Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Quan Huyện Địch Ngẫm Lý Xét Tình – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 24

Quan Huyện Địch Ngẫm Lý Xét Tình,
Thấy Rắn Độc Thả Người Vô Tội


Hôm ấy, trước công đường của quan huyện họ Địch, tiếng khóc như ri, một toán đàn ông đàn bà túm lấy một thanh niên chừng hai lăm, hai sáu tuổi, kêu oan suốt từ ngoài cửa vào tới bên trong, đi theo phía sau là một người đàn bà chừng bốn năm chục tuổi, khóc lóc càng thảm thiết hơn. Trông thấy Địch công đang ngồi trên công đường, cả bọn quì xuống trước án, ai nấy vừa khóc vừa kể làm Địch công không hiểu ra sao. Ông bảo viên lại trực nhật:
– Ngươi hỏi đám người kia xem họ đến đây vì việc gì? Không cho nhiều người cùng nói, chỉ gọi một mình nguyên cáo lên hỏi, còn những người khác tạm thời cho lui để nghe cho được rõ ràng.
Viên lại trực nhật vâng lệnh, đẩy đám người kia ra khỏi công đường rồi nói lại ý Địch công cho họ nghe. Có hai nguyên cáo theo viên lại này lên công đường. Địch công nhìn xuống, thấy một người là phụ nữ đã đứng tuổi, còn người kia là ông già tóc bạc. Hai người bước tới trước án thì quì xuống, người bên phải, người bên trái. Địch công hỏi:
– Hai người tên họ là gì? Có oan ức gì hay chỉ đến thưa xằng?
Người đàn bà đứng tuổi nói trước:
– Tiểu phu nhân họ Lý, cha đẻ họ Vương, chồng là Tại Công, học trò bản huyện. Vì chồng chết sớm nên tiểu phu nhân ở vậy rau cháo nuôi một con gái duy nhất là Lê Cô, năm nay mười chín tuổi. Năm ngoái, ông Sử Thanh Lai người cùng huyện làm mối cho cháu làm vợ cậu Hoa Văn Tuấn, con trai vị cử nhân bản địa Hoa Quốc Tường. Hôm trước nhà trai chọn ngày lành đưa xe hoa đến đón dâu, chưa được ba ngày thì hôm qua cháu đã chết đột ngột. Tiểu phu nhân được tin khác nào được tin trời sập, vội vàng chạy tới xem sao. Nào ngờ thấy con gái cả người sưng mọng bầm tím, mắt mũi miệng tai đều ứa máu.
Mắt thấy con gái chết có điều ám muội, hẳn là nhà trai mưu hại đó thôi. Đáng thương cho Tiểu phu nhân có một con gái, chỉ mong con rể trông nom cho êm ấm. Nay chuyện ra như thế, đành khổ sở kêu van quan trên soi xét, làm sáng tỏ cho.
Nói xong, người đàn bà cất tiếng khóc lóc, lăn lộn trên đất. Địch công vội vàng sai người đàn bà đi theo đỡ dậy.
Địch công quay sang hỏi ông già:
– Ông là Hoa Quốc Tường phải không?
Ông già đáp:
– Thưa vâng.
Địch công nói:
– Chồng đẹp vợ xinh vốn là việc vui của đời người, làm sao con dâu mới cưới được ba ngày mà ông đã mưu hại? Hoặc là bố mẹ chồng ngược đãi nàng dâu, hoặc là gia giáo nhà ông không nghiêm, để cho con trai gây nên chuyện phi pháp đó? Ông cứ thực khai ra, bản huyện sẽ tới hiện trường khám nghiệm.
Địch công chưa nói xong mà Hoa Quốc Tường đã đầm đìa nước mắt, thưa: – Cử nhân là con nhà thi lễ, đâu dám ngược đãi con dâu. Con trai tôi là Văn Tuấn tuy chưa chiếm được công danh nhưng cũng là học trò ứng thí. Hơn nữa cháu đang vui đêm tân hôn, vợ chồng hòa thuận, đâu nỡ hạ độc thủ như vậy? Chỉ có điều nhân ngày vui hôm trước buổi tối sau khi vợ chồng cháu vái chào nhau xong, lúc ấy khách khứa đầy nhà, rất nhiều bạn bè trẻ tuổi của cháu muốn quấy đảo phòng tân hôn. Cử nhân tôi thấy đó là chuyện vui đùa của bọn trẻ nên không tiện ngăn cản. Nào ngờ trong số đó có tên Hồ Tác Tân cũng là học trò bản huyện, vốn là bạn đồng song với con trai tôi, thường ngày hắn là người thích đùa bỡn nhất. Khi ấy hắn thấy con dâu tôi có mấy phần nhan sắc, hẳn là sinh lòng đố kị nên bình phẩm từ đầu tới chân không chịu thôi. Cử nhân tôi thấy đêm khuya sắp sang canh, e lỡ mất giờ tốt của hai cháu bèn mời bọn trẻ lên thư phòng uống rượu. Chẳng ngờ bọn đó đồng thanh đòi vào tân phòng đùa bỡn. Sau đó có người dàn hòa, bắt cô dâu phải uống ba chung rượu để tỏ ý xin tha. Bọn trẻ đều đồng ý, chỉ riêng tên Hồ Tác Tân nhất định không chịu. Sau đó cử nhân tôi nói nặng lời mấy câu, hắn xấu hổ bèn giở mặt, giận dữ nói: “Xưa nay không ai cấm đoạn bạn bè náo loạn tân phòng cho vui, ông già rồi mà sao không hiểu điều đó. Trong ba ngày nữa, tôi sẽ cho ông biết thế nào là lợi hại!”. Bấy giờ cử nhân tôi cũng nghĩ là hắn nói đùa, ngày hôm sau lại mời hắn đến uống rượu. Ai ngờ hắn tâm địa hẹp hòi, để bụng hận thù, không biết làm thế nào bỏ được thuốc độc vào ấm trà trong phòng tân hôn. Tối hôm qua cháu Văn Tuấn may mà chưa uống trà nên mới thoát chết. Con dâu tôi không biết uống trà lúc nào nên đã uống phải thuốc độc. Chưa được ba canh giờ, cháu đau bụng dữ dội, khiến cả nhà lúc ấy đầu trở dậy thăm nom rồi vội vàng mời thầy thuốc đến cứu. Vào khoảng canh tư thì tính mệnh cháu đã ôi thôi! Đáng thương cho cháu, một người đẹp như hoa tựa ngọc thế mà bị tên Hồ Tác Tân bỏ thuốc độc cho chết. Cử nhân tôi là người trong hàng thân sĩ mà gặp phải tai họa này, cúi xin quan lớn tra xét giúp cho.

Nói xong, ông già cũng khóc rống lên.
Địch công nghe hai người khai xong, hỏi:
– Cứ theo như lời hai người thì vụ án mệnh này rõ ràng do tên Hồ Tác Tân gây ra, nhưng không biết tên này đã bỏ trốn hay chưa?
Hoa Quốc Tường nói:
– Hiện chúng tôi đã túm hắn đến đây, đang chờ ở ngoài cổng.
Địch công lập tức cho điệu Hồ Tác Tân vào xét hỏi. Lệnh vừa truyền ra thì từ ngoài cũng đã có một người đàn bà cũng trạc bốn năm chục tuổi dắt một anh con trai, luôn miệng gào khóc, đi vào tới trước án thì quì xuống. Địch công quát hỏi:
– Người có phải là Hồ Tác Tân không?
Chàng trai trẻ quì bên dưới đáp:
– Học trò chính là Hồ Tác Tân.
Địch công lại quát:
– Khen cho ngươi còn dám tự xưng là học trò! Ngươi đã là học trò sao còn chưa biết lễ của Chu Công? Những việc hiếu hỷ, con gái gả chồng, con trai đến tuổi đội mũ đều có lễ nghi nhất định, ngươi sao dám hành động vượt thân phận mình, vô lễ đến náo loạn tân phòng. Hoa Văn Tuấn lại là bạn đồng song với người, vợ chồng là nhân luân lớn của con người, sao ngươi dám thấy vợ người xinh đẹp thì tức, tức rồi sinh ghen ghét, ngấm ngầm làm hại? Mệnh người liên quan đến trời, xem ra việc ngươi làm phụ lòng trời rồi. Hôm nay hai người kia đến đây tố cáo, bản huyện xét việc sáng suốt như thần, ngươi hôm ấy vì sao manh tâm, bỏ thuốc độc như thế nào, hãy mau mau khai ra, may chi bản huyện có thể lượng tình, giảm nhẹ khi luận tội. Nếu ngươi tự cho là tú tài, cậy mình có bùa hộ mệnh, không ai được khảo đả hỏi tra thì ngươi tự chuốc lấy khổ sở đó! Bản huyện cũng xuất thân từ khoa cử, mười năm đèn sách bên song lạnh, làm được tới huyện lệnh nơi này thì dù những đứa bất hiếu, tham lam gặp phải vụ trọng án này, ta tuy có quốc pháp song cũng có tình người, không cho ai có quyền bênh che. Vả chăng bản huyện đã nói là pháp luật làm theo liền.
Chỉ thấy Hồ Tác Tân đầm đìa nước mắt, bò rạp trên đất, thưa:
– Xin quan lớn dẹp bớt lôi đình để nghe học trò thưa kỹ. Việc quấy đảo tân phòng hôm ấy tuy học trò có đùa cợt thật, nhưng chẳng qua cũng chỉ là tuổi trẻ hăng máu, đùa bỡn theo mọi người mà thôi. Lúc ấy, khách khứa bè bạn trong nhà họ Hoa có tới ít nhất cũng ba bốn chục người. Học trò thấy ông Hoa Quốc Tường không xin người khác miễn cho, lại chỉ ngăn cản một mình học trò. Học trò sợ lúc ấy mình nhận lời với ông già ắt làm mọi người mất hứng cho nên không nhận lời ông. Ngờ đâu ông bỗng nhiên giở mặt mắng học trò. Học trò đứng trước mặt ông mà bị ông mắng ngay giữa mặt, không còn nể tình chút nào, vì vậy vô tình nói một câu đùa bỡn như vậy, cho ông cụ phòng bị trong ba ngày, chẳng qua cũng chỉ mượn thế cho qua chuyện mà thôi. Vả chăng hôm sau ông cụ Hoa lại mời học trò tới uống rượu, dù có hiềm khích thì như vậy cũng đã giảng hòa rồi, sao học trò còn dám làm điều phi pháp, bỏ thuốc độc hại mệnh người nữa? Học trò đứng trong hàng kẻ sĩ, há lại không biết phép nước rõ ràng, lưới thưa nhưng không bỏ sót? Huống hồ trong nhà học trò còn có mẹ già, vợ trẻ, con thơ, đều nhờ học trò dạy học sống qua ngày, sao nỡ để chuyện phi pháp đó làm lụy đến cả nhà? Nếu bảo học trò có lòng ghen ghét thì ghen ghét can gì đến vợ nhà người? Cho dù ghen ghét thì mưu chiếm vợ người mới phải. Kẻ phi pháp đã có kế gian, nhất định không khi nào lại bỏ thuốc độc cho người ta chết. Còn như quan lớn bảo học trò không được đùa bỡn vượt lễ phạm qui thì học trò xin chịu trách mắng; nếu bảo học trò mưu hại chết người thì học trò thực là oan uổng, cúi xin quan lớn xét cho.
Người trai trẻ nói xong, người đàn bà đứng tuổi quì bên ngẩng đầu kêu oan, khóc mãi không nín.
Địch công hỏi ra mới biết người đó là mẹ của Hồ Tác Tân, góa chồng từ hồi con còn bé, ở vậy nuôi con khôn lớn. Vì con nói đùa mà phải vạ, bà sợ con vào công đường bị khổ nên đi cùng con vào xin Địch công xem xét. Địch công nghe xong lời khai của ba người, trong lòng hồ nghi không quyết định được, thầm nghĩ: “Hai nhà họ Hoa, họ Lý thấy con gái, con dâu đột tử, tất nhiên đều sốt ruột đến tố cáo là điều tất nhiên. Chỉ riêng việc Hồ Tác Tân dính líu vào, kêu rằng anh ta ghen ghét rồi mưu hại thì còn hồ nghi lắm. Chưa nói không có lý nào người quấy đảo tân phòng lại đi giết người, mà xét nhân phẩm của anh chàng này thì cái cách đùa bỡn phong lưu nho nhã ấy không thể của kẻ giết người được. Vả chăng lời anh ta vừa nói thật là chí tình chí lý, bởi vậy việc này ta không thể vội vàng tin ngay lời tố cáo được?”.
Nghĩ một lát, Địch công bảo bà lấy chồng họ Lý:
– Con gái bà lấy chồng chưa được ba ngày đã chết đột ngột. Tuy chết không được rõ ràng nhưng theo lời Hoa Quốc Tường cung khai thì không phải do nhà ông ấy giết hại. Còn nếu Hồ Tác Tân náo tân phòng mà đến nỗi bỏ thuốc độc hại người thì việc này lấy ai làm bằng? Bản huyện không thể nghe theo lời một bên nào mà cho là sự thực được. Các người hãy tạm lui về; cần khai thêm thì chuẩn bị sẵn, ngày mai ta sẽ tới nơi khám nghiệm, lúc ấy mới có thể xét đúng sai. Hồ Tác Tân không dưng gây chuyện, bị chỉ là kẻ đầu sỏ, giao về cho nhà học của huyện trông coi, ngày mai nghiệm xác xong sẽ hỏi đến.

Lý thị vốn là con nhà thế gia, hiểu phép tắc nơi cửa công là sau khi khám nghiệm xong mới đối chất, nên cùng lui ra  theo Hoa Quốc Tường, lên kiệu về nhà, đợi tin khám nghiệm ngày hôm sau. Chỉ riêng người mẹ của Hồ Tác Tân thấy con bị giao cho nhà học của huyện trông giữ, bất giác trong lòng chua xót, khóc rống lên. Nhưng quan huyện đã ra lệnh như thế còn biết làm sao, bà đành đứng nhìn con đi khuất rồi mới về nhà, chuẩn bị hôm sau trình bày khi quan gọi đến.
Lại nói Hoa Quốc Tường về đến nhà biết rằng khi nào khám nghiệm thì người xem chen vào rất đông, đành bảo người nhà chuyển đồ đạc trên sảnh cùng nhà trước nhà sau cho quang quẻ. Đằng trước đằng sau phòng tân hôn đều dựng mái che, tuy biết đồ đạc trong phòng tất bị làm hư hỏng, song đây là vụ trọng án, ông không thể làm khác được. May mà ông còn là người trong khoa bảng, bọn sai dịch địa phương không dám sách nhiễu lôi thôi. Cả nhà họ Hoa bận rộn suốt đêm, chỉ riêng Hoa Văn Tuấn thấy người vợ xinh đẹp mới ân ái có hai đêm đã đột ngột chết uổng thì khóc thương đến mức chết đi sống lại.
Còn bà Lý thương xót con gái cũng đến nhà họ Hoa khóc ròng. Tai họa này thật khiến cho quỉ thần cũng chẳng được yên.
Ngày hôm sau, chức dịch địa phương cùng viên lại trực nhật đến trước bố trí, kê bàn xét xử trên sảnh rồi cho mở tất cả cửa lớn cửa bé để tiện nghiệm xác ở sân trước, tiện việc đối chất với lời khai. Tất cả những đồ dùng cần đến đều được chuẩn bị đầy đủ. Lúc ấy Hoa Quốc Tường lại nhờ một người bà con tin cậy chuẩn bị sẵn một cỗ quan tài cùng quần áo vải vóc, đồ trang sức để sau khi khám nghiệm thì nhận xác về đem chôn.
Chuẩn bị xong, đã đến gần trưa. Nghe thanh la ngoài cổng gõ vang, biết Địch công tới nơi khám nghiệm, Hoa Quốc Tường vội vàng chỉnh lại mũ áo cùng con trai ra cổng nghênh đón. Bà Lý đang khóc lóc vội lui vào phía sau. Địch công xuống kiệu trước nhà, bước lên trên sảnh. Quốc Tường mời quan huyện ngồi vào bàn, gia nhân dâng trà, Văn Tuấn bước tới lạy chào xong xuôi. Địch công thấy đó là con trai Hoa Quốc Tường thì nhìn ngắm một thôi, thấy chàng trai này cùng là thư sinh học hành nho nhã, trong lòng càng không biết phán quyết ra sao, đành hỏi chàng trai:
– Vợ ngươi về nhà chồng mới được ba ngày, tối hôm kia lúc nào ngươi về phòng tân hôn? Lúc vào phòng ngươi thấy vợ ngươi thế nào? Sau đó làm sao biết trong ấm trà có thuốc độc, vợ ngươi uống lầm mà bỏ mệnh?
Văn Tuấn thưa:
– Nhân ngày vui, họ hàng thân thích đến chúc mừng, nên học trò vâng lệnh cha mẹ tới các nhà cảm ơn. Khi trở về người đã mỏi mệt, gặp lúc khách khứa lại tới nhà, học trò đành vâng lệnh đón tiếp chu đáo, lúc khách ra về đã là canh hai. Học trò lập tức tới thăm hỏi mẹ cha rồi mới về phòng. Lúc này vợ học trò đang ngồi bên mép giường, thấy học trò về liền sai cô phù dâu rót hai chén trà đặc để hai vợ chồng cùng uống. Vì học trò sau khi nhìn xong đã uống trà ở thư Phòng và trong buồng cha mẹ rồi nên không uống nữa. Vợ học trò uống chén trà đó rồi vào giường đi ngủ. Tới canh ba, học trò đang ngủ say thì loáng thoáng nghe tiếng vợ kêu đau, học trò tưởng cô ấy bị lạnh mà đau bụng, nào ngờ càng ngày càng đau, kêu la không dứt. Đang tính sai người đi mời thầy thuốc thì đến canh tư, vợ học trò đã qua đời. Sau đó truy hỏi nguyên do mới biết cô ấy đau bụng là vì uống chén trà kia. Học trò tôi xem ấm trà thì nước trà đã thành màu đen thẫm, há lại không do trúng độc hay sao?
Địch công nói:
– Nói như thế thì hôm kia lúc đến phá quấy, Hồ Tác Tân có vào phòng tân hôn hay không?
Văn Tuấn thưa:
– Học trò đi ra khỏi nhà đến tạ ơn khách từ trước trưa nên không được rõ.
Hoa Quốc Tường lập tức nói:
– Trước trưa, anh ta cùng mọi người có vào phòng tân hôn.
Địch công hỏi:
– Trước trưa có vào phòng tân hôn, vậy ấm trà ấy đặt ở chỗ nào? Sau trưa, con dâu ông có uống trà không? Người pha trà là ai?
Hoa Quốc Tường bị Địch công hỏi liền mấy câu, không trả lời được cuống quít giậm chân khóc rằng:
– Nếu cử nhân này sớm biết có tai họa ấy thì khi đó đã chú ý lưu tâm đến mọi việc rồi. Vả chăng con dâu mới cưới, những việc lặt vặt ấy cũng không tiện hỏi đến nên không được biết rõ ràng. Chỉ biết rằng tên Hồ Tác Tân kia vốn hay đùa bỡn, trước hôm cưới đã lúc vào lúc ra. Hắn để bụng hại người bằng thuốc độc thì tất nhiên không để cho ai trông thấy. Huống hồ đến canh hai, hắn mới cùng mọi người ra về, không chừng sau nửa đêm lén bỏ thuốc độc ngay trước đèn cũng nên. Việc này xin nhờ quan lớn khảo tra hắn, tự nhiên hắn phải khai nhận ngay.
Địch công phán:
– Việc này không phải trò trẻ, trọng án liên quan đến mệnh ngươi sao có thể chỉ tin chắc ý kiến một bên mà không nghi ngờ gì? Cho dù xưa nay Hồ Tác Tân có hay đùa bỡn, nhưng hai ngày nay các cô phù dâu đều ở trong phòng, hắn dám hạ thủ được sao? Việc này e rằng có cơn cớ khác, nay hãy gọi phù dâu ra cho bản huyện hỏi xem sao.

Hoa Quốc Tường thấy quan huyện biện bác hộ cho Hồ Tác Tân thì ngờ quan có ý bao che cho hắn, bất giác cuống lên nói:
– Quan lớn là cha mẹ dân, làm quan ăn lộc lẽ ra phải minh oan cho dân, lẽ nào cử nhân tôi rắp tâm vu hại cho Hồ Tác Tân? Nếu quan lớn nói hắn không chắc đã bỏ thuốc độc hại người rồi cứ thế mà hàm hồ cho xong việc hay sao? Cử nhân tôi đang ở trong hàng thân sĩ, xảy ra án này mà quan lớn còn dềnh dàng như thế, nếu là dân thường há chẳng để cho oan chìm đáy biển hay sao? Nếu đúng như thế thì thường ngày quan cũng chỉ có hư danh mà thôi!
Địch công thấy ông ta nói bừa bãi, song hiện đang là khổ chủ nên không tiện nổi giận, chỉ đành bảo:
– Bản huyện không phải không muốn xử vụ này. Lúc này đang tra hỏi cũng chính là muốn minh oan cho con dâu ông đấy thôi. Nếu chỉ nghe lời ông, đưa Hồ Tác Tân ra khảo đả, thế nếu anh ta cũng oan thì ai là người minh oan cho anh ta? Phàm việc gì cũng phải xét rõ, vả chăng lúc này còn chưa khám nghiệm, cớ sao ông nóng vội như vậy? Bản huyện phải hỏi người đưa dâu mới được .
Địch công liền sai nha dịch vào trong nhà giải lên. Hoa Quốc Tường bị quan nói cho như thế, đành vâng theo lời quan dạy.
Chỉ trong nháy mắt, người đưa dâu đã tới quì dưới đất.
Địch công hỏi:
– Ngươi là người đưa đâu chăng? Hay là người hầu của nhà họ Lý đi theo sang đây? Hay là người hầu của nhà bên này? Mấy ngày nay trong phòng tân hôn, người ra người vào nhiều, sao ngươi không cẩn thận trông nom?
Người này thấy Địch công nói năng dữ dằn thì sợ run lên, cúi đầu thưa rằng:
– Nô tì họ Cao, họ con gái là Trần, từ nhỏ chịu ơn của Lý phu nhân, nuôi dưỡng trong nhà làm người hầu. Sau lại đội ơn bà cho lấy chồng họ Cao tên Khởi, vợ chồng đều cùng làm người hầu của nhà họ Lý. Gần đây vì vợ chồng Lý lão gia nối nhau qua đời, Lý phu nhân gả chồng cho tiểu thư, thấy nô tì là người hầu cũ nên cho đi theo bầu bạn, không ngờ đêm hôm kia xảy ra cái vạ đó. Tiểu thư con chết không rõ ràng, cúi xin quan lớn tra hỏi Hồ Tác Tân cho rõ.

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1 – Trang 30

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1 – Trang 30

Chương 24 (B)

Thoạt đầu Địch công ngờ là người đưa dâu gây nên chuyện vì bà này là người hầu ở ngay bên cạnh cô dâu, lại ngờ Hoa Quốc Tường tham giàu ghét nghèo, muốn mưu toan chuyện khác nên sai người hầu này ám hại, vì vậy Địch công cố ý đem người hầu này ra tra hỏi. Lúc này nghe người hầu khai ra, biết là người hầu cũ của nhà họ Lý, cô dâu do bà này bế ẵm từ nhỏ, không lẽ nào đột nhiên nảy ra ý độc hại được. Quan huyện không biết tính sao, đành hỏi thêm:
– Nhà ngươi đã do bên họ Lý cho theo sang, mấy ngày qua lấy nước pha trà đều do một tay ngươi làm, vậy ấm trà buổi tối hôm đó nhà ngươi pha từ lúc nào?
Bà Cao đáp:
– Buổi chiều con pha một lần, sau khi lên đèn lại pha lần nữa. Nước trà cô con uống ban đêm là trà pha lần thứ hai.
Địch công lại hỏi:
– Sau khi pha trà, ngươi có rời phòng không? Lúc ấy trong thư phòng đã bày tiệc rượu hay chưa?
Bà Cao đáp:
– Đến bữa ăn tối, nô tì có ra khỏi phòng một lần, ngoài ra không rời phòng lần nào. Lúc ấy trong thư phòng đang có tiệc rượu thiếu gia nhà cô con cùng Hồ thiếu gia đều uống rượu ở đấy, nhung Hồ thiếu gia tối ấy quả thực tức giận bỏ về và nói những lời cay độc. Thuốc độc này hẳn là do cậu ấy bỏ vào trà.
Địch công nói:
– Cứ như ngươi nói thì chẳng qua mới chỉ là hiềm nghi. Ta lại hỏi ngươi, ấm trà pha buổi chiều đã có ai uống chưa?
Bà Cao nghĩ hồi lâu cũng không nhớ được có ai đã uống. Địch công nghe lời khai của bà Cao lại càng không biết phán quyết ra sao, đành quay sang bảo Hoa Quốc Tường:
– Lời của ông và mấy người khai vừa rồi đều là tự mình giữ riêng ý mình. Trà buổi chiều mới pha, lúc ấy Hồ Tác Tân đang uống rượu trong thư phòng; ngoài một lần sau bữa ăn tối, người bầu bạn với cô dâu không ra khỏi phòng, cô dâu không thể tự mình lại bỏ thuốc độc vào trà. Ta đã cho hỏi người hầu ấy xem buổi chiều có ai vào phòng cô dâu không nhưng người ấy không nhớ rõ. Vụ án như vậy làm sao có thể ức đoán được? Thôi hãy đợi bản huyện nghiệm xác xong đã rồi sẽ phán xét sau.

Nói rồi Địch công đứng lên bước vào bên trong. Lúc này bà họ Lý cùng già trẻ lớn bé nhà họ Hoa khóc ầm ĩ đến điếc cả tai, kể lể cô dâu xinh đẹp đến thế mà bỗng chết thảm đến thế.
Địch công vào đến sân nhà trên, trước hết cho đàn bà tránh ra hết, rồi ông đi xem xét quanh một lượt, sau đó cùng Hoa Quốc Tường bước vào bên trong. Trong phòng, rương hòm và vật dùng đều đã chuyển đi hết, chỉ riêng để lại ấm trà, chiếc thẻ tre sơn đỏ đặt trên bàn ghép bằng bốn mảnh sơn dầu, khá nhiều người hầu gái đứng cạnh trước giường. Địch công hỏi:
– Ấm trà này vốn đặt trên bàn phải không? Các ngươi đem bát ra đây để bản huyện thử xem sao.
Vừa dứt lời, sai dịch đã đưa chén trà tới, Địch công tự cầm lấy rót một chén nước trà trong ấm ra, quả nhiên thấy màu trà khác lạ với trà thông thường, nước tím đen tựa như nước mật, lại thoang thoảng mùi tanh. Xem xét một lát, bảo người cho gọi chó đến, lại bảo trộn một ít thức ăn với nước trà rồi Địch công cho đổ xuống đất. Con chó đến ngày tận số, cúi đầu hít ngửi vài cái là cắm đầu ăn. Chỉ khoảnh khắc sau, con chó hực cắn loạn lên chừng ăn một bữa cơm rồi lăn cổ ra chết. Địch công lấy làm lạ, vội bảo sai dịch niêm phong ấm trà tránh cho người khác uống lầm phải. Sau đó ông tới bên giường xem quanh một lượt, thấy người chết miệng vẫn còn rỉ máu, cả người xám xanh sưng mọng, biết chắc là uống phải thuốc độc rồi. Ông quay trở ra sân, sai người đưa bà Lý đến rồi nói với Hoa Quốc Tường:
– Cô gái này trúng độc mà chết, không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng hai nhà cả bên trai cũng như bên gái đều là dòng dõi thư hương, xảy ra việc này cũng đủ bất hạnh lắm rồi. Nay ông đã có đơn kêu bản huyện cứu xét, lẽ nào ta lại không đến nghiệm xác? Có điều, người chết bỏ mệnh vì thuốc độc là điều không ngờ tới, nay nếu lật thây khám nghiệm thì người sống và người chết đều không được yên. Người chết càng thấy oan khuất mà người sống cũng mất thể diện. Bản huyện thấy rằng chi bằng định án là chết vì chất độc, sau này tra ra được thủ phạm, ắt lấy lời khai của nó làm bằng, đỡ phải lật xác khám nghiệm. Đây vốn là ý thương xót của ta, ta cho mời riêng hai nhà đến để nói rõ nguyên do. Nếu hai nhà không nỡ để cho người chết phải khổ thì thôi không phải nghiệm xác nữa, kẻo sau này lại hối là không nghe theo.
Hoa Quốc Tường chưa kịp có lời thì bà Lý đã kêu khóc:
– Bẩm quan lớn, nhà chúng tôi chỉ có một đứa con gái này, vì cháu chết không được rõ ràng nên mới phải cứ sự thực mà kêu lên. Nay quan lớn đã định án như thế để tránh cho cháu chết rồi mà còn chịu khổ thì đàn bà chúng tôi tình nguyện xin miễn khám nghiệm.
Thấy nhạc mẫu nói thế, Hoa Văn Tuấn cũng vì vợ chồng nghĩa nặng, không muốn xác vợ bị người khác đụng chạm đến nên cũng nói với cha:
– Cha hãy cho phép làm như thế đi, con thấy vợ con chết thảm quá, may được quan lớn cho hoàn tất, định án là trúng độc, cha cũng nên nghe theo lời quan để còn nhận về liệm chôn.

Hoa Quốc Tường thấy con trai và mẹ người chết đều nói như thế không thể đòi hỏi gì hơn nên đành im xuống, cùng bà Lý làm cam kết miễn nghiệm xác; sau đó nói với Địch công:
– Quan lớn có bảo cử nhân tôi nên miễn nghiệm xác. Tuy ý ngài là muốn thương xót, giữ thể diện cho, nhưng con dâu tôi bỏ mệnh vì trúng độc thì việc này mọi người đã thấy cả rồi. Chỉ xin quan lớn thế nào cũng phải tra hỏi tên Hồ Tác Tân rồi theo lệ mà trừng trị. Nếu để hai nhà cam kết, nhận về khâm liệm rồi đậy nắp áo quan đem chôn không thôi thì lúc đó quan lớn cũng chẳng hay ho gì.
Địch công gật đầu, nhận tờ cam kết, cho sai dịch lui hết ra khỏi nhà sau. Lòng ông thực rất phân vân, cảm thấy không tiện bỏ về ngay liền lên nhà trên ngồi, để ý xem khi mọi người đi ra có động tĩnh gì không.
Tất nhiên lúc ấy nhà trong nhà ngoài náo loạn cả lên. Đám người hầu và bạn bè thân thích của gia chủ đều lo việc ở nhà trong, may mà quan tài và mọi thứ khác cần đến đều lo liệu đầy đủ từ hôm qua. Bà họ Lý và Hoa Văn Tuấn là hai người đau đớn nhất, lệ trào không dứt.
Đợi cho quan tài đặt xong xuôi, chỉ còn thay quần áo cho người chết nữa là khâm liệm, Địch công mới theo mọi người vào nhà trong. Chỉ thấy từng luồng hơi tanh từ phía giường người chết xộc lên tận óc, ông cũng không nhận ra đó là mùi gì thầm nghĩ: “Xưa nay ta tùng xét nhiều vụ kỳ án, đã là do trúng độc gây ra thì trong ấm trà chẳng qua cũng mấy thứ phê sương, thạch tín, uống vào bụng thì thất khiếu ứa máu, lập tức mệnh vong, làm sao lại có mùi tanh tưởi đến thế? Xác cô gái tuy tím tái sưng mọng song da không nát, vả ngực lại trương mọng như trái dưa, hiển nhiên là do nguyên nhân khác. Không biết dưới gầm giường có loài vật gì độc hay không? Một mình Địch công cứ thầm suy nghĩ như vậy.
Bỗng nghe một người la lớn:
– Nguy rồi! Làm sao chết đã hai ngày mà bụng còn máy động được? Phải chăng muốn tác quái đây?
La rồi người ấy nhảy ngay khỏi giường, mặt cắt không còn hạt máu, bỏ chạy luôn. Người đứng xem thấy người kia la như thế đều lấy hết can đảm tới chỗ đó xem nhưng lại không thấy động đậy gì nữa, đến nỗi ai cũng bảo người kia trông gà hóa cuốc. Lúc ấy ai nấy vội vàng tay năm tay mười mặc quần áo vào cho người chết. Thầy cúng gọi mang vào nhập quan, mọi người ùa nhau xuống khỏi giường, nâng xác lên đưa đi khâm liệm.
Đợi mọi người đi ra hết, Địch công mới tự tới bên giường cưới, xem kỹ một lượt, lại nhìn kỹ dưới gầm giường thấy có rất nhiều máu nhỏ giọt, trong giọt máu có lẫn chút lông tơ đen dường như đang chuyển động.
Nhìn kỹ xong, Địch công ra khỏi nhà sau, lên sảnh trên ngồi, thầm nghĩ: “Vụ này nhất định không phải Hồ Tác Tân gây ra, trong đó ắt có chuyện quái dị gì đây. Hoa Quốc Tường tuy một mực khai cho cậu ta, không chịu buông tha, nếu ta không làm theo cách này thì ông ta không chịu nghe theo”.
Chủ ý định xong, việc khâm liệm cũng hoàn tất, Địch công cho người mời Hoa Quốc Tường đến, bảo:
“Việc này dường như có điều gì đó rất đáng ngờ, bản huyện thông thể không tra cho ra. Hồ Tác Tân tuy là bị cáo, bà Cao là người bầu bạn với cô dâu, cả hai đều không thể đứng ngoài. Mong ông giao nộp cả bà ta để cùng tra hỏi cho được công bằng. Nếu chỉ một mực đòi hỏi Hồ Tác Tân cung khai không thôi, há lại chẳng bị người đời dị nghị ? Bản huyện không khi nào đối xử khắc bạc với bà giúp việc nhà ông đâu!
Nghe quan huyện nói như vậy, Hoa Quốc Tường thấy vụ án này ắt phải do quan phụ mẫu địa phương xét đoán, vì vậy đành gọi bà Cao ra cho quan thẩm vấn tại công đường. Địch công lập tức lên kiệu về huyện nha. Lúc này chỉ có mẹ Hồ Tác Tân là muôn phần cảm kích, biết Địch công có ý tốt, liền ngầm mua chuộc sai dịch đưa tin vào cho con trai được biết.

Lại nói Địch công về tới huyện nha song không thăng đường thẩm vấn, chỉ truyền giao Cao thị cho đàn bà cai quản, ngoài ra không hỏi gì đến những việc khác của vụ án, mấy ngày liền đều như thế. Hoa Quốc Tường sốt ruột quá, oán con trai:
– Thằng súc sinh kia, việc này chỉ do mày làm lỡ. Mẹ vợ mày đồng ý miễn nghiệm xác vì bà ấy là đàn bà, không hiểu mối hại điều lợi của việc công. Xưa nay người làm quan chỉ muốn càng ít việc càng tốt, chỉ cốt sao bản thân đứng vững, còn oan khuất của người khác chẳng cần hỏi đến. Hôm kia hắn nhất định xin ta cho miễn nghiệm xác. Mày đã thấy viên quan chó chết ấy chưa? Đến hôm nay cũng chưa hỏi tra. Hắn cậy vào tờ cam kết của hai nhà chúng ta đó mà! Tuy trúng độc là sự thực còn tên Hồ Tác Tân bỏ thuốc độc thì chưa có chứng cớ hắn vin vào đó mà trì hoãn, có ý bênh che cho tên chó họ Hồ, há tất cả chẳng phải do mày làm lỡ hay sao? Hôm nay ta phải đến giục giã xem hắn đối xử với ta ra sao? Nếu không thì tờ đơn gửi lên cấp trên là điều không tránh khỏi.
Dứt lời, Hoa Quốc Tường sai người mang mũ áo tới, đội mặc vào rồi đi thẳng đến huyện Xương Bình.
Địch công vì sao không thẩm vấn vụ án này cho xong đi? Bởi ông là vị quan tốt, không bao giờ chịu vu cáo cho người dân. Ông thấy vụ án này quyết không phải do Hồ Tác Tân gây ra, cũng không phải do bà Cao mưu hại. Tuy biết rõ như thế song lại nghĩ chưa ra nguyên do, thuốc độc từ lúc nào được bỏ vào vì thế chưa tiện xử. Chiều hôm ấy, đang trao đổi với Mã Vinh rằng:
– Vụ án ở Lục Lý Đôn ngay từ đầu bản huyện đã biết là dễ. Chỉ cần bắt được tên họ Thiều là có thể kết thúc được rồi. Có điều khám nghiệm không ra thương tích của tên Tất Thuận, ta đã tự kiểm điểm rồi. Nào ngờ sóng này chưa lặng, sóng kia đã nổi, con dâu Hoa Quốc Tường lại mắc vào vụ nghi án. Nếu chỉ đổ dồn cho Hồ Tác Tân, ta không khỏi cảm thấy không nỡ. Hôm trước, người ở nhà ấy đã từng thấy các tình tiết vụ án đều không thể đoán định được. Ta đòi Cao thị về đây cũng chẳng qua để ngăn Hoa Quốc Tường giục giã mà thôi. Các vụ án qua tay ngươi cũng không ít, vậy hãy khá nghĩ giùm cho bản huyện, hỏi thăm xem xung quanh đây có người nghiệm xác nào giỏi thì tìm đến hỏi han, may chi có thêm manh mối.
Hai người đang trò chuyện như vậy thì có sai dịch vào báo:
– Hoa cử nhân hiện đang ở trên công đường, ông ta muốn gặp quan lớn để hỏi xem vụ án kia tiến hành đến đâu rồi.
Địch công nói:
– Bản huyện biết thế nào ông ta cũng đến giục mà! Ngươi hãy ra mời ông ta vào. Gọi người đón tiếp chu đáo nhé!
Người ấy vâng lời đi ra. Lát sau, Hoa Quốc Tường đội mũ mặc áo chỉnh tề bước vào, Địch công đành mời vào thư phòng, chia ngôi chủ khách cùng ngồi. Hoa Quốc Tường cất lời nói trước:
– Hôm kia tôi có được quan lớn cho gọi người hầu tới hỏi tra, trong mấy ngày vừa qua, vụ án hẳn đã tra xét xong. Rốt cuộc ai là kẻ bỏ thuốc độc, xin quan lớn cho biết, tôi cảm kích vô cùng.
Địch công đáp:
– Bản huyện suy nghĩ về vụ này đã lâu nhưng tạm thời vẫn chưa tìm ra nguyên do, cho nên chưa đưa người ra thẩm vấn. Nay tôn ông đến vừa đúng lúc. Xin hãy ngồi chơi để ban huyện thẩm vấn xem ra thế nào.
Dứt lời, ngoài công trường đã chuẩn bị xong, Địch công lập tức thay áo lên công đường thẩm vấn. Trước hết ông sai đưa Hồ Tác Tân lên hỏi. Công sai vâng dạ ra khỏi công đường điệu Hồ Tác Tân tới.
Hồ Tác Tân quì trước án, Địch công nói:
– Bản huyện đã tới hiện trường nghiệm xác vợ Hoa Văn Tuấn, rõ ràng là trúng độc mà thiệt mệnh. Mọi người đều khai cho một mình ngươi mưu hại. Ngươi hãy thành thực khai ra, khi nào ngươi bỏ thuốc độc cho người ta?
Hồ Tác Tân thưa:
– Hôm kia học trò đã khai rõ, rằng đùa bỡn là chuyện thực mưu hại là việc oan uổng. Học trò còn biết khai thế nào nữa?
Địch công nói:
– Ngươi đừng hòng chối quanh, hiện có người hầu bầu bạn với cô dâu làm chứng. Lúc mời rượu hôm đó, Hoa Văn Tuấn đi tạ ơn khách khứa, ngươi cùng mọi người thỉnh thoảng ra vào phòng cô dâu rồi thừa lúc không ai để ý bỏ thuốc độc vào trà. Ngươi còn gian ngoan chối bỏ hay sao?
Hồ Tác Tân nghe xong vội kêu:
– Quan lớn soi xét, nếu người ta bảo con cùng mọi người thỉnh thoảng lại vào phòng cô dâu, đủ thấy không phải chỉ một mình học trò vào phòng. Đã không phải một mình vào phòng thì mắt ai cũng thấy, học trò làm thế nào thừa cơ được? Dù cho học trò có bỏ thuốc độc thì một ngày hôm ấy, thời gian rất dài há lại không có ai tới rót nước ở ấm? Làm sao người khác uống thì không chết, chỉ riêng cô dâu uống thì lại có thuốc độc?

Trà ấy do ai rót, ai pha, pha lúc nào? Xin quan lớn tra xét ngọn ngành. Học trò không dám chỉ đầu danh ai song người bầu bạn với cô dâu hẳn biết. Trừ bạn hữu thân quen vào phòng ra, đàn bà hầu hạ trong nhà há lại không có một ai vào phòng? Quan lớn không truy hỏi những điều nói trên mà chỉ hỏi một mình học trò, thì dù có khảo đả bằng cực hình, học trò cũng không thể có khẩu cung khai nhận được. Cúi mong quan lớn xét rõ.
Địch công nghe Hồ Tác Tân trình bày như thế, cố ý nổi giận mắng:
– Tên học trò vô sỉ kia, tự mình có tâm địa bất lương gây nên tai họa, thật là tình, lý khó dung tha. Đến nơi công đường oai nghiêm này thì phải thực thà khai nhận, cớ sao lại lôi kéo người khác vào để mong thoát thân? Ngươi phải biết rằng bản huyện là bậc quan soi sáng vạn dặm, há cho phép người bẽo mép tranh cãi? Nếu còn dám loanh quanh chối cãi thì quốc pháp ở đây sẽ ra oai khảo đả đấy!
Hồ Tác Tân nghe nói vậy, bất giác gục đầu kêu xin:
– Học trò thực là oan uổng, quan lớn nếu không tra hỏi nữ tì nhà họ Hoa thì dù có đánh chết học trò, vụ án này vẫn không sáng tỏ được. Vả xưa nay xét án không có lẽ nào chỉ nghe riêng một phía. Nếu Hoa Quốc Tường không cho giải người hầu đến đây, ắt bên trong có duyên do gì khác, kính mong quan lớn nghĩ lại.
Địch công nghe nói, quát to:
– Hồ Tác Tân, bản huyện thấy ngươi là học trò hàng huyện, không nỡ đánh đập khổ sở. Nay ngươi cãi hăng như thế, nếu ta không thẩm vấn nữ tì nhà họ Hoa, hẳn ngươi cũng không cam tâm?
Lập tức Địch công cho đưa bà Cao lên, hai bên hô lấy oai, Cao thị bị đưa vào, quì trước án. Địch công nói:
– Theo lời khiếu kiện của gia chủ ngươi, án mệnh thực do Hồ Tác Tân mưu hại, song hắn dứt khoát không nhận. Ngươi hãy khai ngày hôm trước, hắn vào quấy phá trong phòng cô dâu ra sao, khi nào thì thừa cơ bỏ thuốc độc để cùng đối chất với hắn.
Cao thị khai:
– Việc Hồ Tác Tân quấy đảo hôm cưới vào ngày lành, gia chủ nô tì đã nói rõ rồi. Chỉ vì gia chủ nặng lời với hắn khiến cho hắn nuôi ý xấu trong lòng, trước khi ra về còn bảo chúng tôi hãy cẩn thận phòng bị trong ba ngày tới. Lúc bây giờ ai cũng cho là nói đùa, nào ngờ ngày hôm sau trở lại, thừa cơ bỏ thuốc độc. Tính ra chỉ vào khoảng trước sau lúc lên đèn, lúc ấy nhà trong nhà ngoài đều bày tiệc rượu. Nô tì tuy ở trong phòng nhưng trong khoảng hoàng hôn đó cũng không nhận thấy, vả chăng người vào ra rất nhiều. Chỉ riêng một mình hắn thì từ sáng tới chiều đã vào ra mấy bận, có phần chắc lúc đó mượn tiếng là rót trà mà bỏ thuốc độc vào. Chỉ mong quan lớn hãy tước bỏ danh hiệu học trò của hắn, dùng hình phạt tra hỏi, thì chẳng còn sợ hắn không chịu nhận nữa.

Địch công chưa cất lời thì Hồ Tác Tân đã vội nói:
– Đồ chó nô tài kia, ngươi đừng có bẻo mép làm hại tính mệnh người khác. Hôm trước quấy phá phòng cô dâu cũng đâu có một mình ta? Chỉ vì lão gia nhà ngươi mắng một mình ta, ta mới nói bừa một câu để giữ thể diện ra về, sao lại dẫn câu đó ra làm bằng chứng? Nếu bảo ta rót nước trước sau khi lên đèn rồi bỏ thuốc độc thì điều này là vu khống. Từ buổi sáng khi cùng với các bạn cười đùa một hồi trong phòng cô dâu, sau đó ta không còn vào lần nào nữa, mà người khác cũng không vào. Trước sau lúc lên đèn đúng là lúc công tử nhà ngươi đang đi cảm ơn khách, ngay cả công tử cũng không tới phòng mới cưới mà cùng uống rượu ở thư phòng với bạn bè. Nói như ngươi thì há chẳng phải nói không thành có, cố ý hại người hay sao? Huống hồ lúc ấy cách lúc đi ngủ còn lâu, há không có ai vào rót trà hay sao? Làm sao người khác không chết mà chỉ mình tiểu thư nhà ngươi chết. Hẳn là bọn các ngươi ngày thường oán phu nhân tiểu thư cay nghiệt, hoặc trong lòng bất mãn nên mới hạ thủ độc địa như vậy. Nếu không thì cha con họ Hoa thông đồng mưu hại để tiện lấy vợ nhà cao sang. Những việc đó bất luận thế nào cũng không liên can gì tới ta. Ngươi cứ nghĩ mà xem, ta cùng với mọi người vào phòng cô dâu buổi sáng rồi ra về, ngươi là người bầu bạn theo từ nhà gái sang, tất nhiên là lúc nào cũng ở cạnh cô dâu, ngươi có thấy ta một mình vào phòng lúc nào hay chưa?

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1 – Trang 31

Chương 24 (C)


Cao thị bị hỏi liền một chặp như thế, mới nghĩ lại hôm ấy thực là chẳng hề lưu tâm, không biết thuốc độc được bỏ vào khi nào. Huống hồ ấm trà đó do chính tay mình pha, nghĩ đến đây thì đâm hoảng sợ, khó mà lấy lời nào biện bạch cho được. Cao thị định một lần nữa đổ riệt cho Hồ Tác Tân nhưng Hồ Tác Tân đã bác đi rồi. Địch công lại oai nghiêm như thế khiến mụ sợ hãi nói không nên lời.
Thấy thế, Địch công bèn nói:
– Ngươi nói Hồ Tác Tân buổi chiều có vào phòng nhưng hắn không vào. Vả lại vừa nãy ngươi khai khi ngươi ra ngoài ăn cơm tối thì Tác Tân đang cùng với cậu chủ nhà ngươi uống rượu trong thư phòng. Lão gia nhà ngươi cũng nói Tác Tân vào phòng cô dâu lúc ban sáng, theo như thế, rõ ràng việc bỏ thuốc độc không do hắn làm. Ngươi là người hầu lâu năm, lẽ ra phải hết sức để ý, hơn nữa ấm trà là do người pha, sao lại có thể vu vạ cho Tác Tân? Bản huyện suy xét tình lý thì vụ án này do ngươi gây ra. Nếu ngươi không chịu khai, thì ta sẽ đãi ngươi bằng cực hình đó.
Nghe quan nói vậy, Cao thị sợ hãi run rẩy cả người, lạy như tế sao, miệng kêu:
– Xin quan lớn đèn trời bớt giận, nô tì đâu dám sinh lòng độc ác phụ ơn lớn của lão phu nhân họ Lý? Hơn nữa tiểu thư là do nô tì bế ẵm cho tới khi lớn, nỡ nào một sớm một chiều hạ độc thủ như vậy? Việc này cúi mong quan lớn truy tìm đến cùng mới được.
Địch công nghe nói, thầm nghĩ: “Vụ án này kỳ quái thật. Cả hai khai như thế thì đến ta cũng chẳng biết làm sáng tỏ ra sao. Một bên là thư sinh nho nhã, một bên là bà vú lâu năm, không lý nào họ lại mưu sát? Vụ này mà không phán quyết được thì sao xứng là quan phụ mẫu của dân? Xem ra phải truy cứu từ chiếc ấm trà mới được”.
Địch công một mình ngồi trên công đường vắng lặng, nghĩ mãi không ra manh mối, chợt gia nhân trực nhật đưa lên một chén trà vì ông ngồi xét án đã lâu, e rằng ông cần đến nước uống. Địch công thấy gia nhân đưa nước đến, bèn mở nắp chén lên, thấy trong chén có bụi đen nổi trên mặt trà. Ông hỏi người kia:
– Ngươi vô ý vô tứ từ lúc nào vậy? Phòng trà dâng trà cũng không chọn nước trong mà nấu, trên mặt chén trà có nhiều bụi đen ở đâu ra vậy ?
Gia nhân vội vàng thưa:
– Việc này không liên can gì đến con. Con đứng bên cạnh nhìn thấy đúng lúc pha trà thì trên mái hiên bỗng rơi xuống một túm bụi vì thế mà nước trà không được trong.
Nghe gia nhân nói, Địch công đột nhiên bừng tỉnh, ngoảnh sang bảo Cao thị:
– Ngươi nói ấm trà do ngươi pha, thế nước pha trà do phòng trà mua về hay là nước trong nhà tự nấu?
Cao thị thưa :
– Vì việc hỉ kéo liền mấy hôm, khách khứa đến đông, Hoa lão gia sợ mua nước bên ngoài không tiện có ngay nên từ hôm có việc vui đều là nước do trong nhà tự nấu.
Địch công nói:
– Nước do người nhà nấu, vậy có do ngươi nấu không?
Cao thị đáp:
– Nô tì chỉ dùng nước sôi có sẵn, có riêng một người cai quản việc đun nước.
Địch công lại hỏi:
– Ngươi không nấu nước, vậy chỗ nấu nước ở đâu?
Cao thị đáp:
– Dạ ở một gian bỏ không đằng sau nhà bếp.
Địch công nghe khai xong, phán bảo:
– Bản huyện đã biết phải tra vụ án này từ đâu rồi. Hai ngươi hãy tạm lui ra, giam vào hai nơi, chờ bản huyện ngày mai phá án xong sẽ thả các ngươi.
Nói xong, ông đứng lên bước vào nhà trong.

Lúc này Hoa Quốc Tường đứng ở phía sau nghe thẩm vấn, thấy quan huyện chuyên nói thay cho Hồ Tác Tân, tức giận không được vào công đường, đánh cho quan huyện một trận. Chỉ vì đây là công đường xử kiện của quốc gia, không được sơ suất, sau lại thấy quan trầm ngâm, không phán quyết được bề nào rồi bỗng nhiên lại cho hai người lui xuống thì trong lòng càng bực bội. Thấy Địch công bước ra, Hoa Quốc Tường sầm mặt hỏi:
– Xưa nay quan lớn xét án cả như vậy hay sao? Không dùng cực hình tra hỏi đã đành, cả đến bác bỏ cũng không dám mở miệng hay sao? Cứ theo thế mà suy thì ngày này năm sau cũng chưa thể xử cho rõ ràng được. Ngài không biết nha môn châu phủ ở đây chưa từng đóng cửa bao giờ. Ngoài trời còn có trời khác, đến lúc ấy xin đừng trách cử nhân này vượt cấp!
Nói xong, hầm hầm đứng dậy đi ra. Địch công thấy thế cười mà bảo rằng:
– Vụ việc của nhà ông, bản huyện đã rõ rồi. Xin cứ yên tâm đừng nóng vội. Chiều mai, bản huyện nhất định sẽ làm sáng tỏ. Đây là việc thuộc bổn phận bản huyện, không cần mệt nhọc kiện lên cấp trên. Nếu ngày mai bản huyện không làm sáng tỏ được, khi ấy không cần ông phải mất công đưa lên trên mà bản huyện cũng không còn mặt mũi nào làm quan huyện ở đây nữa. Xin ông hãy trở về nhà.
Hoa Quốc Tường nghe nói như thế cũng bán tín bán nghi, đành nói:
– Chẳng phải cử nhân tôi nóng lòng sốt ruột mà chỉ vì vụ án để đã lâu ngày, không nỡ để người chết phải ngậm oan mà thôi. Quan lớn đã nhìn ra manh mối, vậy ngày mai xin chờ đón quan lớn tại nhà.
Nói xong, cáo từ về nhà.
Địch công vào thư phòng, Mã Vinh tới trước mặt hỏi:
– Quan lớn hôm nay thăng đường quả quyết nói ngày mai sẽ kết thúc vụ án là do đâu?
Địch công đáp:
– Phàm vụ việc gì cũng phải xét tới chữ lý. Ngươi xem Hồ Tác Tân là người như thế có lý nào là kẻ hại người? Chẳng qua chỉ là tuổi trẻ đang hăng, thích đùa bỡn rồi lỡ miệng nói mấy câu có ý đe dọa, nào ngờ vừa đúng ngày hôm sau xảy ra tai họa như thế nên người ta mới đổ riệt cho hắn. Nếu bản huyện cũng hùa theo họ khảo đả anh ta mà anh ta là con nhà thế tộc bây giờ mắc phải vụ này, mẹ và con đã khổ sở lắm rồi, bản huyện lại tin chắc một phía, bắt phải khai nhận thì chẳng đợi bản huyện tra xét thêm, mẹ con họ đã có thể liều mình. Thế thì vụ án này chưa kết thúc, vụ án oan uổng khác đã lại nảy ra. Về Cao thị, nghe lời bà ta khai, nhà họ Lý vốn là ân nhân, càng không có lý nào mưu hại chủ. Bởi vậy mấy ngày nay, bản huyện nghĩ tới nghĩ lui mà vẫn tìm không ra nguyên do vụ án, vì thế mà không thăng đường. Hôm nay Hoa Quốc Tường tới giục giã bản huyện đành thăng đường hỏi cho xong chuyện. Bản huyện vẫn biết có chuyện ở cái ấm trà, không ngờ khi phòng trà dâng trà cho bản huyện, trên mặt nước có nhiều bụi nổi do rơi từ mái hiên xuống. Nơi nấu nước của nhà họ Hoa ở một căn phòng bỏ không đằng sau bếp, suy ra chẳng thấy rõ manh mối của vụ án này rồi hay sao?

Mã Vinh nghe xong nói:
– Trí xét đoán của quan lớn thật là tinh tế, nhưng nếu tìm theo hướng đó mà vẫn không kết thúc nổi vụ án thì vụ này xem ra càng khó hơn vụ Tất Thuận ở trấn Hoàng Hoa rồi. Sáng ngày hôm sau, Địch công đội mũ nhỏ, mặc áo xanh, đem theo hai viên chức dịch trực nhật cùng trợ thủ Mã Vinh, Kiều Thái đi bộ tới nhà Hoa Quốc Tường. Cả đoàn lên trên sảnh, gặp lúc Hoa Quốc Tường đang sai người quét dọn trước sảnh, thấy quan huyện đã vào tới bên trong, Quốc tường đành đón vào cùng ngồi rồi sai người đi lấy mũ áo. Địch công cuộc bảo:
– Bản huyện đã không câu nệ hình thức, tôn ông hà tất vất vả. Chỉ vì vụ việc của con dâu ông hôm ấy có thể xét rõ, vậy xin cho gọi người nấu nước đến đây cho bản huyện xét hỏi.
Hoa Quốc Tường không hiểu quan huyện có ý gì, thấy ông sáng sớm đã đến, không tiện ngăn trở đành cho gọi người kia. Địch công thấy đó là cô hầu chừng mười tám, mười chín tuổi, tới trước mặt Địch công thì cúi chào, quì xuống. Địch công bảo:
– Đây không phải là công đường, không cần phải giữ lễ như vậy. Ngươi tên gì? Lâu nay vẫn chuyên một việc nấu nước hay sao?
Cô hầu thưa:
– Tiểu nữ tên Thái Cô, lâu nay hầu hạ phu nhân, chỉ vì mấy ngày gần đây nghênh đón mợ chủ nên được giao việc nấu nước.
Địch công hỏi:
– Buổi chiều hôm ấy Cao thị đến lấy nước, ngươi ở tại bếp có phải không?
Thái Cô đáp:
– Tiểu nữ đang ở trong bếp nấu nước sôi. Sau đó lúc lên đèn, phòng trên có việc gọi con, bà Cao đến lấy nước pha trà không thấy con. Việc xong, con trở lại bếp, thấy nước đổ lênh láng trên lò. Hỏi ra mới biết lúc bà Cao đến lấy nước pha trà, trên lò nước chưa sôi, bà ấy mang lò xuống đặt dưới mái hiên, rồi bỏ thêm than, quạt lửa đun được một ấm nước sôi. Bà ấy chỉ dùng hết một nửa ấm, bèn xách nửa ấm nước ấy ra sân đổ thêm nước lạnh, không ngờ chân trái vấp một cái, nước trong ấm đổ cả xuống đất. Lúc con trở về bếp múc ấm nước mới, bà ấy mới đi về phòng. Đó là đầu đuôi việc pha trà sau lúc lên đèn hôm ấy, còn những việc khác thì con không được biết.
Địch công nghe xong, sai Mã Vinh trở về huyện nha đưa Cao thị về đây. Mã Vinh vâng lệnh ra đi, lát sau đưa Cao thị về Địch công quát:
– Đồ chó nhà ngươi xảo quyệt lắm thay. Hôm trước ngươi khai xẩm tối hôm ấy pha trà là dùng nước đun sôi sẵn có. Hôm nay Thái Cô khai hôm đó ngươi chuyển lò ra dưới mái hiên đun cho nước sôi, lấy một nửa pha trà, một nửa còn lại đổ cả xuống thềm. Rõ ràng ngươi cung khai không thật, ngươi còn dám chối không?
Cao thị bị quan quát mắng sợ quá, lạy như tế sao, nói:
– Xin quan lớn ra ơn, nô tì do phải ra công đường nên quá sợ hãi, trong lúc lòng dạ rối bời nên khai sai đi để đỡ phải trả lời quan lớn chứ thục ra nô tì không hề có ý gì khác.
Địch công nổi giận:
– Người chỉ biết bẻo mép nhất thời, còn nỗi oan uổng của tiểu thư bị nhà ngươi làm chậm trễ đến bao nhiêu ngày. Nếu bản huyện không sáng suốt, há lại chẳng làm oan thêm Hồ Tác Tân nữa hay sao? Nếu ngươi sớm khai thật như vậy thì làm sao bản huyện phải lao tâm khổ tứ, nghĩ không ra manh mối? Đợi vụ án này làm sáng tỏ xong, ta sẽ trách phạt ngươi.
Nói xong, Địch công đúng dậy bảo với Hoa Quốc Tường:
– Bản huyện cùng ông xuống bếp để tiện sai người tra xét.
Lúc này Hoa Quốc Tường đành theo Địch công xuống bếp. Tới nơi, Địch công thấy bếp là ba gian nhà trên quay mặt về hướng đông, hai bên nam bắc là bốn phòng xép. Địch công hỏi Thái Cô:
– Ngươi nấu nước hôm ấy phải chăng ở gian phòng xép hướng bắc kia.
Thái Cô đáp:
– Chính là gian ấy, bây giờ bên trong hãy còn đặt cái lò bằng đất.
Địch công bước vào gian ấy, thấy đúng như vậy. Mái hiên gian này quá cũ kỹ, ngói, cột hủy hoại đến quá nửa. Địch công lại hỏi Cao thị:
– Tối hôm ấy người chuyển lò đun nước tới thềm gian nào?
Cao thị chỉ về phía trước:
– Dạ con để lò trên hòn đá xanh kia.
Địch công theo hướng Cao thị chỉ nhìn kỹ mái hiên phía đó thấy mái đã sa xuống nửa gang, ngói mái đã vỡ nát. Ông quay qua bảo Cao thị:
– Hôm trước ngươi khai không đúng, lẽ ra phải cho ngươi ăn tát, song nghĩ lại thấy ngươi tuổi cao lú lẫn, ta phạt ngươi đặt lò ra chỗ cũ nấu nước sôi để ta ngồi đây uống trà.

Hoa Quốc Tường thấy Địch công xem xét một chập, không phán rõ được lời nào, bây giờ bỗng nhiên lại bắt Cao thị nấu nước sôi. Nấu nước sôi không phải là tra xét án, bất giác ông ta thầm nổi giận, bảo với Địch công:
– Quan lớn đến nhà xét án, lẽ ra chúng tôi phải chuẩn bị sẵn nước trà. Nếu đợi đồ chó ấy đun sôi nước, e rằng lâu la không kịp tra xét. Mụ đó cung khai không thật, lẽ ra ngài nên đưa về công đường trừng trị để hai năm rõ mười . Nếu ngày bày trò này ra, há chẳng trở thành đùa bỡn hay sao?
Địch công mỉm cười, nói:
– Tôn ông thấy chẳng khác gì trò đùa, song ông nên biết rằng bản huyện truy tìm duyên do chính ở việc này. Xin để bản huyện làm chủ, tôn ông không phải nhiều lời.
Nói xong, Địch công sai người mang hai bộ bàn ghế đặt trong bếp, rồi ngồi xuống đó nói chuyện gẫu với đám kẻ ăn người làm tại bếp. Một lúc sau, Địch công lúc thì giục Cao thị cho to lửa, lúc thì quạt lò, lúc thì bỏ trà, luôn tay luôn chân. Tới lúc nước đun đã sôi, trà đã pha xong thì Địch công lại chẳng uống, cứ như thế đến cả chục lần.
Cao thị đang ở đằng ấy đẩy củi cho lửa cháy to, bỗng trên mái hiên có mấy vụn đất rơi xuống đấu bà ta. Cao thị lấy tay phủi đất trên dầu. Địch công đã trông thấy ngay từ đầu, vội gọi:
– Ngươi mau lại đây!
Thấy quan gọi, Cao thị đành đi tới trước mặt quan. Địch công bảo:
– Người đứng dậy đợi lát nữa, con vật độc địa hại chết tiểu thư nhà ngươi sắp xuất hiện ngay thôi.
Cao thị không dám nói gì, Hoa Quốc Tường không tin lời quan huyện, đứng dậy bỏ đi lên nhà trên. Địch công không ngăn ông ta, vẫn ngồi trên ghế, hai mắt nhìn chằm chằm vào mái hiên. Quả nhiên ở chỗ mái hiên, có đất bụi rơi ló ra một màu hồng nhấp nháy, lúc thò ra, lúc thụt vào, song không biết là con vật gì. Địch công mừng khấp khởi trong lòng, bảo Mã Vinh:
– Các ngươi đã nhìn thấy chưa?
Mã Vinh đáp:
– Nhìn thấy rồi ạ, quan cho lấy vật đó ra chăng?
Địch công vội nói:
– Chớ có động thủ! Đã có vật này thì ta nên mời gia chủ cùng quan sát đã. Để ông ta thấy con vật này bỏ chất độc như thế nào thì mới khiến ông ta tin phục được. Xưa nay bản huyện xét án không khi nào xử oan cho người khác. Nếu chưa tra cứu được đến cùng thì sao gọi được là cha mẹ dân?
Lúc ấy Thái Cô cũng đã thấy rõ, bèn chạy lên nhà trên báo cho Hoa Quốc Tường biết. Mọi người trong nhà được tin đều lấy làm bất ngờ, ai cũng thầm phục Địch công xét án như thần. Hoa Quốc Tường cũng tới xem. Địch công bảo:
– Vụ án này hầu như đã rõ. Xin ông ngồi một lát đợi xem con vật đó ra sao.

Lúc ấy Hoa Quốc Tường ngẩng đầu lên nhìn kỹ, thấy một luồng khói trên lò bốc lên mái hiên, cái ánh màu đỏ bị khói xông lên ngọ nguậy chuyển động rồi đột nhiên thò ra một cái đầu con rắn. Rắn thò cổ nhìn xung quanh, mồm nhểu dãi rỏ xuống bếp lò. Rắn thấy đông người lại thụt ngay vào bên trong. Mọi người đứng xem đều im lặng nín hơi, sợ đến nỗi không dám lên tiếng. Địch công bảo Hoa Quốc Tường:
– Thì ra con dâu ông bị con vật này giết hại. Đây là điều tôn ông chính mắt nhìn thấy, không phải tôi bênh che cho Hồ Tác Tân nhà này của ông hư nát đã lâu, lâu ngày không sửa sang nên làm chỗ ẩn cho rắn độc. Chi bằng bây giờ dỡ bỏ ngay đi.
Dứt lời, bảo mọi người không có việc gì thì lui ra, sai Mã vinh, chức dịch trực nhật và mấy người làm việc vặt của nhà họ Hoa cầm gậy gộc, trước hết dỡ bỏ mái hiên. Trên mái có tiếng động rồi một con rắn mình đỏ như lửa dài hơn một sải lao mình xuống sân toan chạy trốn. Mã Vinh nhìn thấy đang tính đến bắt thì Kiều Thái vớ được thanh sắt chọc lò nhằm đầu rắn quật một nhát. Con rắn không bò được nữa, Kiều Thái cho một nhát nữa, đánh chết luôn. Mọi người sợ trên mái vẫn còn rắn nhỏ, thế là ùa cả vào, dỡ tan dẫy phòng xép.
Địch công sai người đem con rắn tới trước sảnh. Lúc này cả nhà đều biết tin, sang mời bà Lý đến. Địch công ngồi xuống, bảo Hoa Quốc Tường:
– Trong vụ án này, khi bản huyện lần đầu tới khám nghiệm đã biết con dâu ông không phải do người giết hại. Hồ Tác Tân là thư sinh nho nhã, không khi nào dám làm càn trái lễ. Khi vào phòng cô dâu lại ngửi thấy mùi tanh, lúc bấy giờ bản huyện đã rất nghi hoặc. Tới lúc khám nghiệm xác, có người nói bụng xác chết động đậy, bản huyện nghĩ thuốc độc hại người chẳng qua mấy thứ phê sương, thạch tín, uống phải thì tai, mắt, mũi, mồm ứa máu mà thôi, làm sao lại có mùi tanh xộc lên? Vì vậy không dám xử vội, mấy ngày qua nghĩ tới nghĩ lui. Khi lấy khẩu cung của Cao thị, bà ta khai trà do chính tay bà pha. Sau khi pha trà, Hồ Tác Tân không hề vào phòng; ngoài lúc đi ăn cơm tối ra, Cao thị không hề rời, cũng không có ai khác vào phòng, vậy lẽ nào cô dâu tự đánh thuốc độc hại mình? Hôm nay nghe lời khai của Thái Cô mới rõ khi đi lấy nước hôm ấy, Cao thị đưa lò ra thềm đun, khói xông lên mái hiên, nhớt dãi rắn rỏ xuống ấm đun nước. Lúc ấy Cao thị không nhìn thấy nên dùng nước sôi ấy pha trà. Còn lại nửa ấm, may mà do vấp chân đánh đổ xuống thềm cho nên không hại tới ai khác. Nguyên nhân tai họa vẫn là do Cao thị bất cẩn, khiến cho con dâu ông uống nhầm thiệt mệnh. Lẽ ra phải trị tội Cao thị nhưng xảy ra việc là do vô tâm, già cả đáng thương nên chỉ đáng phạt nhẹ. Con dâu ông vô cớ bị chết cũng là mệnh trời xui khiến, vậy ông nên mời mấy vị cao tăng tụng kinh sám hối, siêu độ vong hồn. Hồ Tác Tân không gây án mà bị dính líu khổ sở, lẽ ra nên tha về, song tính hay đùa bỡn, không phải phẩm hạnh của kẻ sĩ, phải được răn đe nơi nhà học, cảnh cáo cho lần sau.
Nói xong, Địch công quay qua bảo bà Lý:
– Nguyên do cái chết của con gái bà nay đã được làm sáng tỏ. Bản huyện xét xử như thế, bà có chịu phục không?
Lý thị khóc, thưa rằng:
– Thì ra do ngộ độc mà chết. Chỉ thương cho con gái tôi số khổ mà thôi. Quan lớn xử như thế là công bằng rồi, tôi còn biết nói gì nữa.
Địch công thấy bà Lý đã bằng lòng liền lập tức cho kết thúc vụ án.


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 7.605
  • 142
  • 11.913
  • 134
  • 7.749.860
  • 891.724