Thượng Phúc khi chuông được đúc lần đầu. Hiện nay chuông này còn lưu giữ trong chùa Thượng Phúc thuộc thôn 1 xã Hương Ngải.

Năm Mậu Tuất (1838) ông mất,. Cảnh nhà thanh bạch, nhà vua truy ban thưởng và truyền quan địa phương chăm sóc cha mẹ ông, nhân dân phủ Điện Bàn cũng ghi tên ông vào văn từ hàng phủ, cúng tế theo các bậc tiên hiền.

Năm Thiệu Trị thứ 6, ngày 9-11-1846, vua lập bia công đức Hoàng giáp tại Bia gai xã Hương Ngải và hiện nay trong cố đô Huế vẫn còn Bia tiến sỹ ghi danh ông Hoàng đỗ Đình nguyên tại khu Văn Thánh.

Giai thoại:

Năm ông lên 8 tuổi, còn đang ở nhà ông ứng đối rất giỏi. Một hôm có vị quan họ Bùi ở Thịnh Liệt đến chơi với cha, thấy ông thông minh đĩnh đạc, vị quan họ Bùi liền ra cho ông một vế câu đối:

Nguyên văn:

二人居同鄉,何地不生 才,何才不司世。

Phiên âm:

Nhị nhân cư đồng hương, hà địa bất sinh tài, hà tài bất tư thế.

Nghĩa là:

Hai người ở cùng một làng, đất nào chẳng sinh người tài, người tài nào mà chẳng giúp đời.

Nguyễn Đăng Huân đã ứng khẩu đối lại:

Nguyên văn:

一舉登科第,似鄉以及會,似會以至庭。

Phiên âm:

Nhất cử đăng khoa đệ, tự hương dĩ cập hội, tự hội dĩ chí đình.

Nghĩa là:

Nhất loạt thi đều đỗ, từ thi hương rồi thi hội, từ thi hội đến thi đình.

Vị quan họ Bùi khen ngợi cụ là “có khẩu khí”… “Có khí phách” lúc thiếu thời … thơ “Ngư trạc vũ môn”…

Với tài năng, sự ham học và có khẩu phách từ thuở nhỏ. Quả nhiên sau đó ông Đăng Huân đã thi đậu đình nguyên hoàng giáp tiến sỹ. Hiện nay cổng của gia đình còn có dòng chữ “Đệ nhất bộ”.

Năm ông 14 tuổi được vào học trường dòng, ông đã học rất chăm chỉ miệt mài văn học; ông nổi tiếng không những ở huyện, ở phủ mà còn trong tỉnh. Các kỳ tập văn của ông đều được phê hạng bình và ưu. Có lần ông đi ăn giỗ nhà ông ngoại, cậu của ông ra câu đối trêu rằng:

Thịt mỡ dưa hành đi miếng một.

Ông liền ứng khẩu đối lại:

Lọng vàng quân kiệu kéo hàng đôi.

Điều này đã thể hiện rõ khí phách lớn lao của ông ngay từ thuở thiếu thời.

Khi ra làm quan, ông cũng không bao giờ làm phiền nhiễu dân, rất mực thanh liêm nên được nhân dân trong phủ tin yêu, các đồng liêu kính nể. Tiếp nữa ông còn được vua mời vào cung giữ chức Hàn Lâm tu soạn, rồi Hàn Lâm thị giảng. Ông thường được theo nhà vua ngự giá thăm viếng nhiều nơi, có lần theo nhà vua thăm phủ Điện Bàn (nơi ông làm tri phủ trước đây), nhân dân trong phủ đua nhau bái yết, lúc ra về rất nhiều người đem tặng phẩm kính biếu ông, nhưng ông thảy đều từ chối không chịu nhận, quan phủ và dân trong vùng đã lưu luyến đi theo tiễn ông qua địa phận mình ở mới quay trở lại.

Qua 8 năm làm quan, ở đâu ông Nguyễn Đăng Huân cũng nổi tiếng là con người hết mực thanh liêm, mặc dù gia đình ông ở quê vẫn rất nghèo… Ông bị bệnh Và quy tiên

ngày 12-10 năm Đinh Dậu (1837) tại Bộ Lễ ở triều đình Huế đương triều vua Minh Mạng thứ 18. Sau khi ông mất, Ban lễ tang của triều đình thử cho mở túi, hòm riêng của ông, song chẳng thấy có bất cứ một đồng tiền hay một hiện vật giá trị nào, mà chỉ vẻn vẹn có một bộ triều phục khi đi chầu mới mặc. Do vậy, lúc khâm liệm thi hài ông, được vua ban một bộ quần áo mùa đông mới. Vua còn ban thưởng 100 quan tiền cho việc chi thu, thưởng riêng 100 quan tiền cho vợ con ông và 100 quan cho bà mẹ của ông; lệnh cho các quan địa phương khi linh cữu của ông Nguyễn Đăng Huân đi qua nơi nào thì nơi ấy đều phải nghinh tiếp bàn giao chu đáo để linh cữu của ông được về tới nơi an táng tại bản quán an toàn, trịnh trọng.

Có lẽ vì chuyện này mà mãi tới nay ở làng Ngái tên cổ của xã Hương Ngãi ngày nay vẫn còn truyền tụng chuyện: “Một vị Hoàng Giáp Tiến sĩ, 2 lần được rước vinh quy!”

  KHOA THI TIẾN SĨ NĂM MINH MỆNH THỨ MƯỜI (1829)

ĐÌNH NGUYÊN HOÀNG GIÁP NGUYỄN ĐĂNG HUÂN

Nguyễn Đăng Huân (1805-1838), tên tự là Hy Khiêm, người xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, nay là thôn Hương Ngải, xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

* Bài đối sách của Nguyễn Đăng Huân được phiên âm, dịch nghĩa từ văn bản chữ Hán trong Lịch khoa Hội Đình văn tuyển, ký hiệu A.1759/2 (Thư viện Viện nghiên cứu Hám Nôm). Bản chữ Hán được in kèm theo.

 

 

(Bài thi và lời hồi đáp bất hủ)

 

Bài thi như sau:

Hoàng đế ban Chế sách rằng:

Hữu vi là gốc để đạt đến vô vi, vô vi là để thu hiệu quả hữu vi. Xét đời thượng cổ, thuận việc để trị. Nghiêu, Thuấn bắt đầu có đạo trị, công tích rõ rệt, có thể làm phép thường. Không có gì khác, chỉ là trời đất dần dần mở, thánh nhân theo lời chế tác. Phu tử san định Kinh Thư, bắt đầu từ Đường, Ngu là vốn có cớ vậy. 1 Người bàn lại nói rằng “vô vi mà trị”, thực có biết được khí tượng đương thời không? Thánh nhân trị thiên hạ, có chế độ ruộng đất, có thiết lập trường học, có lễ để tiết chế, có nhạc để hài hòa, cái đó gọi là “không thể hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành” 2, quả có chung cái dụng với trời đất không? có viết rằng: “Tâm vô vi vậy” 3. Kinh dịch có viết rằng: “Vô tư vô vi” 4. Nếu vậy thì cái học của thánh hiền chỉ lấy vô vi làm tông chỉ sao? Việc chia ruộng, ban lộc, triều sính, tuần thú, dùng quan, chọn tài, pháp độ giảng bàn quy hoạch. Lưới, c