Thần tiên Việt Nam

Việt Nam Phong Tục Phần 1 – 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

Việt Nam Phong Tục Phần 1

越南道教道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

VIỆT NAM PHONG TỤC

 

Phan Kế Bính

MỤC LỤC

Thiên thứ nhất

NÓI VỀ PHONG TỤC TRONG GIA TỘC

I. Cha mẹ với con

II. Anh em, chị em

III. Thân thuộc

IV. Phụng sự tổ tông

V. Đạo làm con

VI. Thượng thọ

VII. Sinh nhật

VIII. Thần Hoàng

IX. Tang ma

X. Cải táng

XI. Kỵ nhật

XII. Tứ thời tiết lập

XIII. Giá thú

XIV. Vợ chồng

XVI. Cầu tự

XVII. Nuôi nghĩa tử

Thiên thứ nhì

NÓI VỀ PHONG TỤC HƯƠNG ĐẢNG

I. Sự thần

II. Việc tế tự

III. Nhập tịch

IV. Đại hội

V. Lễ kì an

VI. Chùa chiền

VII: Văn từ văn chỉ

VIII. Ký hậu

IX. Công quán

X. Am chúng sinh

XI. Ngôi thứ

XII. Viên chức

XIII. Hương ẩm

XIV. Lễ khao vọng

XV. Lệ kính biếu

XVI. Đăng khoa

XVIII. Bầu cử lí lịch

XIX Thuế khóa

XX. Binh lính

XXI tạp dịch

XXII. Hương học

XXIII. Khoán ước

XXIV. Việc hiếu

XXV. Việc hỉ

XXVI. Lệ khánh điếu

XXVII. Vợ chồng li dị

XXVIII. Tài chính

XXIX. Nghĩa sương

XXX. Hội chư bà

XXXI. Hội tư cấp

XXXII. Hội bách nghệ

XXXIII. Tuần đinh

XXXIV. Đạc phu

Thiên thứ ba

NÓI VỀ PHONG TỤC XÃ HỘI

I. Vua tôi

II. Thầy trò

III. bầu bạn

IV. Quan dân

V. Chủ khách

VI. Chủ nhà, ngừoi ở

VII. Dâu gia

VIII. Nho giáo

IX. Phật giáo

X. Lão Tử giáo

XI. Gia Tô giáo

XII. Chính trị

XIII. Văn chương

XIV. Khoa cử

XV. Võ nghệ

XVI. Nghề làm ruộng

XVII. Nghề nuôi tằm

XVIII. Nghề bách công

XIX. Nghề buôn bán

XX. Y dược

XXI. Bốc phệ

XXII. Địa lý

XXIII. Toán số

XXIV. Tướng thuật

XXV. Phù thủy

XXVI. Thanh đồng

XXVII. Đồng cốt

XXVIII. Cô hồn

XXIX. Các cách chiêm đoán

XXX. Các cách chiêm nghiệm

XXXI. Xem ngày kén giờ

XXXII. Các việc kiêng kị

XXXIII. Các phương thuật

XXXIV. Tính tình

XXXV. thanh âm ngôn ngữ

XXXVI. Cách ẩm thực

XXXVII. Cách phục sức

XXXVIII. Cư sở

XXXIX. Để tóc

XL Nhuộm răng

XLI. Ăn trầu

XLII. Hút thuốc lào

XLIII. Hát xẩm

XLIV. Hát ả đào

XLV. Hát tuồng

XLVI. Cuộc tiêu khiển

XLVII. Cuộc cờ bạc

VIET_NAM_PHONG_TUC_-_Phan_Ke_Binh.

Thiên thứ nhất

NÓI VỀ PHONG TỤC TRONG GIA TỘC

I.CHA MẸ VỚI CON

Cha mẹ: Hai tiếng cha mẹ, nước ta mỗi nơi gọi cũng hơi khác nhau: Nơi thì gọi là Bố là Đẻ, nời thì gọi là Thầy là U. Về đường ngược ( Hưng hóa) thì gọi mẹ là Bầm, về đường trong thì gọi là Bu. Nam kì thì gọi cha là Tía, mẹ là Má. Ở đây, bây giờ lại nhiều người cho con gọi cha là Ba, gọi mẹ là Me. Còn các nhà hiếm hoi thì chẳng cứ gì, người thì cho con gọi là Chú, Thím, người thì cho con gọi là Anh, Chị, Cậu, Mợ. Ngày xưa lại có tiếng gọi mẹ là Cái nữa, tiếng ấy thì bây giờ không đâu dùng

Sinh con: Đàn bà có mang ai cũng muốn sinh con trai mà ít người muốn sinh con gái. Hàng xóm bà con nghe thấy sinh con trai thì mừng. Trong khi có mang, váng đầu, đau mình thì gọi là ốm nghén; hay thèm ăn của chua, của chát gọi là ăn dở. Đến lúc sinh sản, mời bà tắm đến đỡ, con xổ ra rồi thì cắt rốn chôn nhau. Chôn phải sâu, nếu chôn nông thì con hay bị trớ, mà phải tránh chỗ giọt gianh ( chỗ nước mưa mái nhà nhỏ xuống – ) kẻo về sau con chốc đầu toét mắt

Người mẹ thì phải kiêng khem gió máy, phải nằm than. Ăn cơm thì phải ăn muối hấp hoặc nước mắm chưng, vài ba hôm mới dám ăn đến thịt. Đầy cữ, ( con trai 7 ngày, con gái 9 ngày) xông muối xoa nghệ rồi mới dám ra đến ngoài

Nhà nghèo nuôi con lấy, nhà giàu nuôi vú cho con. Có người cho vú đem về nhà nuôi. Cho bú độ ba bốn tháng thì cho ăn cơm và vẫn cho bú đến độ ba, bốn tuổi mới thôi

Con nhà nào ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chin tháng lò cò chạy chơi, là hợp vào ca thi, dễ nuôi mà mai sau làm nên ngươi

Tục ta hỏi thăm nhau đẻ con trai hay là con gái, người có chữ thường nói lộng chương hay lộng ngõa ( nghĩa là chơi ngọc hay chơi ngói). Điển ấy do ở Kinh Thi: sinh con trai thì quí hóa mà cho chơi bằng hạt ngọc, sinh con gái thì khinh bỉ mà cho chơi bằng hòn ngói. Lại có người hỏi huyền hổ hay huyền cân ( nghĩa là treo cung hay là treo khăn mặt). Điển ấy cũng do tục Tàu: để con trai thì treo cái cung ngoài cửa, mà đẻ con gái thì treo cái khan mặt. Ta dùng điển mà hỏi thăm chứ ta không có cái tục ấy

Cúng mụ: Trong sách Bắc Hộ Lục có nói rằng Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng thì tắm cho con, làm một bữa tiệc gọi là đoàn du phạn (nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru). Sách Vân đài loại ngữ của ông Lê Quí Đôn thì nói rằng: Tục nước ta đẻ con được ba ngày, làm vài mâm cỗ cúng mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm một trăm ngày, hôm đầy tuổi tôi đều có làm cỗ cúng gia tiên, bày tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc dùng thơ, câu đối, đồ chơi, đồ quần áo trẻ để mừng nhau. Mà nhất là tiệc một trăm ngày và tiệc đầy tuổi to hơn cả

Cứ như tục thành phố Hà Nội bây giờ đẻ con ra đầy cữ, đầy tháng đầy tuổi tôi, mới làm cỗ cúng mụ. Trong lễ cúng thì dùng mười hai đôi hài, mười hai miếng trầu cau, cua ốc, nham, bánh đúc v.v…Vì tin rằng có mười hai bà mụ nặn ra người

Thử con: Tàu có tục đẻ con đầy một năm thì làm một tiệc thử con. Hôm ấy tắm rửa cho con sạch sẽ, mặc quần áo mới, con trai thì bày đồ cung tên giấy bút, con gái thì bày đồ kim chỉ dao kéo. Lại bày những đồ chơi quí báu ở trườc mặt đứa trẻ để nghiệm xem nó tham liêm ngu trí làm sao, chữ gọi là tiệc thí nhí ( thử trẻ). Các nhà đại gia ở ta cũng theo tục ấy, nhưng chỉ bày ít món đồ ấn triện cung tên, bút mực, cày bừa, gọi là trong bốn món văn, vũ, canh , độc để nghiệm đứa trẻ mai sau làm gì thôi

Thuật kiêng cữ: Con nhà nào sinh phải giờ con sát, hay phải giờ kim xà thiết tỏa, sợ mai sau khó nuôi thì cúng đổi giờ. Nhà nào sinh con muộn mằn sợ khó nuôi thì làm lễ bán cửa tĩnh hoặc là bán cửa chùa nào cho con làm con Thánh con Phật gọi là bán khoán. Bán cho cửa tĩnh thì thờ Đức Thánh Trần, bán cho nhà chùa thì đổi họ gọi là họ Mâu, đến mười hai tuổi mới làm lễ chuộc về làm con mình

Đưa con cho người khác bế, không được đưa qua cửa, mai sau sợ con đi ăn cắp ăn trộm. Ẵm con đi đâu phải bôi ít nhọ chảo trên trán hoặc cầm con dao, cái kéo hay là chiếc đũa đi theo, kẻo sợ người ta quở quang

Con hay khóc đêm, gọi là dạ đề thì mượn một người khác lấy cái cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường thì khỏi khóc. Có người lạ vào, con khóc mãi không thôi thì lấy một bó lửa ném vào trước mặt người ta thì con thôi khóc

Con ngủ li bì không dậy, lấy vài cái tóc mai của người ngoài phẩy vào miệng đứa trẻ thì khỏi

Con hay trớ, lấy nước lòng đò cho uống thì khỏi

Con nấc, lấy ngọn của lá trầu không dán vào chỗ trán cho nó. Con ngủ giật mình, luộc một cái trứng gà, con trai cắt thành bảy miếng, con gái chin miếng và bảy hay chín nắm cơm, hú vía cho nó rồi cho nó ăn thì nó khỏi sợ

Con đau bụng khóc lắm, mượn người nhổ bão (nhổ cục tóc trên đầu) cho mẹ nó thì khỏi

Con lòi rốn, mượn kẻ ăn mày cầm gậy chọc vào rốn nó thì khỏi

Con chơi phải chỗ cỏ ngứa, nổi mẩn tịt cả mình mẩy gọi là ma tịt, thì ngửa một cái nón mê ( nó lá cũ – ), tễ bảy hoặc chím miếng trầu lá lốt cúng ông Cầu bà Quán cho nó thì khỏi

Con  lên đậu, ngoài cửa treo một bó vàng và trồng một cây lá ráy vào một cái nồi đất ở trước cửa, hoặc cài một cành kinh giới để giữ cho con được bình yên

Con hắt xì hơi thì nói: Sống lâu tram tuổi, già đầu, thượng thọ để chúc thọ cho con

Con quặt quà quặt quẹo thì bế đứa con đưa qua cái săng người già chết thì nó được sống lâu

Cáh đặt tên:

Con mới sinh ra thì thường gọi là thằng đỏ con đỏ, ở về nhà quê thì thường gọi là thằng cu con đĩ, ở về vùng quê Thanh Nghệ thì thường gọi là thằng cò con hĩm chứ không mấy người mới sinh ra đã đặt tên. Đặt tên thì nhà thường dân hay bạ tên gì đặt nấy, hay lấy vần hoặc lấy nghĩa gần nhau  với tên cha mẹ mà đặt. Ví như cha mẹ tên Lần thì đặt tên là Thần, cha mẹ là Nhăng thì đặt là Nhố, hoặc cha mẹ là Đào thì đặt là Mận, cha mẹ là Sung thì đặt con là Vả v.v. Kẻ hiếm hoi thì thường lấy tên xấu xí mà đặt cho con, như gọi là thằng Cún ( con chó cún) thằng Đực ( con chó đực) v.v. Nhà có học thì thường kiếm những tên đạp đẽ mà đặt cho con, mà nhất là hay tìm từng bộ chữ Nho. Ví như người dung toàn một bộ chữ Ngọc, như anh là Hoàng thì em là Hành