Thần tiên Việt Nam

Đạo Giáo Đạo Đức Kinh Khai Linh P3 道德經 越南道教

道德經 越南道教 

 

ĐẠO ĐỨC KHAI LINH
LẬP THÂN

 

01300000027077120031023107233.jpg

 


 

71. Không ham muốn để yên tĩnh,

do đó thiên hạ sẽ tự ổn định.

72. Động thắng lạnh, tĩnh thắng nóng.

Thanh tĩnh vô vi là chuẩn tắc của thiên hạ.

73. Ngươi hãy tập trung tâm trí, loại trừ tạp niệm.

Đừng nghe bằng tai, mà phải nghe bằng tâm.

Sau đó chớ nghe bằng tâm, mà phải nghe bằng khí. Tai không nghe âm thanh bên ngoài.

Tâm không tưởng đến sự vật bên ngoài.

Khí vốn hư không, nên lấy nó mà tiếp đãi sự vật. Chỉ có Đạo tập trung trong hư không.

Hư không là tâm trai (chay lòng).

74. Sự tĩnh lặng của thánh nhân không phải do quan niệm tĩnh lặng là tốt mà do vạn vật không quấy nhiễu nổi tâm của họ.

Mặt nước tĩnh lặng soi rõ được râu và chân mày con người.

Sự tĩnh lặng của mặt nước trở thành tiêu chuẩn cho người thợ làm việc.

Nước tĩnh lặng còn soi sáng được huống hồ tinh thần.

Tâm của thánh nhân tĩnh lặng thì thế nào?

Đó là tấm gương soi của trời đất và của vạn vật. Nói chung, sự hư tĩnh, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là sự bình lặng của trời đất và là sự tối cao của đạo đức.

Cho nên đế vương và thánh nhân yên tĩnh, yên tĩnh thì hư, hư thì thực, thực là đạo lý tự nhiên.

Hư thì tĩnh, tĩnh thì động, động thì được.

Tĩnh thì vô vi, vô vi thì người nhận trách nhiệm sẽ có trách nhiệm.

75. Thường xuyên trừ bỏ dục vọng thì tâm tự yên tĩnh,

làm cho tâm tĩnh lặng thì thần tự trong trẻo.

76. Đạo có trong có đục, có động có tĩnh.

Trời trong đất đục, trời động đất tĩnh.

Nam trong nữ đục, nam động nữ tĩnh.

Đạo giáng xuống, và âm dương giao nhau sinh thành vạn vật.

Trong là nguồn của đục, đục là cơ sở của trong.

Ta thường thanh tĩnh thì vạn vật đều trở về trong ta.

77. Không tạp niệm mà trong trẻo,

giữ lấy thần mà ninh tĩnh.

Thiên hạ sẽ tự trở nên công chính.

78. Bậc có đạo, tuy động mà lại tĩnh,

tuy rong ruổi mà khống chế được, tuy giữ an định mà vẫn ứng phó được,

tuy không có gì mà vẫn cung ứng được yêu cầu của ngoại giới.

Cho nên hễ ta yên tĩnh thì từ từ thanh trong, ngoại vật không thể làm cho ta đục.

Hễ ta động thì từ từ phát sinh, nhưng ngoại vật không thể làm ta an định.

Dịch Kinh nói:

“Người đến từ từ, đi đứng an nhiên mà tự thích ứng.”

Sự dụng tâm của bậc chí nhân,

Không phải tĩnh vì cho rằng tĩnh là tốt,

Không phải động vì cho rằng sinh xuất là có công, mà chỉ là Vận dụng cái bản tính tự nhiên để đối đãi động và tĩnh,

Tự bản thân không bị tình cảm lôi kéo vì lợi hay hại, và cũng không phải lao nhọc gấp gáp.

Do đó mới nói là từ từ.

Họ an tĩnh rồi từ từ thanh trong, vạn vật không quấy nhiễu nổi tâm họ,

Cho nên ai mà làm đục họ cho được?

Họ động rồi từ từ phát sinh, vạn vật không khiến cho họ âu lo được, cho nên ai mà làm cho họ an định được?

An định là ngụ ý dừng lại, vì vạn vật làm cho hệ lụy nên mới dừng lại.

Lẽ nào đối ứng ngoại vật lại không bị tổn thương?

79. Không có gì quý bằng hư, không có gì tốt bằng tĩnh.

Hư tĩnh là căn bản của vạn vật.

Hư nên đủ để tiếp nhận mọi cái có thực,

tĩnh nên đủ để ứng phó với mọi cái động.

Cái gọi là cực chính là chỗ tột cùng mà mọi thứ bất đồng hội tụ.

Cái gọi là đốc chính là chỗ tột cùng mà mọi thứ cố gắng truy cầu.

Chí hư thì phải đến chỗ tột cùng,

giữ an tĩnh thì cũng phải đến chỗ tột cùng,

thế thì muôn hiện tượng dù phức tạp nhưng tâm ta vẫn thấu triệt,

Muôn sự biến đổi dù khác nhau nhưng tâm ta vẫn tĩnh lặng.

Đó gọi là niềm vui của trời, không phải là người đắc đạo thì không thể có được niềm vui này.

80. Đạo lấy vô tâm làm thể,

Lấy vong ngôn (quên lời) làm dụng, lấy mềm yếu làm gốc, lấy thanh tĩnh làm cơ sở.

Hãy tiết chế ăn uống, dứt tư lự,

khi tĩnh tọa phải đều hòa hơi thở, ngủ yên để dưỡng nguyên khí, tâm không chạy rong thì tính an định, hình thể không lao nhọc thì tinh giữ vẹn, thần không ưu lự thì kim đan sẽ kết thành,

Sau đó diệt dục đến chỗ hư không, tinh thần sẽ rất an tĩnh.

Tuy không ra khỏi cửa mà vẫn đắc đạo kỳ diệu.

81. Chân là sự tinh thành rất mực.

Không tinh thành thì không cảm động được người khác.

Cho nên hễ khóc vờ thì bi thảm mà không đau buồn, hễ giận vờ thì nghiêm mà không có uy, hễ thân thiết vờ thì tươi cười mà không hoà đồng.

Sự chân thực là ở trong tâm, tinh thần động mà phát ra ngoài, cho nên sự chân thực là quý.

Vận dụng nó vào đạo lý con người thì thờ cha mẹ phải kính hiếu, thờ vua phải trung trinh, uống rượu phải vui, có tang phải đau buồn.

Trung trinh lấy công trạng làm đầu, uống rượu lấy vui vẻ làm đầu, thờ cha mẹ lấy tùy thuận làm đầu. Sự tốt đẹp của thành công không chỉ có một đường lối, thờ cha mẹ phải tùy thuận,

bất kể phải làm gì, uống rượu phải vui,

không kén ấm chọn tách, có tang phải đau buồn,

không quan tâm nghi lễ.

Nghi lễ là hành vi thế tục.

Chân thực là nhận lãnh từ trời, nó tự nhiên mà không thể thay đổi.

Cho nên thánh nhân noi theo trời mà quý sự chân thực, không câu nệ tục lệ.

Kẻ ngu thì ngược lại, họ không noi theo trời, mà chỉ lo không hợp với người đời.

Họ không biết quý sự chân thực.

Cứ thay đổi một cách tầm thường cho hợp với đời, cho nên họ không có giá trị.

82. Trâu hoặc ngựa có bốn chân,

Đó là tự nhiên, cột dây vào đầu ngựa và xỏ dây vào mũi trâu, đó là nhân tạo.

Cho nên mới nói:

đừng lấy cái nhân tạo mà tiêu diệt sự tự nhiên, đừng vì sự việc mà tiêu diệt cái đã định,

đừng vì muốn có danh mà chết vì danh.

Giữ kỹ chớ quên ba điều ấy chính là quay về chân tính của mình.

83. Đạo bị che lấp nơi đâu, khiến có chân và ngụy? Lời bị che lấp nơi đâu, khiến có thị và phi?

Đạo đi đâu khiến nó không còn nữa?

Lời ở đâu khiến nó không sao hiểu được?

Đạo bị sự vụn vặt che lấp.

Lời bị sự hoa mỹ sáo rỗng che lấp.

Nê Hoàn – Nhâm – Đốc

1. Nê Hoàn

Nê Hoàn hay Nê Hoàn Cung là Thượng Đơn Điền. Huyệt của nó là Bá Hội, ở giữa đỉnh đầu.

Vận Chu Thiên Hỏa Hầu từ Đốc Mạch lên đến Nê Hoàn.

Sau lại từ Nê Hoàn đưa xuống qua mạch Nhâm, để thu kết quả Hoàn Tinh Bổ Não.

Huỳnh Đình kinh viết: Nê Hoàn bách tiết giai hữu Thần.

Hay: Nê Hoàn phu Nhân đương trung lập.

Hay: Nê Hoàn cửu Chân giai hữu phòng.

Tuy trong người chỗ nào cũng là Thần,

nhưng Thần trong Nê Hoàn là Thần đứng đầu.

Toàn bộ Nê Hoàn có:

4 phương chính,

4 phương phụ

Trung Ương,

Tổng Cộng là 9 vị, trong đó tất cả đều có Thần.

Nhưng nơi trung ương ngang dọc có 1 tấc,

là Tổng hợp Chư Thần,

cho nên tu luyện Đạo gia không phải tìm cầu nơi đâu. Chỉ cần để tâm đến vị Thần nơi Trung Ương đó, sẽ được thọ vô cùng.»

Vị thần nơi trung ương đó không có tán cư chỗ nào khác, mà ở ngay trong Não Bộ.

Trong quyển Đạo Khu, Bình Đô Thiên có viết:

«Trong Đan Điền, có một chỗ vuông 1 tấc,

gọi là Huyền Đan chi cung,

là Não Tinh Nê Hoàn chi hồn cung.

Mà Óc là 1 đểm linh trong con người,

là nơi cư ngụ của Chúng Thần,

là nơi phát sinh Tân Dịch,

là ngọc thất của Hồn Tinh.»

Nếu biết dùng cái Viên Mãn,

Hư Không (Viên Hư) trong đó mà tưới tắm,

Thì Vạn Huyệt trong người sẽ hẳn hoi,

Trăm khiếu trong người sẽ thông suốt.

Công Đức sẽ sánh Trời Đất,

Cho nên gọi Nê Hoàn.

Nê Hoàn là thượng thần trong thân hình con người.

Nê Hoàn ngày nay có thể có vị trí ở Tuyến Tùng Quả.

Tuyến này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển con người, đến sức mạnh, đến sự thông minh nơi con người.

về Nê Hoàn trong các bộ Kinh Dịch,

Trung Dung và Huỳnh Đình Kinh

không cho rằng Tuyến Tùng Quả là Nê Hoàn Cung, vì Tuyến Tùng Quả ngày nay người ta mới biết sơ sơ đó là Con Mắt thứ Ba.

Cho Nê Hoàn Cung là Não Thất Ba), vì vị trí nó ở Trung Ương; vì khoa học hiện nay ít người bàn đến nó; vì trong đó không thấy có gì, tức là Không theo các đạo giáo.

2. Nhâm Mạch

Nhâm Mạch có tất cả 24 huyệt.

Bài Ca Mạch Nhâm:

24 Huyệt mạch Nhâm khí:

Hội Âm Khúc Cốt,

Trung Cực với Quan Nguyên,

Thạch Môn, Khí Hải, Âm Giao nọ,

Thần Khuyết, Thủy Phân, Hạ Hoãn an.

Kiến Lý, Trung Hoãn, và Thượng Hoãn.

Cự Khuyết, Cưu Vỹ, tế cốt xong,

Trung Đình, Đàn Trung,

Ngọc Đường tiếp.Tử Cung,

Hoa cái, Triền Cơ hòng. Thiên Đột,

Liêm Tuyền gần cuống họng.

Dưới môi, chẩm chẻm huyệt Thừa Tương.

Bài Ca tấc phân kinh mạch Nhâm

Mạch Nhâm Hội Âm giữa hai Âm,

Khúc Cốt nằm giữa sũng mé lông.

Trung Cực dười rốn vừa 4 tấc,

Quan Nguyên dưới rốn ba tấc ròng.

Thạch Môn dưới rốn hai tấc rưỡi,

Khí Hải dưới rốn cách một tấc.

Thần Khuyết ở rốn chính giữa giòng.

Cứ cách trên rốn mỗi một tấc,

Thủy Phân, Hạ Hoãn, Kiến Lý ròng.

Trung Hoãn, Thượng Hoãn và Cự Khuyết

Bảy huyệt lên ngay Cưu Vỹ luôn.

Trung Đình dưới đàng 6 tấc chẵn,

Đàn Trung ngang vú ở giữa cồn.

Ngọc Đường, Tử, Hoa, Triền Cơ huyệt,

Hàng trên đầu kể tấc sáu tròn.

Cách họng Thiên Đột ước 3 tấc,

Thừa Tương trước cằm bên môi dưới,

Mạch Nhâm hàng giữa kể không còn.

3. Kinh huyệt mạch Đốc

Mạch Đốc hai mươi bảy huyệt có dư,

Trường Cường, Yêu Du, với Dương Quang

Mệnh Môn, Huyền Khu, giữa xương sống,

Cân Súc, Chí Dương, Linh Đài ư?

Thần Đạo, Thân Tru với Đào Đạo,

Đại Chùy ngang vai, huyệt chẳng lờ.

Á Môn, Phong Phủ, Não Hộ tiếp,

Ngọa Chẩm, Cường Giang, Hậu Đỉnh,

Bá Hội chờ.

Tiền Đỉnh, Tín Hội, Thượng Tinh kế,

Thần Đình, Tố Giao, Thủy Câu hờ,

Đài Đoan chót muĩ nằm chính giưã.

Môi trên Cấn Giao ngó sờ sờ.

Bài Ca tấc phân kinh huyệt Mạch Đốc

Huyệt Trường Cường ở chót xương cụt,

Đốt xương 21 ấy Yêu Du.

Dương Quang 16, Mệnh 14,

Mười ba Huyền Khu cũng phải tướng.

Đốt 10 Trung Khu, 9 Cân súc,

Đốt xương thứ bảy là Chí Dương.

6 Linh, 5 Thần, 3 Thân Trụ,

Đào đạo thứ nhất ở đốt xương.

Đại Chuỳ ở trên đốt thứ nhất.

Ba tấc 5 phân đến Á Môn,

Phong Phủ 1 tấc hình chỗ lõm,

Não hộ tấc rưỡi trên Ngọc Chẩm,

Đi lên 4 tấc huyệt Cường Giang,

5 tấc 5 phân đến Hậu Đỉnh,

Bá Hội chính giửa thóp một đàng.

Tiền Đỉnh sau Tín 1 tấc rưỡi,

Sau Tinh 1 tấc Tín Hội rày.

Thượng Tinh cách tấc vào mí tóc,

Thần Đình 5 phân hãy chớ quên.

Tố Giao nằm đầu nơi chót mũi,

Thuỷ Câu dưới mũi gọi Nhân Trung.

Chót môi chính giữa Đài Đoan huyệt,

Cấn Giao trong môi kể tính cùng.

4. Luận về 2 mạch Nhâm Đốc theo khoa Luyện Đơn

Nhâm mạch là «Âm Kinh chi Hải». Đốc mạch là «Dương Kinh chi Hải»

Lý Thời Trân trong quyển Tố Hồ Mạch Quyết viết: «Hai mạch Nhâm Đốc là 2 hướng Tí Ngọ trong người, theo Đơn Gia thì là đường thăng giáng của Dương Hỏa và Âm Phù, và là nơi Khảm Li giao cấu.»

Thôi Hi Phạm, trong quyển Thiên Nguyên Nhập Dược Cảnh viết: «Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan, Quán Vĩ Lư, thông Nê Hoàn.»

Du Diễm khi chú Tham Đồng Khế có viết:

«Nhân thân khí huyết, vãng lai, tuần hoàn, ngày đêm không ngừng.

Sách thuốc có 2 mạch Nhâm Đốc. Ai thông được 2 mạch ấy, thì mọi mạch đều thông.»

Huỳnh Đình Kinh viết: «Tất cả đều từ Tâm nội vận Thiên Kinh, ngày đêm giữ nó sẽ trường sinh» Thiên Kinh là Đường Hoàng Đạo trong ta, hô hấp vãng lai, đều do đó. Vận Vĩ Lư, có thể thông Đốc Mạch, qui nạp tị tức (ngưng thở bằng mũi), có thể thông Nhâm Mạch. Thông 2 mạch đó có thể trường thọ.»

 

 


Ai đang trực tuyến

  • 3
  • 1.889
  • 73
  • 3.279
  • 128
  • 4.298.464
  • 798.331