Thần tiên Việt Nam

Khoa Bảng Trạng Nguyên Việt Nam 越南狀元 3 (1000-1945)

Khoa Bảng Trạng Nguyên Việt Nam

越南狀元

(1000-1945)

 

36. Hoàng Văn Tán [黄文讚] [? – ?]. Bắc Ninh Thống Nguyên thứ 2 (1523) thời Lê Cung Đế

Tên: Hoàng Văn Tán [黄文讚]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Mùi

Ngày: Thống Nguyên thứ 2 (1523) thời Lê Cung Đế

Quê quán: Bắc Ninh

Mô tả cuộc đời: Thi Hội các cử nhân trong nước. Lấy đỗ bọn Đào Nghiễm 36 người. Khi thi Đình, vua thân hành ra đầu đề, hỏi về đạo làm vua, làm thầy. Hoàng Văn Tán, Nguyễn Thuyên, Nguyễn Đạo Quán 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

37. Trần Tất Văn [陳悉文] [? – ?]. Người xã Nguyệt Áng, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Hải Dương ( nay thuộc ngoại thành Hải Phòng ) Thống Nguyên thứ 5 (1526), thời Lê Cung Đế

Tên: Trần Tất Văn

[陳悉文]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Tuất

Ngày: Thống Nguyên thứ 5 (1526), thời Lê Cung Đế

Quê quán: Người xã Nguyệt Áng, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Hải Dương ( nay thuộc ngoại thành Hải Phòng )

Chức vụ: Làm đến Thượng thư, tước Hàn Xuyên Bá .

Mô tả cuộc đời: Trần Tất Văn xuất thân trong gia đình Nho học. Qua nhiều năm miệt mài đèn sách, ông lần lượt vượt qua và đỗ đầu trong các kỳ thi hương (đỗ Giải nguyên), thi Hội (đỗ Hội nguyên) và thi Đình (Trạng nguyên). là Trạng nguyên thứ 30 của các triều Lê, Trần, Hậu Lê; Trạng nguyên thứ 21 và cũng là Trạng nguyên cuối cùng của nhà Hậu Lê. Từ đây, thân thế, sự nghiệp của ông gắn liền với thời kỳ đầy biến động của lịch sử dân tộc.

Dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp chính trị, văn chương và được nhắc nhiều trong sử sách về Trạng nguyên Trần Tất Văn là lần đi sứ nhà Minh với bài biểu lui vạn binh. Sử sách ghi rằng: Sau khi nhà Mạc lên ngôi, tàn dư nhà Lê cầu cứu nhà Minh. Viện cớ diệt Mạc để khôi phục Lê, nhà Minh xâm lược nước ta. Trạng nguyên được vua Mạc Đăng Doanh cử đi sứ. Bằng tài ngoại giao và sự lập luận sâu sắc, ông khiến âm mưu, thủ đoạn của nhà Minh bị vạch trần. Với bài biểu, Trang nguyên khiến 2 tướng nhà Minh là Mao Bá Ôn và Cừu Loạn quyết định lui quân, tránh cho nước nhà một cuộc chiến tranh.

39 năm sau, nối nghiệp cha, con trai Trạng nguyên Trần Tất Văn là Trần Tảo đỗ Đồng tiến sĩ khoa Ất Sửu, niên hiệu Thuần Phúc 4, triều Mạc, phụng sự triều Mạc. Trần Tảo được làm quan đến chức Thừa Chánh sứ.

38. Đỗ Tông [杜宗] [? – ?]. Người xã Lại Óc, huyện Tế Giang, phủ Thuận An, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên ) Minh Đức thứ 3 ( 1529), đời Mạc

Tên: Đỗ Tông [杜宗]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Kỷ Sửu

Ngày: Minh Đức thứ 3 ( 1529), đời Mạc

Quê quán: Người xã Lại Óc, huyện Tế Giang, phủ Thuận An, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên )

Chức vụ: Làm quan đến Đông các Đại học sĩ. Lúc mất được truy tặng Hình bộ Thượng thự

Mô tả cuộc đời: ĐỖ Tông bị bọn Đô cấp sự trung Trịnh Thiết Trường hặc tội làm quan ăn hối lộ.

37. Nguyễn Thiến 阮倩 [? – ?]. Người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam ( nay thuộc tỉnh Hà Tây ) Đại Chính thứ 3 (1532), đơì Mạc Thái Tông ( Đăng Doanh )

Tên: Nguyễn Thiến 阮倩

Tên thật: Cảo Xuyên

Tóm tắt: 63

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn

Ngày: Đại Chính thứ 3 (1532), đơì Mạc Thái Tông ( Đăng Doanh )

Quê quán: Người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam ( nay thuộc tỉnh Hà Tây )

Chức vụ: Làm quan đến Thượng thư bộ Lại kiêm Đô ngự sử, tước Thư Quận Công

Mô tả cuộc đời: Nhâm Thìn, [1532] , (Mạc Đại Chính năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 11). Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội, cho bọn Nguyễn Thiến (người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, làm quan đến Thượng thư Thư quốc công, sau theo về nhà Lê, là cha Quyện), Bùi Vĩnh, Ngô Sơn Khoái 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ.

Nguyễn Thiến là bạn học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cha của Nguyễn Quyện là danh tượng trụ cột của nhà Mạc và tướng Nguyễn Miễn. Ông rất quý trọng, tin phục và giao du thân tình với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông được Trạng Trình đánh giá là người “thành tín, chính trực, hiểu biết nhiều”. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng ở nhờ nhà Nguyễn Thiến và làm thầy dạy cho Nguyễn Quyện trước khi đỗ Trạng nguyên năm Ất Hợi (1535).

38. Nguyễn Thiến được nhà Mạc trọng dụng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 [1491 – 1491]. Sinh tại thôn Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương nay là thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng được xem là người Hải Phòng. đại chính thứ 6 (1535), đời Mạc Thái Tông

Tên: Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙

Tên thật: Tên chữ là Hạnh Phủ. hiệu là Bạch Vân tiên sinh, biệt hiệu Tuyết Giang Phu Tử

Năm sinh: 1491

Năm mất: 1585

Tóm tắt: 94

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Mùi

Ngày: đại chính thứ 6 (1535), đời Mạc Thái Tông

Quê quán: Sinh tại thôn Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương nay là thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng được xem là người Hải Phòng.

Chức vụ: Làm Đông các Hiệu thư, Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Trình Tuyền Hầu

Mô tả cuộc đời: Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.

Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.

Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.

Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, do đó học trò gọi ông là “Tuyết giang Phu tử”.

39. Giáp Hải [甲海] [? – ?]. Người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn ( nay thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang ) Đại Chính thứ 9 (1538), đời Mạc Thái Tông

Tên: Giáp Hải [甲海]

Tên thật: Giáp Trưng, hiệu Tiết Trai

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Tuất

Ngày: Đại Chính thứ 9 (1538), đời Mạc Thái Tông

Quê quán: Người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn ( nay thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang )

Chức vụ: Làm quan đến Lục bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Kế Khê Bá, Luân Quận Công

Mô tả cuộc đời: Mậu Tuất, [Nguyên Hoà] năm thứ 6 [1538] , (Mạc Đại Chính năm thứ 9; Minh Gia Tĩnh năm thứ 17). Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội, cho bọn Giáp Hải, Trần Toại, Hoàng Sầm đỗ tiến sĩ cập đệ.

Xung quanh cuộc đời ông có khá nhiều huyền thoại. Như chuyện cha, mẹ ông là người ở Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội, khi ba tuổi ông bị một phú thương bắt cóc đưa lên Phượng Nhãn. Hay chuyện ông lấy một người vợ là con gái Nam Hải Long Vương v.v. Chẳng hạn một trong các giai thoại về ông hiện đang lưu truyền tại Bát Tràng, Gia Lâm như sau:

Trạng nguyên Giáp Hải tên đầy đủ là Hà Giáp Hải. Cha đẻ của ông là người họ Hà – làng Bát Tràng. Mẹ đẻ của ông là người làng Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Truyền thuyết kể lại rằng : Mẹ của Giáp Hải là một người phụ nữ bán hàng nước bên cạnh bến sông, một hôm có một thày tướng người Hoa ghé quán nước của bà và có nói rằng “Phong thủy của quán không được tốt, phía trước mặt quán nên đào một cái hố, hàng ngày mang rác đến đổ vào cái hố đấy thì công việc làm ăn sẽ rất thuận lợi”. Ông ta còn dặn bà “Sau này, nếu có người đội nón sắt xin tá túc thì bà không nên từ chối”. Bà làm theo lời ông thày Tàu dặn, quả nhiên công việc buôn bán của bà gặp rất nhiều thuận lợi. Bỗng một đêm mưa gió, có một người đàn ông gõ cửa quán nhà bà giới thiệu là người họ Hà – làng Bát Tràng xin vào tá túc, nhìn lên đầu thấy đội một cái chảo sắt, bà liền mở cửa cho vào ngủ nhờ. Tới gần sáng thì người đàn ông bị cảm và chết, bà sợ quá liền mang xác đến chôn tại hố rác trước quán. Sau này, bà sinh được một người con trai kháu khỉnh, có 7 chấm sao ở lòng bàn chân.

Khi Giáp Hải lớn chừng 2 – 3 tuổi, bị bắt cóc và đem bán cho một người họ Phạm ở Bắc Giang làm con nuôi. Sau này, ông họ Phạm này nuôi Giáp Hải khôn lớn, ăn học thành người, thi cử đỗ đạt về quê. Ông được người cha nuôi kể lại chuyện nên tìm lại quán nước bên bến sông tìm mẹ. Khi gặp nhau, bà mẹ chỉ ngờ ngợ và hỏi đến 7 chấm sao ở lòng bàn chân và hai mẹ con nhận ra nhau. Được mẹ cho biết, bố là người Bát Tràng, Giáp Hải tìm về quê. Để không bị “thấy người sang bắt quàng làm họ” ông giả làm người tù tội, đeo gông đeo xích về để tìm người thân. Nhưng do sợ bị liên lụy, không ai dám nhận ông là người thân. Trạng Hải đã rút kiếm chặt vào cột đình Bát Tràng và thề rằng “Làng Bát Tràng từ nay không có Trạng”. Quả thật, từ thời sau đó, nhiều người Bát Tràng chỉ đỗ đạt cao nhất là Tiến sĩ, không còn ai đỗ Trạng nguyên nữa.

40. Nguyễn Kỳ 䶞 [? – ?]. Người làng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu , trấn Sơn Nam Hạ ( nay là huyện Châu Giang, Hưng Yên) Quảng Hoà thứ nhất ( 1541), đơì Mạc Hiến Tông ( Phúc Hải )

Tên: Nguyễn Kỳ

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Tân Sửu

Ngày: Quảng Hoà thứ nhất ( 1541), đơì Mạc Hiến Tông ( Phúc Hải )

Quê quán: Người làng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu , trấn Sơn Nam Hạ ( nay là huyện Châu Giang, Hưng Yên)

Chức vụ: Làm quan đến Hàn lâm Thị thự

Mô tả cuộc đời: Thi phúc khảo cống sỹ, Nguyễn Kỳ được đỗ đầu.

Đến khoa Mậu Thìn năm

Cảnh Hưng thứ 9 (1748, Kỳ đỗ tiến sĩ.

Chú thích: Nay thuộc xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

41. Dương Phú Tư [陽富思] [? – ?]. Người làng Lạc Đạo, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên ) Vĩnh Định thứ nhất (1547), đời Mạc Tuyên Tông ( Phúc Nguyên )

Tên: Dương Phú Tư [陽富思]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Đinh Muì

Ngày: Vĩnh Định thứ nhất (1547), đời Mạc Tuyên Tông ( Phúc Nguyên )

Quê quán: Người làng Lạc Đạo, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên )

Chức vụ: Làm quan Tham Chính

Mô tả cuộc đời: Ông đã dâng sớ xin qui thuận Lê Thế Tông rồi đi ở ẩn.

42. Trần Bảo 陳保 [1523 – ?]. Người xã Cổ Chữ, huyện Giao Thủy , trấn Sơn Nam Hạ ( nay thuộc huyện Xuân Thủy, Nam Định ) Cảnh Lịch thứ 3 (1550), đời Mạc Tuyên Tông

Tên: Trần Bảo 陳保

Năm sinh: 1523

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất

Ngày: Cảnh Lịch thứ 3 (1550), đời Mạc Tuyên Tông

Quê quán: Người xã Cổ Chữ, huyện Giao Thủy , trấn Sơn Nam Hạ ( nay thuộc huyện Xuân Thủy, Nam Định )

Chức vụ: Làm quan Thượng thư, đi sứ phương Bắc, tước Nghĩa Sơn Bá, được tặng Quận Công

Mô tả cuộc đời: Trước kia, Diên Nghệ vẫn có chí định khôi phục Giao Châu có nuôi ba nghìn tráng sĩ làm nha

binh. Lý Tiến biết việc đó, cho người gấp về báo với chúa Nam Hán. Diên Nghệ liền kéo quân vây đánh

Lý Tiến. Chúa Nam Hán sai thừa chỉ là Trần Bảo đem quân sang cứu. Quân Trần Bảo chưa đến nơi thì

thành đã bị đánh phá, Lý Tiến phải trốn về. Trần Bảo đến nơi, cho quân vây thành; Diên Nghệ ra đánh,

Trần Bảo bị thua và chết. Diên Nghệ tự xưng là tiết độ sứ, quản lĩnh công việc Giao Châu.

43. Nguyễn Lượng Thái [阮亮泰] [? – ?]. Người xã Bình Ngô, huyện Gia Định , phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Thuận Thanh, Bắc Ninh ) Cảnh Lịch thứ 6 (1553), đời Mạc Tuyên Tông

Tên: Nguyễn Lượng Thái [阮亮泰]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Sửu

Ngày: Cảnh Lịch thứ 6 (1553), đời Mạc Tuyên Tông

Quê quán: Người xã Bình Ngô, huyện Gia Định , phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Thuận Than`h, Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan đến Tả thị lang bộ Lễ, kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Định Nham Hầu

Mô tả cuộc đời: Họ Mạc mở khoa thi Hội, Nguyễn Lượng Thái, Hoàng Tuân, Trần Vĩnh Tuy đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Nghĩa Lập 5 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Công Tộc 12 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

44. Phạm Trấn [范鎮] [? – ?]. Người xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc , phủ Hạ Hồng , Hải Dương ( nay thuộc Hải Dương ) Quang Bảo thứ 3 (1556), đời Mạc Tuyên Tông

Tên: Phạm Trấn [范鎮]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn

Ngày: Quang Bảo thứ 3 (1556), đời Mạc Tuyên Tông

Quê quán: Người xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc , phủ Hạ Hồng , Hải Dương ( nay thuộc Hải Dương )

Chức vụ: Làm quan cho nhà Mạc

Mô tả cuộc đời: Họ Mạc mở khoa thi Hội. Phạm Trấn, Đỗ Uông và Nguyễn Nghiêu Tá đỗ tiến sĩ cập đệ.

Làm quan cho nhà Mạc , khi nhà Mạc mất, cự tuyệt không ra làm quan cho nhà Lê nên bị ám hạị.

45. Đặng Thì Thố [鄧時錯] [1526 – ?]. Người làng Yên Lạc, huyện Thanh Lâm ( nay thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương ) Quang Bảo thứ 6 (1559), đời Mạc Tuyên Tông

Tên: Đặng Thì Thố [鄧時錯]

Năm sinh: 1526

Bằng cấp: Trạng nguyên khoa Kỷ Mùi

Ngày: Quang Bảo thứ 6 (1559), đời Mạc Tuyên Tông

Quê quán: Người làng Yên Lạc, huyện Thanh Lâm ( nay thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương )

Chức vụ: Làm quan cho nhà Mạc

Mô tả cuộc đời: Kỷ Mùi, [Chính Trị] năm thứ 2 [1559] , (Mạc Quang Bảo năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 38). Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho Đặng Thì Thố đỗ tiến sĩ cập đệ. Ông được nhà Mạc rất trọng dụng.

Ông là trạng nguyên thứ 40 của Việt Nam.

 

46. Phạm Đăng Quyết 范登厥 [? – ?]. Người làng Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Hải Dương ( Hải Dương ngày nay ) Thuần Phúc thứ nhất (1562), đời Mạc Mậu Hợp

Tên: Phạm Đăng Quyết 范登厥

Tên thật: Tên lúc nhỏ là Phạm Duy Quyết

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất

Ngày: Thuần Phúc thứ nhất (1562), đời Mạc Mậu Hợp

Quê quán: Người làng Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Hải Dương ( Hải Dương ngày nay )

Chức vụ: Làm quan đến Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Xác Khê Hầu

47. Phạm Quang Tiến [范光進] [? – ?]. Người làng Lương Xá, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Thuận Thành , Bắc Ninh ) Thuần Phúc thứ 4 (1565), đời Mạc Mậu Hợp

Tên: Phạm Quang Tiến [范光進]

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Sửu

Ngày: Thuần Phúc thứ 4 (1565), đời Mạc Mậu Hợp

Quê quán: Người làng Lương Xá, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Thuận Thành , Bắc Ninh )

Mô tả cuộc đời: Họ Mạc mở khoa thi Hội. Phạm Quang Tiến đỗ tiến sĩ cập đệ, bọn Phạm Hoành Tài 3 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Lại Mẫn 12 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

49. Vũ Giới 瑀价 [? – ?]. Người xã Lương Xá, huyện Lương Tài , trấn Kinh Bắc ( Thuận Thành, Bắc Ninh) Sùng Khang thứ 12 (1577)

Tên: Vũ Giới 瑀价

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Đinh Sửu

Ngày: Sùng Khang thứ 12 (1577)

Quê quán: Người xã Lương Xá, huyện Lương Tài , trấn Kinh Bắc ( Thuận Thành, Bắc Ninh)

Chức vụ: Làm quan đến lại bộ Thượng thự

Mô tả cuộc đời: Họ Mạc mở khoa thi Hội. Vũ Giới, Nguyễn Nhân Triêm, Phạm Gia Môn đỗ tiến sĩ cập đệ; Lê Viết Thảng 5 người đỗ tiến sĩ xuất thân; Trần Như Lâm 10 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

Chú thích: Cùng làng với Phạm Quang Tiến, trạng nguyên khoa thi 1565.

50. Nguyễn Xuân Chính 阮春正 [1587 – ?]. Người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) Dương Hòa thứ 3 (1637), đời Lê Thần Tông

Tên: Nguyễn Xuân Chính 阮春正

Năm sinh: 1587

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Đinh Sửu

Ngày: Dương Hòa thứ 3 (1637), đời Lê Thần Tông

Quê quán: Người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh)

Chức vụ: Làm quan đến Lại bộ Tả thị lang. Được tặng Thượng thư, tước Hầụ

Mô tả cuộc đời: Mùa đông, tháng 10, thi Hội các sĩ nhân trong nước. Lấy đỗ bọn Nguyễn Xuân Chính 20 người. Đến khi thi Đình, vua thân ra đầu đề văn sách, cho bọn Nguyễn Xuân Chính, Nguyễn Nghi, Nguyễn Thế Khanh đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Hữu Thường 2 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Cổn 15 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

51. Nguyễn Quốc Trinh 阮國偵 [1624 – 1624]. Người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Trấn Sơn Nam Thượng ( nay là xã Đại Áng, huyện Thanh Trì ,Hà Nội ) Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời Lê Thần Tông

Tên: Nguyễn Quốc Trinh 阮國偵

Năm sinh: 1624

Năm mất: 1674

Tóm tắt: 50

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Kỷ Hợi

Ngày: Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời Lê Thần Tông

Quê quán: Người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Trấn Sơn Nam Thượng ( nay là xã Đại Áng, huyện Thanh Trì ,Hà Nội )

Chức vụ: Làm quan đến Bồi tụng. Đi sứ Thanh ,bị giết hại, sau được truy tặng Binh bộ Thượng thư, Trì Quận Công. Vua cho tên thụy là Cường Trung và phong cho làm Thượng đẳng Phúc thân`.

Mô tả cuộc đời: Tháng 3, thi Hội các sĩ nhân trong nước. Lấy đỗ bọn Vũ Duy Đoàn 13 người.

Lấy Nguyễn Nhuận là Hình bộ tả thị lang, Nguyễn Quốc Khôi làm Hình bộ Hữu thị lang, Hoàng Vinh là Đại lý tự khanh.

Chú thích: Chữ “Trinh” sử cũ chép là “Khôi” Tham

khảo đăng khoa lục chép “Quốc Trinh” . Nay chép theo Đăng khoa lục.

52. Đặng Công Chất 鄧公質 [1621 – 1621]. Người làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội ) Vĩnh Thọ thứ 4 (1661)

Tên: Đặng Công Chất 鄧公質

Năm sinh: 1621

Năm mất: 1683

Tóm tắt: 62

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Tân Sửu

Ngày: Vĩnh Thọ thứ 4 (1661)

Quê quán: Người làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội )

Chức vụ: Làm quan đến Thượng thư bộ Binh , bộ Hình. Lúc mất được tặng Thiếu Bảo, tước Bá

Mô tả cuộc đời: Thi Hội các sĩ nhân trong nước. Lấy đỗ bọn Trần Xuân Bảng 13 người. Đến khi thi Điện, cho Đặng Công Chất, Đào Công Chính, Ngô Khuê 3 người đỗ tiến sĩ xuất thân; Trần Xuân Bảng, Lê Trí Bình 2 người đỗ tiến sĩ xuất thân.

Ất Tỵ, [Cảnh Trị] năm thứ 3 [1665], (Minh Vĩnh Lịch năm thứ 19; Thanh Khang Hy năm thứ 4). Mùa xuân, tháng 3, cho các chức trong ngoài được thăng cấp. Lấy Hàn lâm viện thị giảng Đặng Công Chất làm Công bộ hữu thị lang.

53. Lưu Danh Công 劉名公 [1643 – ?]. Người làng Phương Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam ( Nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ) Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời Lê Huyền Tông

Tên: Lưu Danh Công 劉名公

Năm sinh: 1643

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất

Ngày: Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời Lê Huyền Tông

Quê quán: Người làng Phương Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam ( Nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội )

Chức vụ: Làm quan đến Hàn lâm Học sĩ

Mô tả cuộc đời: Tân Hợi, [Cảnh Trị] năm thứ 9 [1671] , (Thanh Khang Hy năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, thi Điện. Cho Lưu Danh Công đỗ tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh.

54. Nguyễn Đăng Đạo 阮登道 [1650 – 1650]. Người làng Hoài Bão, huyện Tiên Sơn, trấn Kinh Bắc nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh ) Chính Hoà thứ 4 (1683), đời Lê Hy Tông

Tên: Nguyễn Đăng Đạo 阮登道

Tên thật: Nguyễn Đăng Liên

Năm sinh: 1650

Năm mất: 1718

Tóm tắt: 68

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Hợi

Ngày: Chính Hoà thứ 4 (1683), đời Lê Hy Tông

Quê quán: Người làng Hoài Bão, huyện Tiên Sơn, trấn Kinh Bắc nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan đến Hữu thị lang bộ Lại, Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Bá. Đi sứ Trung Quốc, lúc mất được tặng Thượng thư bộ Lại, Thọ Quận Công

Mô tả cuộc đời: Ông đỗ trạng Nguyên và bắt đầu làm quan trong triều khi vừa 33 tuổi. Làm việc ở toà Đông Các. Ông là người có công trong việc tham gia vào sự nghiệp giáo giục có nhiều tiến bộ của triều đình Lê Trung Hưng.

Bằng uy tín của mình, cùng với tính thẳng thắn trung thực, Nguyễn Đăng Đạo đã dám phê phán những việc còn chưa nghiêm, chưa đúng phép nước của hàng ngũ các chúa Trịnh, khi chúa càng ngày càng tỏ ra lấn lướt các vua Lê. Ông vạch ra cái sai của chúa Trịnh Căn, lúc mới lên ngôi đã định ra lệ cứ vào ngày sóc vọng, các quan mặc áo mũ đại trào sau khi chầu vua phải sang hầu chúa. Các quan đều phải theo, duy chỉ có Nguyễn Đăng Đạo bao giờ vào chầu vua xong cũng quay vào nhà cởi bỏ triều phục, mặc thường phục rồi mới vào phủ chúa. Trịnh Căn không bằng lòng hạch tội ông, Đăng Đạo khẳng khái thưa: “Mũ áo triều đình ban cho là để chầu thiên tử, nay nhà chúa cũng đòi trăm quan làm như thế với mình, e thiên hạ dị nghị là trái với đạo vua tôi.

Ngoài công việc nội trị, phải kể đến sự đóng góp quan trọng trên trận tuyến bang giao của trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Năm 1697, nhận chức chánh sứ, Nguyễn Đăng Đạo dẫn đầu đoàn sứ bộ nước ta đi sứ nhà Thanh với mục đích đòi lại những vùng đất thuộc Tuyên Quang, Hưng Hoá bị quan thổ ti nhà Thanh lấn chiếm trái phép (chuyến đi sứ của trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo kéo dài từ tháng Giêng năm Đinh Sửu 1697 đến tháng 4 năm mậu Dần 1698. Những ngày Nguyễn Đăng Đạo cùng đoàn sứ bộ lưu lại Yên Kinh. Vua quan triều đình nhà Thanh đưa ra nhiều thử thách để thử tài ông. Vua Thanh đưa ra vế đối “Xuân tiêu phong nguyệt”. Nguyễn Đăng Đạo đã đối lại một cách tài tình khiến vua Thanh phải khen là “chung đúc cải tạo hoá trong một con người”.

Văn tài của Nguyễn Đăng Đạo đã làm kinh ngạc cả triều đình nhà Thanh cùng sứ thần các nước. Vua Thanh phong cho ông là trạng nguyên của Bắc triều, ban mũ áo, võng lọng cho ông vinh quy về nước. Đoàn sứ bộ mỗi khi ghé qua các tỉnh Trung Quốc đều được đón rước long trọng.

Chú thích: Ông còn được gọi là Trạng Bịu, Lưỡng quốc Trạng nguyên.

55. Trịnh Huệ [鄭橞] [1701 – ?]. Người xã Sóc Sơn, huyện Quảng Hóa, Thanh Hoá ( nay thuộc huyện Quảng Xương, Thanh Hoá ) Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), đời Lê Ý Tông

Tên: Trịnh Huệ [鄭橞]

Tên thật: Tên hiệu là Cúc Lam, tên khác là Tuệ

Năm sinh: 1701

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn

Ngày: Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), đời Lê Ý Tông

Quê quán: Người xã Sóc Sơn, huyện Quảng Hóa, Thanh Hoá ( nay thuộc huyện Quảng Xương, Thanh Hoá )

Chức vụ: Làm quan Tham tụng rồi được thăng lên Thượng thư bộ Hình, Quốc Tử Giám Tế Tửu ( thời Trịnh Doanh )

Mô tả cuộc đời: Trịnh Huệ là Trạng nguyên cuối cùng của lịch sử khoa cử Nho giáo Việt Nam.Ông là cháu đời thứ 4 của chúa Trịnh Tùng (1550 – 1623). Trước khi đỗ trạng, Trịnh Huệ đỗ hương cống và đã vào làm việc trong phủ Tân Nhân, giữ chức Phó hình phiên. Gia đình ông đều có những người đỗ đạt. Anh ruột là Trịnh Côn và các con ông là Trịnh Đức, Trịnh Sa đều đỗ hương cống và làm quan dưới triều Lê Trịnh. Trịnh Huệ vốn thông minh, học giỏi. Mọi người đều bái phục ông thông minh và hiểu biết rộng.

Trịnh Huệ là tác giả cuốn “Tam giáo”, người nhuận sắc và soạn văn một số bia hiện còn ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình… Đặc biệt ông cùng với bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 – 1766) người cùng quê đã soạn văn bia: “Khánh nguyên kỳ bi ký” dựng năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752) để ghi công tích đối với dân với nước của nhân vật có hiệu là Quy Triều hầu, khi mất được tặng phong là Đô đốc trụ quốc Thượng tướng quân, người huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đây là tấm bia khá đặc biệt, vì soạn văn là Trịnh Huệ và Hà Tông Huân, hai người đứng nhất nhì bảng Tam khôi và đều giữ chức Tể tướng.

56. Nguyễn Như Đổ 阮如堵 [? – ?]. Huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín (Huyện Thanh Trì, Hà Nội) Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Nguyễn Như Đổ 阮如堵

Tên thật: Mạnh An, hiệu là Khiêm Trai

Bằng cấp: Đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: Huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín (Huyện Thanh Trì, Hà Nội)

57. Lương Như Hộc 粱如鵠 [? – ?]. Huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Lương Như Hộc 粱如鵠

Bằng cấp: Đỗ Thám hoa khoa Nhâm Tuất

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: Huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng

Chức vụ: Bí thư các giám học sĩ, đồng thời trông coi thư viện

58. Trần Văn Huy [? – ?]. huyện Bất Bạt, phủ Thao Giang Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Trần Văn Huy

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Bất Bạt, phủ Thao Giang

Hoàng Sằn Phu 黄莘夫 [? – ?]. huyện Vĩnh Ninh, phủ Thiện Thiêu Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Hoàng Sằn Phu

黄莘夫

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Vĩnh Ninh, phủ Thiện Thiêu

59. Nguyễn Hộc [? – ?]. huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Nguyễn Hộc

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa

Vũ Lãm 㰖 [? – ?]. huyện Kim Động, phủ Khoái Châu Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Vũ Lãm

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Kim Động, phủ Khoái Châu

60. Nguyễn Hữu Phu 有孚 [? – ?]. huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Nguyễn Hữu Phu 有孚

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai

Phạm Cư [? – ?]. huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Phạm Cư

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.987
  • 109
  • 3.166
  • 143
  • 3.777.446
  • 781.320