Thần tiên Việt Nam

Quán – Đạo Quán Thần Tiên 越南道教

 

越南道教

 

 

Quán Đạo Giáo Thần Tiên

 

Quán Dương Liễu

Quán thuộc xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Quán thờ Thành hoàng là Lý Phục Man, một danh tướng thời Lý Nam Đế thế kỷ VI. Quán nằm sát chân đê sông Đáy, bao gồm Bái đường và Hậu cung. chi tiết >>

Quán Đa Sỹ

Ngôi chùa ở thôn Đa Sỹ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, thành phố Hà Nội, còn gọi là Lâm Dương Quán. Đây là một di tích nghệ thuật kiến trúc biểu hiện sự hoà hợp chung giữa Phật và Đạo trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt. Chùa có kiến trúc theo kiểu nội Công () ngoạiQuốc (), gồm tam quan và toà đại bái năm gian. Những pho tượng trong  thuộc loại … chi tiết >>

Quán Đanh

Quán Đanh nằm ở phía bắc làng Đinh Xá còn gọi là làng Kẻ Đanh, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đây có 1 cái quán gọi là quán Bạc. Chuyện xưa kể rằng xưa có 1 viên quan và 1 số lính hầu công cán qua đây. Viên quan hách dịch này liền đánh lý trưởng và bị dân làng xông vào đánh lại. Mọi việc được tâu lên vua, vua ra lệnh triệt hạ cả … chi tiết >>

Quán Đế Thích

Quán Đế Thích trước đây thuộc xã La Chàng, huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc làng La Chàng, xã Cẩm Ninh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Quán thờ tiên Đế Thích, giống với sự tích Đế Thích ở đền thờ làng Liêu Hạ nhưng có thêm huyền thoại về tiên Đế Phi. Quán mở hội hàng năm ngày 9 tháng Giêng là ngày Tiên Đế Thích giáng sinh. Tương truyền, xưa … chi tiết >>

Lệ Châu Hội Quán

Ở số 568 đường Trần Hưng Đạo B, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh là nơi thờ tổ ngành thợ bạc, được xây dựng vào thế kỉ XVII. Ở hội quán có 4 tấm bia, trong đó có hai văn bia nói về việc xây dựng hội quán; một di vật đặc biệt: chiếc trống cây được chế tạo khá đặc biệt. Trống được làm bằng một khúc gỗ khoét rỗng, hai đầu bưng da, dài 1,20m, đường kính … chi tiết >>

Quán Ngọ

Quán còn có tên là đền Tiên Long ở thôn Phú Hạng, xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Quán thờ 2 vị thần là Ả Lã Nàng Đê và Linh Lang Đại Vương. Quán Ngọ có quy mô nhỏ, hình chữ Ðinh gồm tiền tế và hậu cung. Tương truyền, Ả Lã Nàng Đê là con gái ông Lữ Gia. Bà là nữ tướng tài danh của cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh … chi tiết >>

 

Quán Tiên

Quán Tiên toạ lạc tại phường Hội Hợp, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Vĩnh Yên là nơi có địa thế tựa sơn, đạp thuỷ, rừng núi hiểm trở. Nơi đây được Nguyễn Danh Phương còn gọi là Quận Hẻo chọn làm nơi quy tụ quân, huy động lực lượng chỉ trong một đêm đã xây dựng xong ba gian nhà có bàn thờ, hương khói uy linh làm nơi chiêu mộ binh sĩ. Tục truyền rằng … chi tiết >>

Quán Tam Giang

Tam Giang tức Thông Thánh Quán là quán ở thôn Việt Trì, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây, ngã ba Bạch Hạc, nay là phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi thờ của đạo Giáo (đạo Lão) được. Quán được thành lập trong khoảng niên hiệu Vĩnh Tuy đời Đường (660-665). Đời Trần Thái Tông do Hứa Tông Đạo, người nhà Tống di cư … chi tiết >>

Tập Hy Đạo Quán

Quán xưa còn gọi là quán Tiên, ở xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tương truyền đạo quán có từ thời nhà Lương đô hộ (năm 502-557), gần đạo quán có ngôi chùa Từ Quang do Lê Thị Ngọc Tảo, con gái của Lê Ngọc Thụ (người Hán sang làm một chức quan dưới quyền thứ sử Tiêu Tư) và Hoàng Kiều Như bỏ tiền của ra tạo dựng. Tập Hy đạo quán đổ nát … chi tiết >>

 

Thông Thánh Quán

Thông Thánh Quán là quán thờ thần Tam Giang của sông Bạch Hạc ở thôn Việt Trì, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây, ngã ba Bạch Hạc, nay là phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi thờ của đạo Giáo (đạo Lão) được. Quán được thành lập trong khoảng niên hiệu Vĩnh Tuy đời Đường (660-665). Đời Trần Thái Tông do Hứa Tông Đạo, … chi tiết >>

 

Quán Tiên

Quán Tiên toạ lạc tại phường Hội Hợp, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Quán do Nguyễn Danh Phương còn gọi là Quận Hẻo huy động lực lượng chỉ trong một đêm đã xây dựng xong. Quán có ba gian nhà có bàn thờ, hương khói uy linh làm nơi chiêu mộ binh sĩ khởi nghĩa chống triều đình Lê – Trịnh. Tục truyền rằng sở dĩ ba gian nhà được xây dựng nhanh là do trời … chi tiết >>

Quán Tiên toạ lạc tại phường Hội Hợp, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Quán do Nguyễn Danh Phương còn gọi là Quận Hẻo huy động lực lượng chỉ trong một đêm đã xây dựng xong. Quán có ba gian nhà có bàn thờ, hương khói uy linh làm nơi chiêu mộ binh sĩ khởi nghĩa chống triều đình Lê – Trịnh. Tục truyền rằng sở dĩ ba gian nhà được xây dựng nhanh là do trời Đất giúp đỡ, chính vì thế mà cuộc khởi nghĩa của ông được nhiều người tham gia.

 

Quán Trấn Vũ

Quán Trấn Vũ là tên gọi khác của đền Trấn Vũ. Xem thêm đền Trấn Vũ. chi tiết >>

Lịch sử và truyền thuyết

Đền Trấn Vũ là một di tích rất nổi tiếng của làng Ngọc Trì, ở ngay ven đê, xưa thuộc xã Cự Linh, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh. Đền được dựng trên thế đất “Quy Xà” (Rùa – Rắn – một yếu tố sông nước), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Địa thế của đền vừa thể hiện việc tôn sùng yếu tố sông nước, vừa mang yếu tố của Đạo giáo. Sự tích về Huyền Thiên Trấn Vũ có nhiều dị bản khác nhau, nhìn chung đều là thần của Đạo giáo, là biểu tượng cho mùa Đông, có sứ mệnh dẹp trừ yêu quái, trấn giữ phương Bắc (vì thế, các đền hay quán thờ Thần thường nhìn hướng Bắc), bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Thần thường ngồi trên gò Kim Quy.

Đền Trấn Vũ ở làng Ngọc Trì chưa rõ được dựng từ bao giờ. Bia về sự tích của Thần dựng năm Mậu Thìn đời Bảo Đại (năm 1928) khẳng định đền có từ thời Thục Phán An Dương Vương và Thần đã được phong là Thượng đẳng thần. Thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) có lần đi chinh phạt Chiêm Thành đã đóng quân ở xã Cự Linh, được Thần ứng mộng sẽ chiến thắng nên cho dựng đền, tạc tượng gỗ để thờ, bài vị có ghi chữ vàng “Hiển linh Trấn Vũ quán”. Đến thế kỷ XVII, đền được sửa lại. Dấu tích có thể nhận biết được qua tấm bia Cự Linh tự Trấn Vũ quán trùng tu bi ký. Tuy nội dung bia và dòng lạc khoản bị mờ nhưng trán và diềm bia mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Đến năm Mậu Thân, đời vua Lê Hiển Tông (năm 1788), tượng gỗ bị hỏng, triều đình lệnh cho quan viên cùng sắc mục làng Ngọc Trì đúc tượng đồng. Sự kiện này được phản ánh trong một tấm bia khác còn lưu trong đền. Đến năm Nhâm Thân đời Bảo Đại (năm 1932), đền được sửa lại tượng và Thượng cung, các năm sau lần lượt sửa Trung cung và Tiền đường, đến năm thứ 13 (năm 1938) thì hoàn thành. Như vậy, các bộ phận hợp thành của Trấn Vũ quán làng Ngọc Trì được sửa lại vào những năm gần cuối của triều Nguyễn.

Đền Trấn Vũ nay dùng làm nơi thờ nhiều vị là do chùa, đình, nghè bị chiến tranh tàn phá nên nhân dân trong làng rước bài vị về đây thờ chung.

Kiến trúc

Đền Trấn Vũ được xây dựng trên thế đất quy xà hội tụ, phía trước là cánh đồng rộng mênh mông. Trên đồng nổi lên một gò đất như hình mai rùa, phía sau đền chính là đê sông Hồng trông tựa hình rồng đang uốn lượn. Đền quay về hướng Bắc, cùng hướng với đền Quán Thánh ở Ba Đình.

Đền có bố cục trong tổng thể tiền Thần, hậu Phật, nay chùa đã bị đổ nát. Phía trước đền là hồ bán nguyệt, sân đền có hai cột trụ cao, hình vuông, đỉnh cột đắp hai con sấu chầu vào nhau, trên bốn mặt trụ có các hình long, ly, quy, phượng… đắp nổi trang trí. Xưa kia thân cột còn có những câu đối nhưng thời gian đã bào mòn. Kiến trúc của đền gồm có 2 toà hình chữ nhị và có chuôi vồ hai tầng nối đằng sau. Từ cửa đền, qua sân gạch nhỏ là đến tiền tế. Hàng hiên nhà tiền tế là bốn cột đá xanh vuông, chân cột phình to. Tiền đường gồm năm gian, ba gian giữa nền gạch thấp như nền hiên làm nơi hành lễ, nền hai gian bên cao hơn nửa mét so với nền gian giữa làm nơi tiếp khách, thụ lộc. Các cột cái gian tiền đường bề thế, đứng trên bệ đá tạo sự chắc chắn và tôn vẻ uy nghiêm cho ngôi đền. Bộ vì nhà tiền đường, làm kiểu chồng rường, giá chiêng, đặt trên quá giang. Đầu kẻ của bộ vì giữa bên trái chạm rồng, các con rường chạm mây lá đơn giản. Chân cột hiên nhà tiền đường làm bằng đá xanh vuông, xung quanh trang trí rồng lá, đầu cột chạm hình lá sồi. Sau tiền đường là trung đường 5 gian, 2 dĩ. Trên các bức cốn chạm rồng mây. Ðây còn là nơi đặt ngai, tượng võ sĩ đá, tượng Phật ở các nơi mang về và đều có niên đại cuối TK 19, đầu thế kỉ XX. Sau cùng là thượng cung nối với trung đường bằng một nhà cầu. Thượng cung gần vuông, xây 2 tầng, 8 mái khá đẹp. Đây là nơi đặt pho tượng đồng Trấn Vũ cao 3,8m, chu vi 8m, nặng 4 tấn. Tượng trong tư thế ngồi buông chân, mắt nhìn thẳng, tay phải đặt trên đốc kiếm, chống lên lưng rùa, tay trái bắt quyết, giơ ngang ngực. Diềm áo đúc nổi hoa lá, bố tử chạm hình long mã, các nếp áo bó sát thân nhưng vẫn mềm mại, tạo cho tượng sống động, đầy uy lực. Hai bên tượng Trấn Vũ có hai hàng tượng 12 vị nguyên soái bằng đất đứng chầu. Trong đền còn có bài vị của Linh Lang đại vương – thành hoàng làng Ngọc Trì, do đình làng không còn nên nhân dân chuyển sang thờ ở đây. Chính giữa phía sau tượng có bài vị khắc chữ “Hiển linh Trấn Vũ quán”. Theo tấm bia kí ở đền cho biết, trải qua 14 năm, từ năm 1788 đến 1802, nhân dân ở đây mới đúc xong tượng. Trên bia ký tại đền có ghi: “Đến tiết Đông chí năm Mậu Thân (1788) khởi công đúc lại tượng đồng, lòng thành u tối được chứng giám. Hai bên hợp lại, của cải sức dân dùng không kể. Đến tháng tám năm Nhâm Tuất (1802) mọi người tới họp mặt, thấy vàng bọc ngoài tượng lấp lánh, chất ngọc rực rỡ. Xét thấy có thể lưu truyền vẻ lẫm liệt muôn đời, thỏa lòng mong đợi của nhân dân khắp nơi”. Pho tượng này, về cơ bản giống pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, chỉ khác một chi tiết duy nhất, ấy là khi nhìn trực diện vào khoảng đầu gối tượng, có họa tiết hoa sen được cách điệu thành hình mặt hổ phù. Có thể nói, tượng đồng Trấn Vũ là một tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Tây Sơn. Xét về kích cỡ, tượng đứng hàng thứ 3 sau pho tượng Phật ở chùa Ngũ Xã và chùa non Nước trên núi huyện Sóc Sơn.

Đền đã được nhà nước xếp hạng di tích nghệ thuật kiến trúc ngày 27/12/1990.

Lễ hội

Hàng năm, vào các ngày mồng 3 tháng Ba (ngày sinh của Thần) và mồng 9 tháng Chín (ngày hóa), dân làng Ngọc Trì tổ chức hội. Ngoài tế lễ, hội còn có trò kéo co luồn dây qua cột. Trai đinh các giáp cởi trần, đóng khố điều, chít khăn điều, chia thành hai phe : phe Mạn đường và phe Mạn chợ, mỗi phe có một tổng cờ (mặc áo đỏ, chít khăn đỏ) chỉ huy. Sau lễ trình thánh, dưới sự điều khiển của vị tiên chỉ làng (mặc áo thụng xanh, đội mũ tế, tay cầm trống khẩu làm hiệu lệnh), trai đinh hai phe tiến hành kéo co qua một dây song to, nhẵn, dài 30 mét. Cột mốc là một cột trụ bằng lim, to như cột đình, chôn chặt xuống đất. Sợi dây song được luồn qua một lỗ của cột lim (từ lỗ xuống mặt đất cao bằng đầu gối người lớn). Trai đinh mỗi phe một đầu dây, từng người nắm dây ở các tư thế khác nhau. Sau khi có hiệu lệnh, hai Tổng cờ hô và quệt lá cờ lệnh vào mặt các trai kéo của phe mình để thúc giục họ kéo dây. Các bà, các chị của từng phe dùng quạt, khăn lau chăm sóc trai đinh phe mình. Hai bên kéo cho đến khi ngã ngũ. Theo quan niệm của dân làng, nếu phe Mạn đường (mạn gốc) thắng thì năm đó làng có phúc lớn. Đây là trò chơi dân gian độc đáo, ít thấy ở vùng châu thổ Bắc Bộ.

Quan Thánh – Ba Đình – thành phố Hà Nội

Đền Trấn Vũ là một ngôi đền cổ của Hà Nội. Đền được lập từ khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010). Khi đó, vua cho lập bài vị của thần và đặt trong đền ở phía Tây Bắc thành, gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ quán. Dân chúng quen gọi tên đền là đền Quán Thánh hoặc đền Trấn Vũ. Đền hiện ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh (phường Quán Thánh, quận Ba Đình), đời Lê thuộc đất phường Thuỵ Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam hồ Tây. Thực ra đây là một quần thể gồm một quán – tức cơ sở hành đạo của Đạo giáo – thờ Huyền Thiên đại đế, một vị thần coi giữ phương Bắc, có gốc tích Trung Hoa và một đền thờ Quan Thánh Đế quân (nay không còn).

Lịch sử và truyền thuyết

Đền Trấn Vũ là một trong “Thăng Long tứ trấn”, được xây dựng từ thời Lý Thái Tổ. “Thăng Long tứ trấn” là bốn ngôi đền thờ bốn vị thần ngự từ xa xưa, ngày đêm canh giữ cho kinh thành bình yên và thịnh vượng. Đó là:

– Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, trấn phương Đông.

– Đền Voi Phục (Thủ Lệ) thờ Linh Lang Đại vương, trấn phương Tây

– Đền Trấn Vũ (còn gọi là quán Trấn Vũ hay đền Quán Thánh) thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phương Bắc

– Đền đình Kim Liên thờ thần Cao Sơn, trấn phương Nam.

Đền Trấn Vũ nhìn từ hồ Tây thời Pháp thuộc – Ảnh tư liệu

Đền Trấn Vũ thờ Huyền Thiên đại đế. Tương truyền Huyền Thiên có nghĩa là vùng trời phương Bắc, Huyền Vũ là vị thần coi quản Huyền Thiên nên cũng còn được gọi là Huyền Thiên Đại đế. Đến đời Tống Tương Phù (1008-1016) chữ Huyền đổi ra Chân rồi tiếp đó lại đổi ra Trấn, cho nên gọi là Huyền Vũ, Chân Vũ hay Trấn Vũ đều được cả. Như vậy, thần được thờ ở đây có gốc tích Trung Hoa, thuộc Đạo giáo. Thế nhưng, tuy là một thần của Đạo giáo, khi đi vào dân gian, Huyền Vũ (Huyền Thiên) được Việt hóa thành một vị thần đã từng giúp An Dương Vương trừ tà ma quấy rối trong công việc xây dựng thành Cổ Loa, được lập đền thờ ở núi Sái, làng Thụy Lôi, huyện Đông Anh. Ngoài ra, thần còn thường du ngoạn ở vùng Hồ Tây, trừ hồ tinh chín đuôi quấy phá dân lành. Như vậy truyện thần Trấn Vũ đã kết hợp thần thoại Việt với thần thoại Trung Quốc, gắn với thành Cổ Loa, toà thành phòng ngự chống ngoại xâm đầu tiên ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Với nguồn gốc như vậy, đời Lý, vua Lý Thái Tổ đã cho xây ở phía Bắc tòa thành Thăng Long đền thờ Trấn Vũ để trấn tà khí từ phương Bắc tràn xuống. Đây là một nét độc đáo trong văn hoá dân gian xưa, dùng ngay thần phương Bắc đã hội nhập vào văn hoá nước nhà chống lại tà khí phương Bắc. Đền được phong là một trong “Thăng Long tứ trấn” từ thời Lý. Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu ma mỗi khi có hạn hán, những lời khấn thần còn ghi trong Thiên Nam Dư hạ tập.

Kiến trúc

Đền Trấn Vũ

Đền có từ thời Lý Thái Tổ (1010 – 1028) và đã trải qua nhiều lần xây dựng, sửa chữa. Diện mạo hiện nay là kết quả của lần sửa chữa vào đời Thành Thái thứ 5 (1893). Trong đền có tượng Trấn Vũ (Quán Thánh) đặt ở chính giữa hậu cung. Tượng đúc bằng đồng đen vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), đời Lê Hy Tông, do Trịnh Tạc đứng ra làm với ý nghĩa trả công đức Thần báo mộng, giúp chúa dẹp được họ Mạc ở Hải Phòng. Sách cũ ghi là tượng cao 8 thước 2 tấc và nặng 6600 cân, so với đo lường ngày nay thì cao khoảng 3,9m và nặng khoảng 4 tấn. Thân tượng nở nang, cân đối, mang dáng dấp một võ tướng. Tượng có dáng đạo sĩ, xõa tóc, chân không giày dép, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn quanh và ngồi trên lưng rùa. Theo truyền thuyết, rắn và rùa là hai con vật tượng trưng cho thần trấn phương Bắc. Tượng Trấn Vũ được xem là một công trình điêu khắc độc đáo tại Việt Nam, đánh dấu kĩ thuật đúc đồng và tạc tượng hết sức tài hoa của những nghệ nhân Việt Nam từ thế kỷ XVII. Tượng Trấn Vũ (còn gọi là tượng Huyền Thiên Trấn Vũ, tượng Quán Thánh) là một bảo vật của quốc gia, một trong “tứ đại khí” của kinh thành Thăng Long.

Tại nhà bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen. Nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ. Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn của thầy. Ngoài ra, đền còn có quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan, tương truyền được đúc cùng lúc với pho tượng Trấn Vũ. Tiếng chuông này đã trở nên quen thuộc với cư dân quanh vùng và đi vào câu ca dao xưa:

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ thờ trong đền – Văn bia tại đền do Trạng nguyên Đặng Công Chất và Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn. Thời Tây Sơn, Ðô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa. Năm 1923, đền được đổi là Trấn Vũ quán. Năm 1856, Bố chánh Sơn Tây là Phạm Xuân Quế, Bố chánh Hà Nội là Tôn Thất Giáo, Tri huyện Vĩnh Thuận là Phan Huy Khiêm đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình thiêu hương, bái đường và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang bên phải và bên trái, đắp lại 4 pho tượng đại nguyên soái, tượng thần Đương Niên hành khiển, Văn Xương Đế Quân và dời xuống hậu đường phía sau. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng thân dâng, đúc lại thành vòng xâu giữa sợi dây bạc để treo ở cổ tay tượng thần. Đằng sau đền lại được đắp hòn núi non bộ trong một bể con và dựng một đền nhỏ gọi là Vũ Đương Sơn. Khi đền được sửa chữa xong vào năm 1893 thì được dựng thêm bia do tiến sĩ Lê Hy Vĩnh soạn. Đền hiện nay có 6 bia. Kiến trúc, trang trí của đền mang phong cách đời Nguyễn.

Đền Trấn Vũ, ngoài nổi tiếng là một trong Thăng Long tứ trấn và tượng Trấn Vũ, chuông đồng, còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ của ngôi đền có các đề tài như tứ linh, dơi, cá, mai, lan, cúc, trúc, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới… đều được chạm khắc một cách tinh xảo, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.

Ngày nay, đền Trấn Vũ không chỉ là một địa điểm linh thiêng của Hà Nội mà còn là một trong những nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng nổi tiếng của người dân thủ đô.

Quán Nghinh Hương

Quán Nghinh Hương (thuộc xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất), là một công trình không chỉ có giá trị độc đáo về mặt kiến trúc mà còn có giá trị sâu sắc về mặt văn hóa. Năm 2009, quán Nghinh Hương đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật. Làng cổ Hương Ngải hay đất Kẻ Ngái không chỉ được biết đến bởi những phiên chợ … chi tiết >>

Quán Nghinh Hương (thuộc xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất), là một công trình không chỉ có giá trị độc đáo về mặt kiến trúc mà còn có giá trị sâu sắc về mặt văn hóa. Năm 2009, Quán Nghinh Hương đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Nguồn gốc

Làng cổ Hương Ngải hay đất Kẻ Ngái không chỉ được biết đến bởi những phiên chợ Ngái đặc trưng, mà làng Ngái xưa còn nổi tiếng là mảnh đất có truyền thống học hành, khoa cử. Truyền thống hiếu học từ xưa của làng Ngái thể hiện ngay từ những công trình kiến trúc cổ. Ngoài các công trình tín ngưỡng dân gian như đình làng, quán làng, chùa, miếu… còn có hệ thống các văn chỉ, võ chỉ, văn bia, văn chuông được lưu giữ đến ngày nay.

Đặc biệt là quán Nghinh Hương được khởi dựng trong sự phát triển của làng Hương Ngải vào khoảng đầu thế kỷ thứ 11. Quán Nghinh Hương được xây dựng để tôn thờ 3 vị Thành Hoàng họ Chu, là nhân vật lịch sử có thật, những người đã có công lớn trong việc khai phá, mở mang đồng bằng Bắc Bộ.

Xưa kia, Quán Nghinh Hương là nơi các sĩ tử Hương Ngải đến học tập, ôn thi và dùi mài kinh sử. Đây còn là nơi đưa tiễn các sĩ tử lên kinh dự thi, lại cũng là nơi nghênh đón tân khoa vinh quy bái tổ về làng. Người làng Hương Ngải vẫn còn truyền tụng câu ca:

“Chúc sĩ tử ứng thí tranh khôi

Nghinh tân khoa hồi hương bái tổ”

Quán Nghinh Hương vừa là một công trình văn hoá đáp ứng nhu cầu tâm linh, vừa thể hiện ước nguyện khoa bảng của dân làng, đồng thời, đây cũng là nơi qua các giá trị kiến trúc, truyền tải được khát vọng của con người.

Kiến trúc

Quán Nghinh Hương là một di tích có giá trị nhiều mặt về lịch sử. Kiến trúc của ngôi quán khá lạ so với các kiểu kiến trúc truyền thống khác, người xưa đã dựa vào sự biến thiên của Dịch học để tạo nên một kiểu kiến trúc độc đáo, dù không đồ sộ, nguy nga nhưng hàm chứa một khát vọng: luôn phát triển (nhất tam biến, tam biến cửu:1 gian thành 3, 3 gian thành 9). Nhìn bên ngoài, quán Nghinh Hương trông như 1 gian nhà, nhưng vào bên trong lại biến thành 3 gian, từ 3 gian lại biến thành 9 gian nhỏ, mà con số 9 còn được gọi là số Lão dương, tượng trưng cho sự bền chắc.

Đặc biệt hơn, theo “Tinh toạ đồ” thì trung tâm của ngôi quán ứng với chòm sao Bắc Đẩu (hay còn gọi là sao Thất Tinh). Chòm sao Bắc Đẩu là chòm sao sáng nhất trên bầu trời, tượng trưng cho văn chương, thi hoạ.

Tổ tiên Hương Ngải đã trồng 7 cây linh thụ (4 trước, 3 sau), tượng trưng cho 7 ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu gồm: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm Trinh, Vũ khúc, Phá quân. Cũng theo “Tinh toạ đồ” thì trong vũ trụ có vô số những ngôi sao, nhưng chòm sao Bắc Đẩuchòm sao chủ tinh. Đây là chòm sao rực sáng, đóng vai trò trung tâm, các ngôi sao vệ tinh luôn luôn quanh nó. Trong sách “Luận ngữ”, Khổng Tử đã nói: “ví chính dĩ đức thí như bắc thuần cư kì sở nhi chúng tinh củng chi”, nghĩa là: “dùng Đức điều hành chính sự ví như ngôi sao Bắc Đẩu toạ lạc đúng vị trí của mình thì các ngôi sao khác ắt phải chầu lại”. Và quán Nghinh Hương toạ lạc đúng vị trí trung tâm của chòm sao này, là nơi đưa – đón hiền tài của làng, với mong mỏi tài năng, đức độ của họ sẽ tỏa sáng như sao Bắc Đẩu.

Nghinh Hương quán còn gắn với 2 trong 5 yếu tố của Ngũ hành là: Thuỷ (giếng nước) và Mộc (cây cổ thụ) để nhắc nhở đời sau nhớ tới cội nguồn: người có tổ tiên như cây có gốc, như nước có nguồn; cây có gốc thì cành lá xum xuê, nguồn nước có sâu thì nhánh sông mới dài rộng; người có tổ tiên, cội rễ thì con cháu mới phát triển mãi muôn đời về sau.

Cho đến nay, trải qua mưa nắng, quán Nghinh Hương không còn giữ được nguyên trạng như ngày đầu khởi dựng, xong di tích này vẫn giữ được nét đặc trưng tiêu biểu của ngôi quán vùng xứ Đoài, hội tụ đủ 3 yếu tố Thiên – Địa – Nhân giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về đặc trưng vùng miền Thủ đô.

Trích:Trang tri thức VN

©2008 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt

Giấy phép số 1131/2008/QTG, cấp ngày 06-05-2008

Cục bản quyền tác giả Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.843
  • 71
  • 3.279
  • 128
  • 4.298.418
  • 798.329