Thần tiên Việt Nam

Đạo Giáo Đạo Đức Kinh Khai Linh 道德經 越南道教

道德經 越南道教 

 

ĐẠO ĐỨC KHAI LINH
LẬP THÂN

 

 

3109172592747018351.jpg

 

Thái Thượng Đạo Đức Khai Linh Thập phương là Bộ kinh khai pháp kinh điển, linh ứng nhất của trời đất. Từ đây mà linh ứng ra tất cả các bộ chân kinh. Nếu hiểu lĩnh hội được gọi là Thanh Tịnh Kinh. Các đạo sỹ lấy Đạo Đức Khai Kinh là cốt tủy để tu luyện thành chân nhân, thành tiên cứu độ chúng sinh. Vì vậy gọi là bảo bối trong giới Thần Tiên. Do Thái Thượng Đạo Tổ truyền lại.

Thái Thượng Lão quân hay còn gọi là Đạo Đức Thiên tôn là vị thần tiên tối cao nhất có trước trời đất và vũ trụ, là vị Thần trường sinh bất tử, Thống ngự thiên địa càn khôn. Tạo ra vạn vật của thế gian.

Là vị Thần tiên thần thông quảng đại, có thể biến hóa vạn vật, thần tiên cứu độ cho chúng sinh. Giải cứu cho những kẻ bất hạnh, những người đang chịu khổ, chịu nạn chỉ cần khấn hoặc gọi tên vị thần là Đạo Đức Thiên Tôn thì sẽ được vị thần giúp đỡ. Biến hung thành cát. Có khi vị Thần ở Thiên cung, Địa ngục, khi hạ giáng xuống nhân gian. Hóa thành Tiên đồng, Ngọc nữ, Đế quân, Thánh nhân, Thần tài, Phật thiên y, Công tào, Thần mưa, Thần gió…..

Đạo Đức Thiên Tôn truyền kinh pháp nhằm cứu độ chúng sinh trong cơn hoạn nạn, chịu khổ trên chốn nhân gian và truyền thụ cho những người ở tại Hạ giới có tiên duyên. Học và luyện, nắm giữ được đạo trời có thể kéo dài tuổi thọ, trừ họa được phúc, không làm chuyện độc ác có thể hành đạo. Ngay cả các bậc đế vương cũng thực hành lấy đạo giáo hóa cho dân chúng. Đất nước yên lành. Bình an – Thịnh vượng, các vị chân nhân tụng kinh và học pháp tu luyện đắc đạo thành tiên truyền rằng:

Như ông Bành Tổ hiểu được phương pháp dưỡng sinh, đắc đạo thành tiên 780 tuổi cơ thể không bị suy lão Ông nói với Thái Nữ 267 tuổi rằng: Một Chân nhân tu đắc đạo có thể nhìn thông Thiên Địa, mắt trái xem thiên cơ, mắt phải xem địa lý. Tai nghe vạn vật, ngăn chặn tai ách cứu độ chúng sinh. Không cánh có thể bay, có thể cưỡi rồng lên chốn Thiên Đình, đi qua lửa, xuyên qua núi cao biển cả, đứng trước chốn đông người không ai biết, ẩn thân vào thảo mộc. Tiêu diêu tự tại cứu tế cho bách tính.

Thái Ất chân nhân nói:

Nhà nào có Kinh này thường tụng tránh được nạn kiếp, bình an và tài lộc tự đến. Người tụng Kinh này sẽ được các thiên thần ở 10 cõi trời hộ thân. Thiên Địa cảm ứng, sau được Ngọc phù Bảo Thần Kim dịch luyện hình, hình thần cùng đạo hợp chân.

Cổ Phật có thi:

Truyền được Thánh đạo dẫn từ hành

Phộ độ quần mê luyện thánh quang

Nếu ngộ tiên thiên Thanh tĩnh đạo

Sống đời trường thọ của kim tiên.

Khổng Tử nói:

Kinh pháp kỳ diệu không thể tưởng

Không đầu, không đuôi lại vô hình

Nếu dùng trực giác mà thấy được

Người trần siêu phàm xuất thế nhân.

Đại Sỹ Quan âm nói:

Ta tụng kinh này cả vạn lần đã được chân đạo. Kinh này là pháp của trời. Người tập chẳng truyền cho hạ sỹ. Thủa xưa ta nhận được Kinh này từ Đông Hoa Đế Quân. Đông Hoa Đế Quân nhận được từ Kim Khuyết Đế Quân. Kim Khuyết Đế Quân nhận được từ Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu theo cách truyền miệng không ghi văn tự. Nay ta ghi thành sách mà truyền cho đời. Thượng Sỹ ngộ rồi sẽ lên Thiên Cung. Trung Sỹ tu rồi sẽ thành Tiên ở Nam Cung. Hạ Sỹ học được sẽ sống lâu trên đời, du hành tam giới vào được Kim Môn.

Tử Vi Đại Đế nói:

Cứu khổ thập phương phù Diệu Kinh

Người biết, người tụng, có người không

Linh ứng Thần thông do người tụng

Bên trong huyền diệu ít người hay

Kinh này có chứa Trường sinh tửu

Không biết người phàm uống hay chưa?

Bắc Đẩu tinh quân nói:

Nhà nào có Kinh này ngộ giải được thì tai chướng chẳng xâm, chư thánh giữ cửa. Người chết dưới địa phủ được thăng thiên. Mộ phần kết phát, con người thanh tú, hạnh minh đa đinh đông người. Ngũ lộ thần tài chỉ lối. Văn Xương ban pháp học danh. Thần lên Thượng giới Triều Bái cao chân công đầy, đức thành. Tương cảm đế quân. Tụng Kinh linh ứng nâng mây tím mà lên trời. Có câu rằng: Nhất nhân đắc đạo Kê, Khuyển cũng thăng thiên.

1. Đại Đạo trôi nổi, nó có thể đi sang trái hay phải.

Vạn vật nương vào nó mà sinh, nhưng nó không từ chối vạn vật.

Sự đã thành, nhưng nó không tự xưng là có. Thương yêu nuôi dưỡng muôn loài nhưng nó không cho mình là chủ, và thường không ham muốn.

Có thể gọi tên nó là nhỏ, muôn vật trở về nó mà nó không coi mình là chủ, nên có thể gọi tên là lớn.

Thánh nhân suốt đời không cho mình là lớn, cho nên thành được việc lớn của mình.

2. Đạo Trời như giương cung.

Cao thì ép xuống, thấp thì nâng lên.

Thừa thì bớt đi, không đủ thì bù vào.

Đạo Trời bớt dư bù thiếu.

Đạo người chẳng vậy, bớt thiếu bù dư.

Ai đem chỗ dư bù đắp cho thiên hạ?

Phải chăng chỉ có người có Đạo?

Cho nên thánh nhân làm mà không cậy công. Công thành không ở lại, không muốn ai thấy tài mình.

3. Bậc đắc đạo ngày xưa thì tinh vi, huyền diệu, thông đạt, thâm thúy khôn lường.

Vì khó lường nên gượng tả hình dung.

Các ngài thận trọng như mùa đông đi qua sông, các ngài e dè sợ láng giềng bốn bên, kính cẩn như khách, lạnh lùng như băng tan, mộc mạc chất phác như chưa đẽo gọt, man mác như hang núi, hỗn mang như nước đục.

Ai có thể đục mà nhờ tĩnh lại dần dần trong.

Ai có thể yên mà nhờ động lại dần dần linh hoạt.

Kẻ giữ đạo không muốn đầy.

Chỉ vì không muốn đầy, nên mới che giấu và chẳng đổi mới

4. Hư không cùng cực, hết sức yên tĩnh.

Vạn vật đua sống, ta nhân đó xem chúng trở về (nguồn). Vạn vật trùng trùng đều trở về cội.

Trở về cội rễ là tĩnh, tĩnh là phục mệnh, phục mệnh tức là trường cửu. Biết “trường cửu” mới là sáng suốt.

Không biết trường cửu sẽ làm càn và gây hung họa. Biết “trường cửu” sẽ thung dung như công hầu vương tước, sẽ hợp với Trời với Đạo.

Hợp Đạo rồi sẽ trường cửu:

thân có mất đi, cũng chẳng nguy hại gì.

5. Những vật xưa được Đạo:

Trời được Đạo, nên trong.

Đất được Đạo, nên yên.

Thần được Đạo, nên linh.

Hang được Đạo, nên đầy.

Vạn vật được Đạo, nên sống.

Hầu vương được Đạo, nên trị vì thiên hạ.

6. Đạo là bí quyết muôn loài, là kho báu của người tốt, là chỗ bảo bọc cho người không tốt.

Nhờ Đạo mà những lời hay được tăng giá trị, được trọng vọng, mà những việc đẹp tăng phẩm cách con người.

Nhờ Đạo mà những kẻ bất lương không bị ruồng rẫy.

Cho nên lập thiên tử, lập tam công tuy tay cầm ngọc bích, tuy thân ngồi xe tứ mã, nhưng vẫn không bằng ngồi mà đưa Đạo vào bản thân mình và vào người khác.

Người xưa quí Đạo là vì sao? Há chẳng có lời rằng: Cầu Đạo thời được, có tội thời được khỏi sao?

Cho nên Đạo quí nhất thiên hạ.

7. Có đạo trời cũng có đạo người.

Vô vi mà tôn quý, đó là đạo trời.

Hữu vi lao tác mà lụy thân, đó là đạo người.

Cái chính yếu là đạo trời,

cái phụ trợ là đạo người.

Đạo trời và đạo người xa nhau.

Điều đó không thể không xem xét rõ vậy.

8. Đạo là khởi nguyên của vạn vật.

Vật nào mất đạo thì chết, được đạo thì sống, nghịch đạo thì thất bại, thuận đạo thì thành công. Cho nên, thánh nhân rất quý trọng sự hiện hữu của Đạo.

9. Đạo vốn không hợp với hành vi nhỏ mọn, đức vốn không hợp với thành kiến hẹp hòi.

Thành kiến hẹp hòi làm hại đức, hành vi nhỏ mọn làm hại đạo.

Cho nên nói:

Phải sửa mình, thế thôi. Bảo toàn được chân tính để vui sướng gọi là đạt được chí nguyện.

10. Người biết đạo ắt sẽ thông đạt sự lý.

Người thông đạt sự lý sẽ hiểu rõ sự quyền biến. Người hiểu rõ sự quyền biến ắt không để vật chất làm hại thân.

11. Đạo thường vô vi nhưng không gì không làm. Thánh nhân ôm ấp đạo trong lòng.

Nguyên do ở đâu?

Vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình. Không có gì khác.

Tích chứa điều thiện để thành đức, thì mình sẽ trở thành thần minh.

Cho nên, dù có ai xung đột gây gỗ với mình thì mình cũng không trách họ.

12. Đạo rốt cuộc là có hay không thể đắc.

Cái có thể đắc thì gọi là đức chứ không gọi là đạo.

Đạo rốt cuộc là không thể vận dụng.

Cái có thể vận dụng được thì gọi là hành chứ không gọi là đạo.

Thánh nhân có thể vận dụng cái khả đắc (tức là đức) và cái khả hành (tức là hành) nên giỏi về sự sống.

Thánh nhân có thể vận dụng cái bất khả đắc bất khả hành (tức là đạo) nên giỏi về sự chết.

13. Người có đạo lớn

và chân thực lấy thì tiết tháo khắc khổ và hành vi chính trực làm điều quan trọng, không vọng cầu ở người khác, không tự tôn mà phóng túng, chỉ mong là người không dám buông trôi theo đời và đắm say thế tục.

14. Đạo sinh vạn vật, đức dưỡng chúng, vật chất cho chúng hình, hoàn cảnh tác thành chúng.

Cho nên vạn vật đều tôn đạo, quí đức.

Sự cao trọng của đạo đức chẳng nhờ ai ban, mà đạo đức tự nhiên vốn đã cao trọng.

Cho nên đạo sinh, đức dưỡng, làm cho vạn vật lớn lên, dưỡng nuôi vạn vật, tác thành che chở vạn vật. Sinh ra vạn vật mà không nhận chúng là sở hữu của mình, làm mà không cậy công, làm cho chúng phát triển mà không đòi làm chủ tể.

Đó gọi là đức sâu dày.

15. Bậc thượng đức không tỏ ra là có đức, nên có đức.

Người hạ đức câu nệ vào đức, nên vô đức.

Bậc thượng đức thì vô vi và không lụy sự việc. Người hạ đức có lao tác và lụy sự việc.

Bậc thượng nhân có lao tác nhưng không lụy sự việc.

Bậc thượng nghĩa có lao tác nhưng lụy sự việc.

Bậc thượng lễ có lao tác, nhưng hễ không được người khác hưởng ứng, thì xắn tay áo lôi kéo người theo.

Cho nên mất đạo thì xét đến đức.

Mất đức thì xét đến nhân.

Mất nhân thì xét đến nghĩa

Mất nghĩa thì xét đến lễ

Mà lễ là lòng trung tín đã

Đi đến chỗ mỏng manh

Và là khởi đầu cho loạn lạc

Không biết mà nói rằng biết

Đó là hào nhoáng của đạo

Và là khởi đầu của ngu si

Cho nên bậc đại trượng phu ở chỗ dày dặn mà tránh chỗ mỏng mảnh, ở chỗ thực mà tránh chỗ hào nhoáng. Đó là bỏ cái kia (hào nhoáng, mỏng mảnh) mà giữ cái này (dày dặn, thực chất).

16. Người đức dày, tâm hồn nhiên như trẻ sơ sinh. Độc trùng không cắn, thú dữ không ăn, chim ưng chẳng bắt.

17. Nếu không khắc chế tâm mà tính cách vẫn cao thượng,

không bàn nhân nghĩa mà vẫn có sự tu dưỡng, không có công danh mà thiên hạ vẫn thịnh trị, không ngao du sông hồ mà vẫn nhàn tản,

không luyện hô hấp mà vẫn sống lâu,

quên hết mà vẫn có đủ, điềm đạm và tĩnh lặng cực độ mà mọi điều tốt đẹp tuân theo mình,

người như thế đã đạt được đạo của trời đất

và đức của thánh nhân.

Cho nên nói:

“Điềm đạm, tĩnh lặng, hư vô, vô vi, đều là các đức tính nhằm duy trì sự quân bình của trời đất, mà chúng cũng là tính chất của đạo và đức.”

Cho nên nói: “Thánh nhân nghỉ ngơi ắt tâm sẽ bình dị (quân bình dễ chịu).

Bình dị ắt sẽ điềm tĩnh.

Bình dị và điềm tĩnh ắt sẽ không lo lắng và bệnh hoạn, tà khí sẽ không xâm nhập.

Do đó, đức của ngài toàn vẹn và thần của ngài không thương tổn”

18. Bậc chí đức vào lửa không nóng,

Vào nước không chìm, nóng lạnh không hại được,

Cầm thú không hại chết nổi.

Nó không có nghĩa là ngài coi thường những thứ ấy, mà nghĩa là ngài xem xét rõ giữa an và nguy, điềm tĩnh trước phúc và họa, cẩn thận khi tiến thoái.

Cho nên không thứ gì có thể hại được ngài.

Do đó nói:

“Trời bên trong, người bên ngoài.

Đức ở trời. Nếu ai biết sự vận hành của trời và người thì lấy trời làm gốc mà lập thân ở đức, thì người đó có thể tiến thoái, co duỗi, trở về cái thiết yếu mà luận bàn sự cực hạn của đạo.”

19. Bậc chí tâm theo đạo không vì những nghịch cảnh mà thay đổi chí hướng của mình,

Người giữ sự thuần chính không vì không được tán thưởng khen ngợi mà cẩu thả tự buông trôi theo thế tục.

20. Nghe nói rằng người khéo giữ gìn sự sống đi trên đường không gặp tê giác và hổ,

Vào trong quân lữ không cần mang áo giáp và binh khí.

Vì tê giác không có chỗ nào để húc, hổ không có chỗ nào để vấu, binh khí không có chỗ nào để chém. Tại sao? Vì họ không có chỗ chết.

21. Năm màu khiến người mù mắt.

Năm âm thanh khiến người điếc tai.

Năm vị khiến người tê lưỡi.

Ruổi rong săn bắn, khiến lòng người hóa cuồng. Của cải hiếm khiến bản thân bị hại khi đi đường. Bởi vậy, sự đối trị của thánh nhân là vì bụng, không vì mắt. Nên bỏ cái kia, lấy cái này.

22. Thánh nhân từ bỏ sự cực đoan,

Xa xỉ, và cao sang.

23. Nhắm mắt và ngậm miệng,

suốt đời không vất vả. Mở miệng và hoàn thành sự việc, suốt đời không cứu được. Thấy được tế vi mới là minh, giữ được mềm yếu mới là cường. Dùng ánh sáng của đạo, để quay về sự quang minh của đạo, thân không sợ tai ương, đó là tìm về vĩnh cửu.

24. Cái tinh túy của chí đạo (đạo cực cao) thì mịt mịt mờ mờ,

cái tột đỉnh của chí đạo thì thâm u lặng lẽ.

Đừng thấy gì, đừng nghe gì, và hãy giữ cho thần tĩnh lặng, thì hình thể của ngươi sẽ tự chỉnh lý đúng đắn.

Hãy giữ sự thanh tĩnh đó, đừng lao nhọc thân xác, đừng dao động tinh thần thì ngươi sẽ trường sinh.

Mắt không thấy, tai không nghe, tâm không biết, thì thần của ngươi sẽ giữ được hình thể, rồi hình thể sẽ trường sinh.

Cẩn thận hoạt động nội tâm của ngươi, ngăn bế những gì từ ngoại giới xâm nhập vào ngươi, nhiều tri thức sẽ thất bại….

Trời đất có các cơ quan chưởng quản, âm dương có chỗ tàng chứa.

Hãy cẩn thận giữ gìn thân thể, mọi thứ trong ngươi sẽ tự lớn mạnh.

25. Nay ta nói về thói đời cho ngươi nghe:

Mắt ưa nhìn nữ sắc, tai muốn nghe âm nhạc, mồm thích nếm mỹ vị, chí khí muốn thỏa mãn.

Con người thượng thọ là 100, trung thọ là 80, hạ thọ là 60.

Trừ đi những lúc bệnh, suy nhược, chết chóc, tang ma, âu lo, hoạn nạn, còn lại là những lúc có thể mở miệng cười thì trong một tháng giỏi lắm là vui cười được bốn năm ngày.

Trời và đất vô cùng, kiếp người hữu hạn.

Đem cái hữu hạn mà gởi gấm khoảng vô cùng, khác gì cái hình ảnh ngựa kỳ ngựa ký chạy vút qua khe cửa (CHỈ TRONG THOÁNG CHỐC).

Kẻ không thể thỏa mãn được ý chí và không biết bảo dưỡng cho trường thọ thì không phải là người thông hiểu đạo vậy.

26. Kẻ coi trọng sinh mệnh,

tuy phú quý nhưng không để sự cung dưỡng làm hại thân, tuy bần tiện nhưng không để cái lợi làm lụy hình hài. Người đời nay làm quan cao tước lớn, coi trọng sự mất chức tước. Thấy cái lợi mà khinh suất để mất thân mình, như vậy không phải là mê muội hay sao?

27. Kẻ thông hiểu được sự sống thì không mong cầu cái vô dụng cho sự sống,

Kẻ thông hiểu được vận mệnh thì không mong cầu cái vượt ngoài phạm vi hiểu biết.

Muốn nuôi thân trước tiên phải có lương thực. Nhưng có người điều kiện vật chất sung túc mà hình thể vẫn không nuôi dưỡng tốt.

Để có sự sống thì trước hết không được rời bỏ hình.

Nhưng có kẻ không rời bỏ hình mà vẫn mất sự sống.

Sự sống bắt đầu thì ta không thể từ khước, khi sự sống mất đi thì ta không thể ngăn nó lại.

Buồn thay! Người đời cứ cho rằng hễ nuôi dưỡng thân thể là giữ được sự sống.

Nếu nuôi thân thể mà không đủ để giữ được sự sống, sự đời còn gì đáng làm đâu?

Tuy nó không đáng làm mà ta không thể không làm, thế là không tránh khỏi khổ lụy.

Muốn tránh việc nuôi dưỡng thân thể thì chẳng gì bằng từ bỏ thế gian.

Từ bỏ thế gian thì khỏi khổ lụy.

Không khổ lụy thì tâm sẽ quân bình thuần chính. Quân bình thuần chính thì sẽ có sự sống mới.

Có sự sống mới là tiếp cận với đạo.

28. Nói chung, cái mà thiên hạ tôn quý là giàu có, sang trọng, sống lâu, điều thiện.

Cái mà họ vui thích là yên thân, vị ngon, quần áo đẹp, sắc đẹp, âm thanh hay.

Cái mà họ khinh bỉ là sự nghèo túng, hèn hạ, chết yểu, điều ác.

Cái mà họ đau khổ là thân không được an nhàn, miệng không thưởng thức vị ngon, thân không mặc quần áo đẹp, mắt không trông thấy sắc đẹp, tai không nghe được âm thanh hay.

Kẻ nào không có được các thứ ấy thì lo buồn sợ sệt.

Cứ vì thân thể như vậy thật là ngu xuẩn.

Kẻ giàu có, lao khổ thân xác, làm lụng miệt mài, tích lũy nhiều của nả mà không được hưởng hết. Cứ vì thân thể như vậy là lo cái bề ngoài.

Kẻ sang trọng, hết đêm tới ngày lo toan nghĩ ngợi chuyện tốt xấu, hay dở.

Cứ vì thân thể như vậy là xa đạo thường hằng. Cuộc đời mỗi người cùng đi đôi với lo rầu.

Dù sống lâu thì thần trí cũng lú lẫn, mụ mẫm vô dụng, lại buồn mãi vì sống lâu thế mà không chết đi. Ôi sao mà khổ vậy!

Cứ vì thân thể như vậy cũng là xa đạo thường hằng.

29. Buồn vui làm hại đức,

mừng giận làm hại đạo, yêu ghét làm mất đức.

Cho nên tâm chớ âu lo hay vui mừng, đó là chí đức.

Tinh ròng chuyên nhất không thay đổi, đó là chí tĩnh.

Không xung đột với ai, đó là chí hư.

Không giao tiếp sự vật, đó là chí đàm (vô cùng yên lặng).

Không chống đối ai, đó là chí túy (rất tinh tuý).

Cho nên nói:

Lao nhọc thân xác miệt mài thì sinh ra điều tệ hại, tinh lực dùng liên tục thì lao tổn.

Hễ lao tổn thì kiệt quệ.

30. Đời người hữu hạn, mà tri thức thì vô hạn.

Lấy cái hữu hạn mà truy cầu cái vô hạn, nguy hại thay!

Biết thế mà vẫn cứ truy cầu tri thức, như vậy càng nguy.

Làm thiện thì không nổi danh, làm ác thì bị trừng phạt.

Noi theo cái trung dung mới là thường đạo (chính đạo), nhờ đó ta có thể bảo thân, giữ vẹn sinh mệnh, phụng dưỡng song thân, và hưởng trọn tuổi già.

 

 lao_tu_dao_giao_lt21kk2.jpeg


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.867
  • 72
  • 3.279
  • 128
  • 4.298.442
  • 798.330