Thần tiên Việt Nam

Khoa Bảng Trạng Nguyên Việt Nam 越南狀元 2 (1000-1945)

Khoa Bảng Trạng Nguyên Việt Nam

越南狀元

(1000-1945)

 

18. Nguyễn Trực 阮直 [1417 – 1417]. người làng Bối Khê, huyện Ứng Thiên, trấn Sơn Nam ( nay thuộc huyện Thanh Oai , Hà Tây ) Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Tên: Nguyễn Trực 阮直

Tên thật: tên chữ là Công Dĩnh, tên hiệu là Hu Liêu

Năm sinh: 1417

Năm mất: 1474

Tóm tắt: 57

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất

Ngày: Đại Bảo thứ 3(1442), đời Lê Thái Tông

Quê quán: người làng Bối Khê, huyện Ứng Thiên, trấn Sơn Nam ( nay thuộc huyện Thanh Oai , Hà Tây )

Chức vụ: Làm quan đến Hàn lâm viện Thị giảng

Mô tả cuộc đời: Nguyễn Trực (1417 – 1473) là vị Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Khi đi sứ Trung Quốc, ông được các sĩ phu ở đây nể phục, xưng tặng là “lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Nguyễn Trực sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi có học vấn, đỗ đạt cao: Ông nội là tiến sĩ Nguyễn Bính (dưới triều vua Trần Hiến Tông từng giữ chức: “Nho học huấn đạo giáo quan Quốc Tử Giám”), bố đẻ là tiến sĩ Nguyễn Thời Trung làm quan giáo thục Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông,… Nguyễn Trực quê làng Bối Khê – Thanh Oai – Hà Tây. Ông sinh ngày 16-5 năm Đinh Dậu (1417), thuở nhỏ đã nổi tiếng là người rất mực thông minh, mẫn tiệp. Lên 8 tuổi đi học, 12 tuổi có khả năng làm thơ văn. Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực tham dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Đến năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), Nguyễn Trực 25 tuổi, tham dự kỳ thi Đình và đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông được nhà vua ban sắc “Quốc Tử Giám thi thư” và ban thưởng á Liệt Khanh, đứng đầu trong số 33 vị tiến sĩ cùng khóa. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên cho người đỗ đạt cao nhất. Hiện nay, tên tuổi của ông vẫn đứng đầu trong các bia tiến sĩ ở Văn Miếu.

Sử sách chép rằng: Nguyễn Trực sinh ra trong thời buổi loạn lạc, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Cha của Nguyễn Trực lúc đó phải lánh nạn về phía tây ở Tiểu Đông Mộng – thôn Cây Thượng – xã Nghĩa Hương – Quốc Oai – Hà Tây. Tại đây Nguyễn Thời Trung gặp và kết duyên với một phụ nữ tên là Đỗ Thị Chừng, sinh ra Nguyễn Trực ở Am Long Khôi – núi Phật tích thuộc địa phận xã Sài Sơn – Quốc Oai – Hà Tây ngày nay. Thấy ông còn ít tuổi mà đã đăng quang, nên vua Lê Thái Tông ban cho ông yến tiệc của vườn Quỳnh, cưỡi bạch mã đi dạo quanh kinh đô Tràng An,…

Ngày 3-5-1442, cha Nguyễn Trực qua đời, ông phải về chịu tang. Năm Giáp Tý niên hiệu Thái Hòa thứ hai (1444), dưới triều vua Lê Nhân Tông, Nguyễn Trực được vua ban chức “Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ Vu kỵ úy”. ít lâu sau, ông được vua tuyên triệu về triều ban chức “Hàn lâm viện thị giảng chi thập thị học sĩ ngự tiền học sinh nhị cục tầm ban”. Năm ất Sửu niên hiệu Thái Hòa thứ ba (1445) được đổi lại thành “Thiếu trung khanh đại phu Ngự sứ Đài ngự sử thị Đô úy”. Nhưng Nguyễn Trực đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê Nhân Tông phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.

Ngày 13-3 năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông phải về chịu tang. Trên đường về, các học sĩ của bốn phương đến theo học với ông rất đông. Cũng từ đây, nhiều bậc cự nho, danh sĩ khoa bảng được vua ban áo, mũ đều từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông về quê chịu tang mẹ. Năm Đinh Sửu niên hiệu Diệu Linh thứ ba (1457), tháng sáu mãn tang mẹ thì đến tháng tám có sứ nhà Minh là Hoàng Gián tìm gặp. Vua Lê Nhân Tông tuyên triệu ông vào tiền Điện. Nhờ tài thơ văn ứng phó tuyệt vời, ông đã khiến sứ giả nhà Minh vô cùng cảm phục. Sau tập thơ “Lưu biệt” gồm 50 vận làm vẻ vang đất nước, ông được vua cử đi sứ sang Trung Quốc. Sang đó, gặp kỳ thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực cùng phó sứ là Trịnh Khiết Tường muốn cho nhà Minh biết tài học vấn của người nước Việt, nên đã đăng ký tham dự kỳ thi đó. Sau kỳ thi năm ấy, Trạng nguyên Nguyễn Trực được người Minh xưng tặng là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, phó sứ Trịnh Khiết Tường được đỗ bảng nhãn. Trở về nước, cả hai ông đều được vua phong chức Thượng thư và ban thưởng tám chữ vàng: “Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã” (Công danh cả hai nước đều hoàn thành).

Nguyễn Trực là người đầu tiên mở ra danh vị Khôi nguyên của nước Việt, văn chương rạng rỡ một thời. Nhắc đến tên tuổi của ông là người ta hình dung tới một nơi kết tụ sự hiểu biết của các triều vua điển văn học thuật ở chốn Hàn lâm. Ông là người có phong cách rất mực khiêm nhường, chan hòa. Ngày nay sử sách còn ghi lại: Vào năm Nhâm Tuất (1442) dưới triều vua Lê Thái Tông, khi ông tham dự kỳ thi Đình, trong đề thi có bảy câu hỏi xoay quanh vấn đề “Luận về phép trị nước của các vương triều”. Nguyễn Trực đã khẳng khái trả lời: “Vua sáng tôi hiền thì nước sẽ thịnh, vua không sáng tôi không hiền thì nước sẽ suy vong”. Dù lịch sử dân tộc đã trải qua nhiều bước thăng trầm, song tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói ngời trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Hữu Hoa.

Làm quan đến Hàn lâm viện Thị giảng, đi sứ nha Minh gặp khi thi hội, ứng chế ông lại đỗ đầụ Người đương thời gọi ông là Lưỡng quốc Trạng nguyên- Trạng nguyên hai nước . Hiện còn 3 tác phẩm : Bảo anh lương phương ( y học ), Hu Liêu tập (văn), và Ngu nhàm (văn). Nhâm Tuất, [Đại Bảo] năm thứ 3 [1442], (Minh Chính Thống năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, làm cung điện mới.

Tháng 3, tổ chức thi hội cho sĩ nhân trong nước. Cho bọn Nguyễn Trực, Nguyễn Nhữ Đổ, Lương Như Hộc 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân. Lại sai soạn văn bia, dựng bia ghi tên các tiến sĩ. Bia tiến sĩ bắt đầu có từ đây.

19. Nguyễn Nghiêu Tư 阮堯咨 [? – ?]. người xã Phú Lương , huyện Võ Giàng , phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Quế Võ,Bắc Ninh) Thái Hoà thứ 6 (1448), đời Lê Nhân Tông

Tên: Nguyễn Nghiêu Tư 阮堯咨

Tên thật: tên hiệu là Tùng Khê, thuở nhỏ còn có tên tục là Lợn

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn

Ngày: Thái Hoà thứ 6 (1448), đời Lê Nhân Tông

Quê quán: người xã Phú Lương , huyện Võ Giàng , phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Quế Võ,Bắc Ninh)

Chức vụ: Làm quan An phủ sứ, Hàn lâm trực học sĩ. Đi sứ nhà Minh rồi được thăng lên Lại bộ Thượng thư .

Mô tả cuộc đời: Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Nguyễn Văn Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn).

Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh.

Trong kì thi đình vua thân ra đề văn sách, hỏi về lễ nhạc, hình, chính. Nguyễn Nghiêu Tư đỗ trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đỗ bảng nhãn, Chu Thiêm Uy đỗ thám hoa lang, bọn Nguyễn Mậu 12 người đỗ tiến sĩ, bọn Đoàn Nhân Công 13 người phụ bảng.

Nghiêu Tư từng thông dâm với mẹ vợ, bấy giờ, có người ghi vào chuồng lợn là “Phường trạng nguyên”, có người hát ở đường cái rằng: “Trạng nguyên trư {1716} Nguyễn Nghiêu Trư” là chế giễu hành vi xấu xa đó.

Song trong ngành toán học, ông vẫn được biết đến với việc tìm hiểu cảm giác về không gian, điều gì khiến chúng ta phải giới hạn nó lại, và giới hạn bằng cách nào?

20. Lương Thế Vinh 粱世榮 [1441 – ?]. người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ ( nay là Nam Định ) Quang Thuận thứ 4 (1463), đời LêThánh Tông

Tên: Lương Thế Vinh 粱世榮

Tên thật: tên chữ là Cảnh Nghị , hiệu là Thụy Hiên

Năm sinh: 1441

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Mùi

Ngày: Quang Thuận thứ 4 (1463), đời LêThánh Tông

Quê quán: người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ ( nay là Nam Định )

Chức vụ: Làm quan các chức: Trực học sĩ viện Hàn lâm, Thị thư, Chưởng viện sự

Mô tả cuộc đời: Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất thông minh. Cậu rất thích thả diều, bẫy chim cùng với lũ trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng sáo trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mà lắng nghe…. Cùng đi câu với các với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Những chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục. Người thời đã gọi cậu là “Thần đồng”

Lương Thế Vinh là một vị quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường tôn pháp. người còn nổi tiếng về đức tnh thẳng thắn, trung thực. Người thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.

Thiên tài toán học Trạng Nguyên Lương Thế Vinh với Khải Minh Toán học và Đại thành Toán pháp. Qua những phép tính với số 0, Trạng nguyên Lương Thế Vinh khẳng định thế gian có những vật toàn mãn thực sự…

21. Vũ Kiệt 瑀傑 [? – ?]. Người xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, Kinh Bắc ( nay là huyện Thuận Thành ,Bắc Ninh ) Hồng Đức thứ 3 (1473), đời Lê Thánh Tông

Tên: Vũ Kiệt 瑀傑

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Tỵ

Ngày: Hồng Đức thứ 3 (1473), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: Người xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, Kinh Bắc ( nay là huyện Thuận Thành ,Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan đến Tả thị lang kiêm Đông các hiệu thư

Mô tả cuộc đời: Trong các cuốn: “Văn hiến Kinh Bắc” (tập 1), “Các vị Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa-Qua các triều đại phong kiến Việt Nam”, “Đại cương lịch sử Việt Nam” đã chứng minh rằng: Khoa Nhâm Thìn (1472), niên hiệu Hồng Đức thứ 3; ngày 7-4 năm Nhâm Thìn, vua Lê Thánh Tông ra đề thi văn sách về sách lược đế vương trị nước, mà Vũ Kiệt thi đỗ Trạng nguyên là thời kỳ giáo dục thi cử phong kiến phát triển cực thịnh. Bài “Văn sách thi đình” của ông đã được triều đình coi như một kiệt tác nói về “Sách lược” để trị nước, an dân và bài văn sách được lưu truyền làm mẫu mực cho các sĩ tử sau này học tập. Trạng nguyên Vũ Kiệt được ca ngợi là “bậc thiên tài kiệt xuất, đức độ vẹn toàn”, là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo.

Những di chứng lịch sử nói trên, đã khẳng định: Trạng nguyên Vũ Kiệt là danh nhân ở thời đại trước chúng ta hơn 500 năm.

Lời chua – Vũ Kiệt: Người làng Yên Việt, huyện Siêu Loại.

Tháng 8, mùa thu. Định lễ tế đinh ở các phủ.

Chế độ cũ, tế đinh ở Văn Miếu, thuộc các lộ chưa có thời kỳ nhất định. Đến đây, chuẩn định hàng

năm các phủ làm lễ vào ngày thượng đinh trong 2 tháng trọng về mùa xuân và mùa thu11.

Quý Tỵ, năm thứ 4 (1473). (Minh, năm Thanh Hóa thứ 9).

Tháng giêng, mùa xuân. Nhà vua thân hành cày tịch điền12.

Nhà vua thân hành đem quần thần cày tịch điền, để khuyến khích nhân dân trong nước.

Tháng 3. Nhà vua đi tuần di Tây Kinh, bèn vào bái yết từ đường Thuần Mậu.

22. Vũ Tuấn Thiều 瑀俊韶 [1425 – ?]. Người làng Nhật Thiều, huyện Quảng Đức, phủ Trung Đô ( Nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội ) Hồng Đức thứ 6 (1475), đời Lê Thánh Tông

Tên: Vũ Tuấn Thiều 瑀俊韶

Năm sinh: 1425

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Mùi

Ngày: Hồng Đức thứ 6 (1475), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: Người làng Nhật Thiều, huyện Quảng Đức, phủ Trung Đô ( Nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội )

Chức vụ: Làm quan đến Lại bộ Tả thị lang

Mô tả cuộc đời: Ông được biết đến với học thuyết bí mật về ánh sáng: “Ánh sáng là gì mà có thể nhìn thấy mà không nắm bắt được? Bóng tối cũng thế. Nó là gì mà chỉ có thể nhìn thấy mà không thể sờ đựợc vào nó? Vậy nó (bóng tối) là gì mà có thể ngăn ánh sáng lại được?”.

23. Phạm Đôn Lễ [范敦禮] [1454 – ?]. Người làng Hải Triều , huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, trấn Sơn Nam Hạ ( nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình ) Hồng Đức thứ 12 (1481), đời Lê Thánh Tông

Tên: Phạm Đôn Lễ [范敦禮]

Năm sinh: 1454

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Tân Sửu

Ngày: Hồng Đức thứ 12 (1481), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: Người làng Hải Triều , huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, trấn Sơn Nam Hạ ( nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình )

Chức vụ: Làm quan đến Thị lang, Thượng thự

Mô tả cuộc đời: Ông là tổ sư nghề dệt chiếu cói Hới nổi tiếng của tỉnh Thái Bình. Ông đã đem các kỹ thuật dệt chiếu tiên tiến mà ông học được ở Quế Lâm tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, về truyền bá cho dân làng Hải Triều và dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam Hạ. Trước đó dân miền biển thường dệt chiếu với bàn dệt đứng không có ngựa đỡ. Với kỹ thuật dệt chiếu với bàn dệt nằm có ngựa đỡ sợi, học được của người Tàu, ông đã giúp người dân quê hương dệt ra những loại chiếu đẹp hơn, sợi đan đều hơn. Sợi đay được căng trên ngựa đỡ, thuận lợi cho người trào gọn (tức là trao cói), đẩy nhanh được tốc độ dệt chiếu. Chính nhờ cải cách này nghề dệt chiếu thủ công ở vùng ven biển miền Bắc trở nên phát triển, làng Hải Triều thành làng dệt chiếu nổi tiếng.

Trước đây, các cử nhân trong nước thi hội, lấy bọn Phạm Đôn Lễ 40 người được trúng tuyển;

đến nay nhà vua thân hành ra bài sách hỏi về lý số, cho bọn Phạm Đôn Lễ, Lưu Hưng Hiếu và Nguyễn

Doãn Địch 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ2; bọn Ngô Văn Cảnh 8 người đỗ tiến sĩ xuất thân3; bọn Nguyễn Minh

Đạo 29 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

Con trai Phạm Đôn Lễ là Phạm Nguyên Chấn cũng đỗ tiến sĩ ở triều nhà Lê sơ.

24. Nguyễn Quang Bật 阮光弼 [1463 – 1463]. Người làng Bình Ngô, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, Kinh Bắc ( Nay là huyện Gia Lương, Bắc Ninh ) Hồng Đức thứ 15 (1484), đời Lê Thánh Tông

Tên: Nguyễn Quang Bật 阮光弼

Năm sinh: 1463

Năm mất: 1505

Tóm tắt: 42

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn

Ngày: Hồng Đức thứ 15 (1484), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: Người làng Bình Ngô, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, Kinh Bắc ( Nay là huyện Gia Lương, Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan Hàn lâm Hiệu lý

Mô tả cuộc đời: Ông là thành viên nhóm Tao Đàn nhị thập bát tú. Vì trái ý của Lê Uy Mục nên bị giáng xuống Thưà Tuyên, Quảng Nam. Vua sai người mật dìm chết ở sông Phúc Giang. Tương Dực Đế biết ông chết oan, bèn truy phong tước Bá , và tặng lá cờ thêu 3 chữ” Trung Trạng Nguyên “. Vua còn cho dân địa phương lập miếu thờ làm thành hoàng.

Ông là một trong 28 người theo vần trong chín bài ca của nhà vua là: phong niên, quân đạo, thần tiết, minh lương, anh hiển, kỳ khí, thư

thảo, văn nhân, mai hoa để họa lại, gọi là tao đàn nhị thập bát tú

(28 ngôi sao của Tao đàn).

Ông và các trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Nguyễn Hiền, Lý Đạo Tái ( sư Huyền Quang),vừa cố gắng làm sáng tỏ Đạo của người Đại Việt, vừa kiến giải, tiếp thu Đạo Phật theo cách riêng của người Đại Việt… Mặc dù nền khoa bảng hoàn toàn dựa vào kinh sách của Nho gia nhưng ở mỗi vị Trạng Nguyên, cái ý chí độc lập về tinh thần, về tri thức luôn thức tỉnh mạnh mẽ.

Nếu bạn muốn biết Chữ Nôm – chữ của người Đại Việt hình thành thế nào, bạn hãy đọc về Trạng Nguyên Nguyễn Quang Bật.

25. Trần Sùng Dĩnh 陳崇穎 [1465 – ?]. Người làng Đông Khê, huyện Thanh Lâm, phủ Thượng Hồng ( Nay là huyện Thanh Hà, Hải Dương ) Hồng Đức thứ 18 (1487), đời Lê Thánh Tông

Tên: Trần Sùng Dĩnh 陳崇穎

Năm sinh: 1465

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Đinh Mùi

Ngày: Hồng Đức thứ 18 (1487), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: Người làng Đông Khê, huyện Thanh Lâm, phủ Thượng Hồng ( Nay là huyện Thanh Hà, Hải Dương )

Chức vụ: Làm quan Đô ngự sử Thập nhị Kinh diên, rồi được thăng lên Hộ bộ Thượng thự Khi mất được phong cho làm Phúc thân` tại quê

Mô tả cuộc đời: Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 7, vua thân hành ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước. Xem quyển xong lại cho gọi các tiến sĩ hạng ưu vào cửa Nhật Quang, thân hành giám định. Lấy Trần Sùng Dĩnh đỗ thứ nhất, rồi đến Nguyễn Đức Huấn, Thân Cảnh Vân, đều ban tiến sĩ cập đệ; bọn Vũ Cảnh 30 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Phạm Trân 27 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

Nơi an nghỉ: Quê nhà

26. Vũ Duệ [武睿] [? – ?]. người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây( nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc) Hồng Đức thứ 21 (1490)

Tên: Vũ Duệ [武睿]

Tên thật: Vũ Công Duệ, tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất

Ngày: Hồng Đức thứ 21 (1490)

Quê quán: người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây( nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc)

Chức vụ: Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo, tước Trịnh Khê Hầụ

Mô tả cuộc đời: Vũ Duệ, Ngô Hoán, Lưu Thư Ngạn 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ.

Ông được tuyên dương là một trong 8 người bề tôi tử tiết.

Trước kia, họ Mạc tiếm quyền giết vua, Chiêu Tông nhà Lê phải bỏ kinh thành chạy ra ngoài, bấy

giờ bầy tôi nhiều người tử tiết. Nay tham tụng Phạm Công Trứ kiến nghị xin tuyên dương những người ấy

và lựa chọn bổ dụng con cháu của họ.

Lúc ấy những người sau này được sắc phong:

Sắc phong thượng đẳng thần: Vũ Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Mẫn Đốc, Nguyễn Thiệu Tri, Đàm

Thận Huy, Lê Tuấn Mậu, Nguyễn Duy Tường và Nguyễn Tự Cường;

Sắc phong trung đẳng thần: Lê Vô Cương, Nguyễn Hữu Nghiêm, Lại Kim Bảng, Nguyễn Thái Bạt

và Nghiêm Bá Kỳ.

Những người được phong làm thần, đều cho dựng từ đường ở trong làng theo thời tiết tế tự như

thể lệ tế bách thần. Con cháu của họ thì lựa chọn bổ dụng những người có đức hạnh tốt; còn những

người khác thì điều trừ dao dịch cho nhà họ.

Ông nổi tiếng về óc sáng tạo và khẩu tài từ lúc nhỏ, qua những giai thoại về con voi biết đi ( lấy đất nặn hình, lấy bướm làm tai, lấy đỉa làm vòi, lấy cua làm chân), và lối khất nợ bán gió mua que (bán quạt, mua tre nứa làm cốt quạt). Trạng Nguyên Vũ Công Duệ nổi tiếng trung trực. Sau nhà Mạc cướp ngôi, Ông bất bình không chịu theo nhà Mạc, đeo ấn Ngự Sử nhảy xuống cửa bể Thần Phù tự trầm. Sáu mươi năm sau hài cốt ông được cải táng về quê nhà khi Lê Trung Hưng là vua, và được phong làm “Thượng Đẳng Phúc Thần”.

27. Vũ Tích 武績 [? – ?]. Người làng Man Nhuế, huyện Thanh Lâm, Thừa Tuyên , Hải Dương ( nay thuộc huyện Nam Thanh , Hải Dương ) Hồng Đức thứ 24 (1493)

Tên: Vũ Tích 武績

Tên thật: Vũ Dương

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Sửu

Ngày: Hồng Đức thứ 24 (1493)

Quê quán: Người làng Man Nhuế, huyện Thanh Lâm, Thừa Tuyên , Hải Dương ( nay thuộc huyện Nam Thanh , Hải Dương )

Chức vụ: Làm quan đến Hàn lâm Thị thư, đi sứ Trung Quốc, được thăng lên Công bộ Thượng thư, tước Hầụ Có chân trong nhóm Tao Đàn thị nhập bát tú của LêThánh Tông

Mô tả cuộc đời: Vũ Tích và Nguyễn Quang Bật là những người đã có những trang viết về chữ Nôm – chữ của người Đại Việt hình thành thế nàò.

28. Nghiêm Hoản [嚴睆] [? – ?]. xã Phùng Ninh Giang, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay huyện Quế Võ,Bắc Ninh) Hồng Đức thứ 27 (1496), đời Lê Thánh Tông

Tên: Nghiêm Hoản [嚴睆]

Tên thật: Viên

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn

Ngày: Hồng Đức thứ 27 (1496), đời Lê Thánh Tông

Quê quán: xã Phùng Ninh Giang, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay huyện Quế Võ,Bắc Ninh)

Chức vụ: Ông mất ngay sau khi đỗ, chưa kip nhận chức

29. Đỗ Lý Khiêm 杜俚謙 [? – ?]. Người xã Dong Lãng, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam Hạ (Nay là huyện Vũ Thư ,Thái Bình ) Cảnh Thống thứ 2 (1499), đời Lê Hiến Tông

Tên: Đỗ Lý Khiêm 杜俚謙

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa thi Kỷ Mùi

Ngày: Cảnh Thống thứ 2 (1499), đời Lê Hiến Tông

Quê quán: Người xã Dong Lãng, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam Hạ (Nay là huyện Vũ Thư ,Thái Bình )

Chức vụ: Làm quan đến Phó đô Ngự sử

Mô tả cuộc đời: Đỗ Lý Khiêm, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Khắc Kiệm là ba người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

Chú thích: Đi sứ nhà Minh bị mất ở dọc đường.

30. Lê Ích Mộc 黎益沐 [? – ?]. Người xã Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn (Nay là huyện Thủy Nguyên , thành phố Hải Phòng) Cảnh Thống thứ 5 ( 1502), đời Lê Hiến Tông

Tên: Lê Ích Mộc 黎益沐

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất

Ngày: Cảnh Thống thứ 5 ( 1502), đời Lê Hiến Tông

Quê quán: Người xã Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn (Nay là huyện Thủy Nguyên , thành phố Hải Phòng)

Chức vụ: Làm quan đến Tả thị lang

Mô tả cuộc đời: Thuở nhỏ, nhà nghèo, Lê Ích Mộc phải đến ở nhờ chùa Diên Phúc của làng để học. Ông chăm học, chăm làm, nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tốt. Theo sánh Đồng Khánh địa dư chí, ông có tài đọc nhanh, lướt mắt là có thể đọc được 10 dòng. Tài liệu đã đọc, dù bỏ lâu cũng không quên. Đại Việt sử ký Toàn thư cho biết, sau khi thi đỗ được vào bái yết nhà vua, Lê Ích Mộc bưng lư hương đồng nóng bỏng tuột cả da tay mà không biết, điều này nói lên khả năng tập trung cao của ông. Lê Ích Mộc hiểu biết sâu cả nho, phật, lão giáo. Năm 43 tuổi mới đi thi và liên tiếp đỗ cả 3 khoa thi hương, hội, đình. Ông đỗ Trạng Nguyên khoa Nhâm Tuất (1502) và được bổ dụng ngay làm quan, trải thăng đến chức Tả Nhị Lang. Nhưng Lê Ích Mộc không ham danh lợi, sau khi nghỉ hưu về quê nhà, ông mở trường dạy học, tiếp thu tìm hiểu sâu đạo phật, lại khiến khích giúp đỡ dân làng khai hoang, trồng cây, gây rừng. Tương truyền, rừng lim ở Thanh Lãng xưa là do ông vận động dân trồng.

Sau khi ông mất, dân làng cảm công đức, tạc tượng ông, xây đền trên nền trường học cũ do ông mở để thờ. Triều đình truy ân phong là phúc thần. Mộ Lê Ích Mộc được xây bằng gạch trên sườn núi Lăng, vốn là khu rừng lim xưa kia ông vận động dân trồng. Mộ đặt hướng Tây nam, nhìn ra sông Việt. Trên mộ gắn tâm bia khắc dòng chữ Trạng nguyên Lê Ích Mộc (1960 – ?). Mất ngày 15 tháng 2 năm Giáp Ngọ. Đỗ Trạng Nguyên khoa nhâm tuất, niên hiệu Cảnh Thống năm thư 5 (1502), đời Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Tả Thị Lang.

Trước bia đặt bát hương đá tròn, 2 nấc. Tương truyền bát hương đá này được mang từ đền quan Trạng trên nền cũ của ngôi đền xưa.

Năm 1992, nhân dân địa phương dựng một ngôi nhà nhỏ để thờ Lê Ích Mộc gọi là Từ Đường quan Trạng trên nền cũ của ngôi đền xưa.

Từ đường Lê Ích Mộc còn lưu giữ được 2 di vật có niên đại Tây Sơn, đó là quả chuông đồng cao 90cm, đường kính miệng 45cm, bên cạnh bài minh còn có 4 chữ hán Diên phúc tự chungggg, khẳng định di vật của chùa Diên Phúc, chuông được đúng năm Cảnh Thịnh tam niên (1975).

Hiện vật thứ hai là bia được khắc dọc theo giữa thân 7 chữ Hán trong khuyên tròn Lê Ích Mộc Trạng nguyên phục miếuuuu (Miếu thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc). Hai bên dòng chữ này ghi tên những người trong vùng bỏ tiền của cúng tiến, bia chỉ có chữ ở một mặt, tạc năm Cảnh Thịnh nhất niên (1793).

Những di vật của thời đại Tây Sơn trong lịch sử dân tọc có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu lịch sử Hải Phòng về nhiều lĩnh vực nghệ thuật, tôn giáo, địa danh. Lăng mộ, từ đường Trạng nguyên Lê Ích Mộc được Nhà Nước xếp hạng năm 1993.

31. Lê Nại 黎柰 [1528 – ?]. Người xã Mộ Trạch , huyện Đường Am, phủ Thượng Hồng( nay là huyện Cẩm Bình, Hải Dương ) Đoan Khánh thứ nhất (1505) đời Lê Uy Mục

Tên: Lê Nại 黎柰

Tên thật: Lê Đỉnh

Năm sinh: 1528

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Sửu

Ngày: Đoan Khánh thứ nhất (1505) đời Lê Uy Mục

Quê quán: Người xã Mộ Trạch , huyện Đường Am, phủ Thượng Hồng( nay là huyện Cẩm Bình, Hải Dương )

Chức vụ: Làm quan đến Hộ bộ Thị Lang , lúc mất được tặng tước Đạo Trạch Bá

Mô tả cuộc đời: Tương truyền tổ tiên ông ở Xã Lao La, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Thanh Hóa, chuyển cư ra Mộ Trạch được vài đời .Thuở nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Nại học rất giỏi, ông và em trai đều nổi tiếng thần đồng . Vừa học lại vừa dạy cho con em các nhà trong làng làm kế sinh nhai, ông vẫn cần mẫn, tiếng tăm hay chữ nhất vùng . Năm 24 tuổi thi hương đỗ đầu giải nguyên.

Quan Thượng Thư Vũ Quỳnh, người cùng làng mến tài, gả con gái cho, lại cho sang ở rể để tiện bề tra cứu sách vở , học hành trong thư phòng của quan . Năm 27 tuổi, ông đỗ đầu Trạng Nguyên trong số 55 tiến sĩ được chấm của khoa Ất Sửu (1505) đời vua Uy Mục, năm Đoan Khánh thứ nhất .

32. Nguyễn Giản Thanh 阮簡清 [1482 – ?]. Người xã Hương Mặc ( Ông Mặc ), huyện Đông Ngàn , phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay là huyện Tiên Sơn , Bắc Ninh ) Đoan Khánh thứ 4 ( 1508), đời Lê Uy Mục

Tên: Nguyễn Giản Thanh 阮簡清

Năm sinh: 1482

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn

Ngày: Đoan Khánh thứ 4 ( 1508), đời Lê Uy Mục

Quê quán: Người xã Hương Mặc ( Ông Mặc ), huyện Đông Ngàn , phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay là huyện Tiên Sơn , Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan đến Viện hàn lâm Thị thư, kiêm Đông các Đại học sĩ. Đi sứ phương Bắc rồi được thăng lên Thượng thư, Hàn lâm Thị độc Chưởng viện sự, tước Trung Phủ Bá, lúc mất được tăng tước Hầu

Mô tả cuộc đời: Ông lúc nhỏ rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên; nên tục gọi là Trạng Me.

Nguyễn Giản Thanh, Hứa Tam Tỉnh, Nguyễn Hữu Nghiêm 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ trong kì thi đình.

33. Hoàng Nghĩa Phú 黄義富 [1479 – ?]. Người xã Lương Xá ( sau làm nhà ở Đan Khê ), huyện Thanh Oai , tỉnh Hà Sơn Bình ( nay là xã Đa Sĩ, Thanh Oai, Hà Tây ) Hồng Thuận thứ 2 (1511), đời Lê Tương Dực

Tên: Hoàng Nghĩa Phú 黄義富

Năm sinh: 1479

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Tân Mùi

Ngày: Hồng Thuận thứ 2 (1511), đời Lê Tương Dực

Quê quán: Người xã Lương Xá ( sau làm nhà ở Đan Khê ), huyện Thanh Oai , tỉnh Hà Sơn Bình ( nay là xã Đa Sĩ, Thanh Oai, Hà Tây )

Chức vụ: Làm quan đến Tham tri chính sự, kiêm Đô ngự sử. Lúc mất được phong làm phúc thần

Mô tả cuộc đời: Hoàng Nghĩa Phú, Trần Bảo Tín, Vũ Duy Chu là 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

34. Nguyễn Đức Lượng 阮德亮 [? – ?]. Người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam ( nay thuộc Thanh Oai, Hà Tây) Hồng Thuận thứ 5 (1514), đời Lê Tương Dực

Tên: Nguyễn Đức Lượng 阮德亮

Tên thật: Ông vốn tên là Hề

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên

Ngày: Hồng Thuận thứ 5 (1514), đời Lê Tương Dực

Quê quán: Người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam ( nay thuộc Thanh Oai, Hà Tây)

Chức vụ: Đi sứ phương Bắc, lúc mất được tặng Thượng thự

Mô tả cuộc đời: Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Chiêu Huấn, Hoàng Minh Tá là 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

Sách “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” cho biết ông đỗ năm Giáp Tuất (1514); cả khoa có 43 người đỗ.

Khoa này còn có 2 người Hà Tây đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Một người là Nguyễn Doãn Tuy (?-?), quê làng Khánh Hiệp, hạt Đan Phượng (nay thuộc huyện Phúc Thọ), đứng thứ 2/20 người hạng Đệ tam, thứ 25/43 toàn khoa; làm quan đến Cấp sự trung (chánh bát phẩm, hạng 8/9 bậc quan chế). Người kia là Trần Viên (?-?), quê ở làng Nhật Cốc, hạt Chương Đức, trú ở Thượng Cát, Thanh Oai; đứng 19/20 người hạng Đệ tam, thứ 42/43 toàn khoa.

Tháng 5, có chiếu cho các tiến sĩ mới là bọn Nguyễn Đức Lượng vào điện Thiên Quang làm bài ứng chế, vua sai làm bài Thiên.

35. Ngô Miễn Thiều [Thiệu] 吳勉紹 [1498 – ?]. Người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh ) Quan Thiệu thứ 3 (1518), đời Lê Chiêu Tông.

Tên: Ngô Miễn Thiều [Thiệu] 吳勉紹

Năm sinh: 1498

Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Dần

Ngày: Quan Thiệu thứ 3 (1518), đời Lê Chiêu Tông.

Quê quán: Người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh )

Chức vụ: Làm quan cho nhà Mạc đến Thượng thư kiêm Đô ngự sử, Nhập thị Kinh diên, tước Lý Khế


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 7.612
  • 142
  • 11.913
  • 134
  • 7.749.867
  • 891.724