Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Hai Lần Phán Quyết Con Giả Thành Con Thật – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 18

Hai Lần Phán Quyết, Con Giả Thành Con Thật
Ba Lần Nung Tượng, Vàng Thật Hóa Vàng Hư


Ở trong vô tướng tướng bỗng sinh,
Đúng đúng sai sai vẫn tranh giành.
Cuối cùng hữu tướng về vô tướng,
Trách kẻ tham lam vẫn mải mê.
Trên đây là bốn câu kệ do Tinh Thiền sư làm, ông khuyên người đời không nên bộc lộ mình. Những người bộc lộ mình, phần lớn đều bộc lộ ở ba khía cạnh: tham lam, giận dữ, ngu ngốc (tham, sân, si). Tham của cải của người khác là tham, tham phúc của trời là tham. Tham không được thì sinh giận dữ. Giận người là ngu, giận trời càng ngu. Rốt cục cái đã định thì không thể cưỡng lại, mà cái không định thì lại không giữ được. Biết mọi sự đã được định đoạt thì không nên tham. Biết nó không phải của mình thì lại càng không nên tham.
Thời Chu Thế Tông cuối Ngũ Đại, ở Quy Đức, Hà Nam, có một người tên là Kỷ Diễn Tộ. Gia đình vào loại thường thường bậc trung, đã gần bốn mươi tuổi mà chưa có con nối dõi. Vợ là Cường thị, tính lại hay ghen tuông, không cho chồng lấy vợ lẽ. Trong nhà chỉ có một đứa ở tên là Nghi Nam mười sáu tuổi rất xinh đẹp. Sợ chồng gian díu với cô ta, Cường thị không cho cô chải đầu, bó chân và luôn quản chặt Kỷ Diễn Tộ, không lúc nào buông lơi. Kỷ Diễn Tộ có một đứa cháu trai Kỷ Vọng Hồng, là con người anh đã qua đời tên là Kỷ Diễn Tự. Từ nhỏ Kỷ Vọng Hồng đã được cha mẹ cưng chiều, lớn lên chẳng biết làm gì suốt ngày cờ bạc, và đã trở thành một đứa hết sức vô lại. Cha mẹ chết sớm, Kỷ Diễn Tộ không sao dạy bảo được Kỷ Vọng Hồng. Vợ Kỷ Vọng Hồng là Trần thị cũng là đứa thích ăn diện, bị chồng đuổi đi, may được bố chồng Trần Nhận Phủ nhận về nuôi. Kỷ Diễn Tộ thấy cháu hư hỏng, nên không muốn nhận làm con thừa tự. Nào ngờ Vọng Hồng thấy chú không con, nhòm ngó gia tài của chú, cho rằng chú không quan tâm đến mình, cứ nài nĩ xin xỏ. Khi Diễn Tộ giúp cho ít đồ đạc, cầm chưa nóng tay Vọng Hồng đã bán sạch. Vọng Hồng như thế thì làm sao Kỷ Diễn Tộ thỏa mãn được lòng tham vô đáy của hắn. Bởi thế Cường thị nói với chồng:
– Chỉ vì ông không có con nên mới phải chịu nó hành hạ. Trước đây ta muốn tới chùa Đại Tướng Quốc cúng cầu tự, song vẫn không được, nay tôi muốn ông cùng tôi đi cầu tự, ông thấy thế nào?
Kỷ Diễn Tộ nói:
– Đàn bà không nên đi cầu tự, hơn nữa đường xá xa xôi, rất bất tiện. Nếu bà muốn cầu con thừa tự, thì sớm chiều dâng lễ cúng Phật tại nhà là được rồi!

Thấy chồng nói thế, Cường thị bảo chồng làm một pho tượng Phật không phải bằng gỗ mà phải đúc bằng đồng, pha thêm vàng để thờ cúng. Theo lời vợ, Diễn Tộ mời một người thợ giỏi là Dung Tam đến nhà đúc một pho tượng Phật bằng đồng nặng mười cân và hai lạng vàng. Pho tượng đúc xong sáng choé trông như vàng ròng. Cường thị đặt pho tượng trong gian phòng rất thanh tịnh, suốt ngày lễ bái, cầu con thừa tự.
Cầu cúng gần một năm trời mà chẳng thấy Cường thị có mang, Diễn Tộ ngấm ngầm để ý đến Nghi Nam. Tuy cô không chải đầu, không bó chân, anh đâu có cần đến phần đầu, chỉ cần phần đuôi thôi, và chỉ cần cái chân ngồi, chứ không cần cái chân đi của cô. Người ta thường nói: “Mất trộm rồi mới rào giậu”. Dù cho vợ quản chặt, nhưng đến đêm Cường thị ngủ say, Diễn Tộ mới lén lút gian díu với Nghi Nam. Đúng là:
Mặc cho sư tử Hà Đông rống
Nào có ai ngờ mất chim loan.

Gã xưa nay vẫn sợ vợ, đêm đến lén lút vụng trộm với đứa ở. Quá trình lén lút ấy đều có biệt hiệu riêng. Trước hết gối đầu lên gối theo dõi hơi thở của vợ, gọi là “cáo nghe nước đóng băng”; đến khi vợ ngủ say, len lén chui ra khỏi chăn, gọi là “ve sầu lột xác”; trong đêm tối ngồi trên giường dùng chân quơ dép gọi là “rửa chân ở sông Thương Lang”; đi trong đêm sợ chạm vào đồ vật nên hai tay phải đặt trước bụng, gọi là “Bá Nha ôm đàn”; đến chỗ ngủ của con ở, xoa xoa, nắn nắn, cả hai đều không dám nói, gọi là “người câm đánh nhau”; sợ vợ tỉnh dậy biết được, vội vàng làm cho nhanh chóng, gọi là “chuồn chuồn đạp nước”; về tới giường vợ, lại rón rén chui vào chăn như cũ, gọi là “rắn vàng về lỗ”.
Kỷ Diễn Tộ vụng trộm với Nghi Nam, nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không được tự do thoải mái, đang lúc muốn cùng với cô ta vụng thầm cho thật đã, thì rất may, buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Cường thị vốn ăn chay niệm Phật, nên có một ni cô thường hay lui tới. Ni cô người họ Tất, pháp danh là Ngũ Không. Am của ni cô gần chùa Long Hưng, Thành Nam, bởi thế cô thân quen với một vị hòa thượng trong chùa: Chùa Long Hưng có hai sư trụ trì , đó là Tĩnh Tu và Huệ Phổ. Tĩnh Tu hiểu kinh Phật rất sâu sắc, không thích ồn ào, thường đóng cửa ngồi tĩnh tọa. Huệ Phổ thì chỉ nắm được cái tổng quát, giảng kinh thuyết pháp. Việc tiếp đãi thiện nam, tín nữ hoàn toàn dựa vào Ngũ Không. Ngũ Không thường tới các nhà giàu có, giáo hóa nữ giới quy Phật. Bởi thế, Ngũ Không cũng khuyên Cường thị nên đi nghe giảng kinh. Ngày mười chín tháng hai là ngày sinh nhật Quan âm Đại Sĩ, chùa lại càng đông vui. Cường thị muốn đi, Diễn Tộ không muốn vợ đi, song ông ta lúc nào cũng tơ tưởng tới Nghi Nam, nên nghĩ nếu Cường thị đi vắng thì việc dan díu sẽ không bị ngăn trở. Trước hôm Cường thị đi chùa, ông ta bảo Nghi Nam vờ đau bụng nằm rên. Hôm sau, Cường thị thấy Nghi Nam ốm, không thể đi cùng, đành cho hai vợ chồng người giúp việc là Hỷ Tường đi theo, để Hưng Nhi một đứa ở mười hai tuổi và Nghi Nam ở lại trông nhà. Lúc đầu Diễn Tộ cùng đến chùa với vợ, song khi vào chùa thì nam ngồi bên đông, nữ ngồi bên tây, sau khi Huệ Phổ an tọa giảng kinh, thì nhân lúc đông người, Diễn Tộ lẻn về, thả sức ong bướm với Nghi Nam. Chỉ thấy:
Vợ vào chùa xem Phật đường thanh tịnh
Chồng về nhà hưởng cực lạc Niết Bàn
Người thì thành tì kheo cúng Thế Tôn quỳ rạp đất
Kẻ lại hóa thành tiên, khiến gái hầu chổng vó lên trời

Trước đây đêm tối vội vàng hành sự chỉ chớp mắt là mây tạnh trời quang
Nay giữa ban ngày ban mặt ung dung tường tận chẳng khác gì rung cành lá rụng tả tơi
Trước đây thường trách Thủy Mẫu Quy sơn độc ác không chút buông tay.
Nay lại gặp sư tử Hà Đông lễ Phật, mới có dịp may
Dựa vào sức mạnh Quan âm bắt đi La Sát Dạ Xoa
Nhờ vào sức sống của Thiền dựng nên Cao Đường Vu Giáp
Trước đây vợ tại phòng the chiêu chửi, chẳng khác nào đọc kinh cầu nguyện cho chồng
Nay mụ ác vào chùa nghe kinh Phật, chẳng khác gì niệm chú cho đứa hầu hòa hợp
Hoàn toàn nhờ Phật mở đường phương tiện
Quả là Bồ Tát rộng lượng từ bi

Diễn Tộ hành sự xong, gọi thằng nhỏ Hưng Nhi dặn rằng:
– Khi bà về không được nói là tao về nhà nhé.
Nói rồi, Diễn Tộ đến ngay chùa, đúng lúc đón kiệu Cường thị cùng về. Cường thị không biết được trò ma mãnh của chồng, cũng chẳng biết được, lần này Nghi Nam đã mang thai. Hơn một tháng, thấy Nghi Nam lông mày dựng ngược, mắt đờ đẫn mệt mỏi, Cường thị sinh nghi, bèn gọi ra tra khảo, Nghi Nam đành phải nói thực. Cường thị vô cùng tức giận, rầy la chồng. Diễn Tộ vì sợ vợ, nên lúc đầu không nhận, sau bị truy bức đành phải khai ra. Cường thị xô bàn đạp ghế gào khóc, chửi bới, rồi bảo Nghi Nam đi. Đúng là:
Đàn bà thường đánh ghen,
Đánh ghen phản tu hành.
Mình không từ bi được,
Cúng phật cũng bằng không.

Đến hai tháng ròng, ngày nào Cường thị cũng nhiếc móc Nghi Nam. Một hôm Cường thị vào gian thờ Phật, hướng về pho tượng đồng giận dữ nói:
– Phật cũng chẳng thiêng. Ta suốt ngày cầu mong ngươi, nhưng ngươi lại phù hộ cho con đĩ ấy có thai, thật là ta uổng công hương khói bấy lâu nay.
Cường thị cứ vừa lễ vừa oán trách phật.
Mà cũng lạ thật, hôm trước Cường thị nói thế, thì hôm sau pho tượng đồng trên bệ thờ biến mất. Cường thị giật mình, ngờ rằng pho tượng bị đánh cắp. Trong nhà chỉ có bốn người: vợ chồng Hy Tường, Hưng Nhi và Nghi Nam, song Cường thị cứ đổ hết cho Nghi Nam lấy cắp. Nghi Nam không chịu nhận. Cường thị định đánh Nghi Nam tra khảo, thì có người tới báo, pho tượng ấy hiện đang ở đâu. Người báo tin lại là người nhà của phú hộ Tất Viên Ngoại ở trong thành này. Thế thì kẻ nào đã lấy cắp pho tượng? Đó chính là Hỷ Tường, anh ta đã nghe thấy bà chủ oán trách tượng, nhân đêm tối đã lẻn vào lấy cắp pho tượng, sáng sớm hôm sau đem bán cho nhà Tất Viên Ngoại lấy mười lạng bạc. Tất Viên Ngoại là Tất Tư Phục, một người hết sức tham lam, ni cô Ngũ Không là em họ ông ta, và ông ta thường nghe thấy Ngũ Không nói: “Nhà họ Kỷ có một pho tượng đồng đúc lẫn vàng vô cùng tinh xảo”. Nay Hỷ Tường ăn trộm mang đến bán, ông ta mua với giá rất hời. Cát Phúc biết Hỷ Tường lấy trộm bán, đòi chia hai lạng. Hỷ Tường không cho. Cát Phúc tức giận đến báo cho nhà họ Kỷ. Nhưng khi Kỷ Diễn Tộ hỏi kẻ nào lấy trộm thì Cát Phúc không chịu nói. Diễn Tộ mười phần thì chín phần ngờ cho Hỷ Tường, song chỉ vì Hỷ Tường là người theo về hầu hạ vợ mình khi cưới, vợ coi là người tâm phúc, nên luôn bao che cho anh ta, Diễn Tộ không dám truy hỏi, chỉ thưởng cho Cát Phúc năm đồng. Sau đó sai Hỷ tường mang mười lạng bạc đến chuộc. Cát Phúc lại bàn kín với Hỷ Tường rằng:
– Tôi không khai rõ người lấy với chủ anh, thì anh cũng đừng lộ việc này với chủ tôi.

Hỷ Tường bằng lòng. Thấy Diễn Tộ thúc dục gấp, Hỷ Tường phải mang bạc tới chuộc. Vì mua được pho tượng đồng quá rẻ, nên Tất Tư Phục không cho chuộc, bèn nghĩ ra một kế, nói rằng bạc kém phẩm chất, phải đưa thêm. Tất Tư Phục lại bàn kín với Cát Phúc, ngay đêm ấy gọi Dung Tam, thợ đúc tượng Phật tới nhà, bảo đúc một pho tượng hoàn toàn bằng đồng, cũng giống như pho tượng có lẫn vàng, rồi sẽ trọng thưởng. Khi nhà họ Kỷ đưa bạc tới chuộc, lại bị thoái thác rằng Viên Ngoại không có nhà. Trì hoãn liền trong mấy ngày, tới khi Dung Tam đúc xong tượng giả rồi mới cho chuộc, còn pho tượng thật để mình thờ phụng. Quả là:
Tham vàng lén lút kế gian manh
Thờ Phật toàn là kẻ bất lương.

Mang tượng về, Diễn Tộ hoàn toàn không biết đó là tượng giả vẫn đặt tại gian thờ Phật như cũ.
Cường thị thấy Phật đã chuộc về không thể đổ cho Nghi Nam lấy cắp tượng được nữa, song không thể tha Nghi Nam, suốt ngày đánh chửi, rầy la. Diễn Tộ thấy Nghi Nam khó mà dung thân, bèn bàn kín với Hỷ Tường, bí mật tìm một người tới xin, rồi mang đi một nơi xa nuôi dưỡng. Nào ngờ thằng hầu Hỷ Tường lại ton hót hết với chủ. Cường thị nổi giận, hỏi Hỷ Tường:
– Lão vô liêm sỉ làm như thế thì ta nên đối phó thế nào?
– Bà chủ cứ bán đứa con hầu này đi, – Hỷ Tường hiến kế nói, – đừng bán cho nhà nghèo, ông sẽ chuộc lại, mà phải bán cho nhà giàu không chuộc được, lúc đó mới chặn đứng ý muốn của ông chủ.

Cường thị nghe theo, bèn bảo bà mối tìm khách bán. Mấy hôm sau, ni cô Ngũ Không biết tin có ý đến dẫn mối, nói là mua về làm thiếp cho cháu mình là Tất Tư Phục. Tất Tư Phục đã luống tuổi mà vẫn chưa có con, vợ là Đan thị rất hiền thục, thấy chồng không có con, muốn cưới thêm cho ông một người vợ lẽ vì thế Ngũ Không đến nói vun vào. Cường thị chỉ mong Nghi Nam đi cho khuất mắt, nên chẳng kể chi đến đắt rẻ, chỉ sợ chồng lén lút chuộc về. Ngũ Không nói:
– Điều đó không lo, cháu tôi là con nuôi của Thái úy Hô Diên Ngưỡng cũng ở thành này, chỉ cần nói với chồng bà là phủ Hô Diên lấy đi là được rồi.

Cường thị còn đang do dự, Ngũ Không biết được Cường thị thường nghe theo Hỷ Tường, bèn ngấm ngầm hứa cho Hỷ Tường hai lạng. Hỷ Tường tìm cách vun vào. Cường thị liền nghe theo. Diễn Tộ về làng thu hoạch lúa mạch, nhân lúc chồng vắng nhà, Cường thị bèn nhận mười sáu lạng bạc nhà họ Tất và ngay hôm ấy Tất Tư Phục cho người mang kiệu đưa Nghi Nam về. Hỷ Tưởng sợ Nghi Nam không chịu đi, lừa cô rằng:
– Ông chủ sợ bà không tha cô, nên đã nhờ sư phụ Ngũ Không đến nói vun vào, xin cho cô đi lấy một người chủ khác.
Nghi Nam tin là thật, để họ dắt lên kiệu đưa tới nhà họ Tất. Về nhà, Diễn Tộ không thấy Nghi Nam, hỏi Hỷ Tường, anh ta chỉ nói là phủ Hô Diên bắt đi rồi. Diễn Tộ rất đỗi đau buồn, song lại sợ vợ không dám nói, đành ngửa mặt lên trời mà than thở. Đúng là:
Của quan hun hút sâu như biển
Từ đó chàng Tiêu khách qua đường.

Nghi Nam đến nhà họ Tất, biết chủ đã bán mình, gào lên khóc lóc thảm thiết, muốn chết đi cho rảnh, song lại thương cái thai trong bụng mình. Đang lúc chưa biết nên thế nào, thì ngờ đâu Cát Phúc biết Nghi Nam đã có thai, nói với chủ rằng:
– Ông chủ bị sư Ngũ Không đánh lừa rồi?
Tư Phục cho gọi ngay Ngũ Không tới hỏi chuyện này.
– Làm gì có chuyện ấy, – Ngũ Không nói, – ai nói thế.
– Cát Phúc nói. – Tư Phục nói.
– Nó không được lót tay, – Ngũ Không nói, – cho nên nó gièm pha, cháu đừng nghe nó.
Tư Phục bán tín bán nghi, nói chuyện này với vợ, bảo vợ truy hỏi Nghi Nam. Lúc ấy Nghi Nam đang thút thít khóc, không muốn ở nhà họ Tất nên đã nói thực với Đan thị:
– Tôi đã có thai từ tháng hai, giữa tháng năm này là tròn ba tháng. Tuy bà chủ mua tôi về, song tấm thân này quyết không chịu nhục, cúi xin bà rộng lòng thương trả tôi về chủ cũ.
Đan thị nói chuyện ấy với chồng, Tư Phục nói:
– Đúng là ta đã bị cô Ngũ Không lừa rồi, nay nếu trả về chủ cũ thì phải đòi trả lại nguyên giá.
– Vợ cả ông ta không dung tha, – Đan thị nói, – nếu nay ta trả về thì tốt nhất là bán cho người khác. Hay là ta làm phúc để cô lại.
– Nếu giữ lại, – Tư Phục nói, – thì phải mua thuốc trụy thai cho cô ấy uống. Có như thế thì mới thụ thai được.
– Không được. Đan thị trầm ngâm nói. – Một là để cô trụy thai thì phải tội, hơn nữa anh lại đang cầu mong con trai, sao lại đi làm trụy thai người khác. Hai là, thuốc trụy thai rất nguy hiểm, tôi nghe người ta nói, thai đã hai tháng rất khó ra, phải dùng thuốc mạnh, nếu chết người không phải chuyện đùa. Ba là dù cho có trụy thai, chẳng may uống phải lãnh dược thì lần sau khó thụ thai, có phải lỡ việc của mình không. Thôi thì cứ chờ cô ấy đẻ, lúc ấy quen dạ, thụ thai càng dễ. Tính đi tính lại mình đang khát con trai, nay cô ta đã về nhà mình, còn sáu bảy tháng nữa thì đẻ. Dù đẻ con trai hay con gái ta cũng cho đi, nhưng mười tháng nữa mới đẻ, thì coi như hạt máu của nhà ta, giữ lại để làm người thừa kế khói hương sao lại không được.
– Bà nói đúng. – Tư Phục nghe xong gật đầu nói.
Thế rồi họ đổi tên cho Nghi Nam thành Tử Thư, bảo cô vào phòng nghỉ ngơi. Đêm đến, Nghi Nam sợ Tư Phục sán lấy cô bèn dùng giải áo buộc chặt lấy chỗ ấy, và để quần áo ngủ. Đến tối Tư Phục ngủ ở giường vợ, bỗng thấy đau bụng, dậy đi ngoài mấy lần. Khi trời sáng, mệt mỏi rã rời không dậy được, bèn mời thầy về khám bệnh. Thầy thuốc nói:
– Không những bụng đau mà còn mắc chứng phong hàn, phải chăm sóc cẩn thận.
Đan thị nghi chồng đêm đã dậy ăn nằm với Nghi Nam, hoặc là mắc chứng phạm phòng. Nào có biết, Tư Phục hoàn toàn không hề động chạm tới cô, chỉ vì đi tả gặp gió lạnh nên đã mắc liền một lúc hai bệnh. Nằm tụy tới hai ba tháng trời mới thấy đỡ, song vẫn chưa khỏi hoàn toàn. Bởi thế Nghi Nam không bị ô nhục, ngày ngày cô tới Phật đường lễ Phật, cầu mong cho đứa con trong bụng, nếu mười ba tháng mới ra đời thì có thể giữ được giọt máu cho người chủ cũ. Đó cũng là tấm lòng không quên chủ cũ của cô. Có một bài thơ làm chứng như sau:
Gái hầu nuốt lệ đến cửa người,
Chỉ nhớ tình xưa chẳng đoái nay.
Đâu phải bèo trôi không có rễ.
Giống xưa giữ lại đó mà thôi.

Đan thị thấy Nghi Nam ngày nào cũng lễ Phật, bèn chỉ tượng Phật nói với cô:
– Pho tượng đồng này vốn là pho tượng nhà chủ cũ của cô.
– Tôi cũng đang nghi, pho tượng Phật giống pho tượng của chủ tôi. – Nghi Nam nói, – thế mà đúng thật. Người ta lấy trộm tới đây bán, chủ tôi đã chuộc về, nhưng sao nay vẫn còn ở đây
Đan thị kể lại hết. Nghi Nam than vãn:
– Tôi cứ tưởng chủ tôi đã chuộc được tượng rồi, nhung ngờ đâu không chuộc được. Phật và tôi đều giống nhau, chỉ đến mà không về.
Thế rồi cô nói với Đan thị là Cát Phúc đã báo tin đòi tiền thưởng. Lập tức, Đan thị gọi Cát Phúc tới mắng:
– Mày là đồ chó má, nhà mua tượng đồng, sao mày lại đến báo cho nhà họ Kỷ. Không những mày đi báo mà còn lừa nhà họ Kỷ lấy tiền thưởng, xúi bẩy chủ đổi tượng giả lấy tượng thật. Nếu ta nói việc này với ông chủ thì mày nhừ đòn. Hiện ông ấy đang ốm, sợ ông nổi khùng nên ta tạm tha cho mày.
Cát Phúc bị Đan thị mắng chỉ biết cúi đầu, chẳng dám nói năng gì. Hắn nghĩ: “Đã bảo ta làm việc xấu thì dứt khoát ta sẽ có cách khác”. Thế rồi hắn đến bàn với Dung Tam thợ đúc đồng, bảo ông ta đúc một pho tượng đồng đúng như thế, sau đó đổi lấy pho tượng có lẫn vàng đem nấu chảy, tách vàng ra dùng. Dung Tam nghe theo, ngay đêm ấy đúc một pho tượng khác. Dung Tam đã đúc pho tượng Phật này hai lần nên rất thành thục, không cần phải xem mẫu, đúc mò một pho tượng mới giống hệt như hai pho trước. Cát Phúc rất khoái, bèn lén lút mang về đổi lấy pho tượng thật, đưa đến nhà Dung Tam, mong nấu chảy tách lấy vàng. Lạ thay, pho tượng cho vào lửa nấu một ngày mà vẫn không sao chảy được. Hai người không biết làm cách nào, bàn nhau hồi lâu, rồi đem pho tượng đến phủ Hô Diên cầm lấy mười lạng bạc chia nhau. Đúng là:
Trộm lại gặp trộm.
Gian lại gặp gian.
Trên làm thế nào,
Dưới làm thế vậy.

Đan thị và Nghi Nam hoàn toàn không biết tượng Phật đã bị đánh tráo, chỉ chú tâm vào thắp hương lễ bái. Nghi Nam cầu Phật được mẹ tròn con vuông. Đan thị cầu mong chồng khỏi bệnh.
Ngờ đâu bệnh tình Tư Phục vừa thuyên giảm, thì lại gặp phải hai việc rắc rối, bệnh càng nặng thêm. Vốn là trước đây, Tư Phục là con người cầu lợi. Ông ta có hai bộ quần áo, hai bộ mặt, thấy người thân thích nghèo túng thì mặc áo cũ, mặt mày nhăn nhó kêu nghèo; thấy khách giàu sang, thay áo đẹp, xum xoe nịnh nọt, săn đón bợ đỡ. Ông ta có một người em họ tên là Tất Tư Hằng, là con ông chú Tất Tư Vũ, tính vốn an phận thủ thường, mở cửa hàng thuốc buôn bán kiểu cò con. Tư Phục không hề cho em mượn một xu nào. Ông của Kỷ Vọng Hồng là Trần Nhân Phủ, là cậu của mẹ Tư Phục. Nhà nghèo không có con trai, chỉ có một người con gái chưa chồng, sống ở nhà, Tư Phục cũng không hề quan tâm đến ông, chỉ xu phụ Hô Diên Ngưỡng, một viên quan hiển đạt ở thành này. Hô Diên Ngưỡng làm tới chức Thái úy, được nghỉ tại nhà. Tư Phục đến tận nhà nhận làm con nuôi, biếu quà rất hậu. Trước cửa nhà Tư Phục đều dán thiếp báo hỉ của Hô Diên Phủ. Trước đây ba năm, tú tài Tất Đông Ly từng quen biết Tất Tư Hằng, viết một tờ thiếp nói là em họ, muốn đến nhà Tư Phục thăm viếng. Tư Phục cho là tú tài kiết xác, không muốn anh ta đến quấy rầy, nên đã trả lại thiếp. Tất Đông Ly rất bực. Không ngờ năm ấy Tất Đông Ly thi đỗ tiến sĩ, về nhà chờ bổ nhiệm. Đúng dịp Hô Diên Ngưỡng bị người ta dâng sớ vạch tội, vì đã lén lút đúc tiền đồng. Theo lệnh quan địa phương nơi ấy phải kiểm tra báo lên cấp trên. Tư Phục sợ liên lụy, vội vàng xé những tờ danh thiếp của Hô Diên Phủ dán tại nhà mình. Nhờ Tất Tư Hằng lén lút đến bái kiến Tất Đông Ly, muốn nhận là anh họ, cầu mong ông che chở. Tất Đông Ly nghĩ đến việc trước đây, khăng khăng chối từ. Tư Phục phải bỏ ra hai trăm lạng mới mua được tờ báo hỉ tiến sĩ mới, đem dán tại cửa nhà mình. Không lâu sau, việc Hô Diên Ngưỡng đúc tiền đồng, được bao che nên không việc gì. Song Tất Đông Ly lại bị vạch tội là quan giám khảo vì tình riêng đã cho Tất Đông Ly đỗ. Theo lệnh Bộ ấy phải kiểm tra lại. Đông Ly muốn tới Bộ đút lót, thiếu một trăm lạng, bèn sai người đến Tư Phục mượn. Tư Phục không hề cho mượn một xu, còn mắng rằng:
– Trước đây, ta đã đưa hai trăm lạng, nay ta sẽ trừ cho một trăm lạng, còn lại một trăm lạng trả lại ta.

Đông Ly tức giận tuyệt giao với Tư Phục. Sau kiểm tra, Đông Ly vô sự, vẫn là tiến sĩ. Biện Phương Dận, quan Thiêm phán mới đến nhậm chức tại phủ này lại là bạn học của Đông Ly. Vì Tư Phục sai Cát Phúc đi đòi nợ đã bức tử một bệnh nhân, bị người nhà kiện lên Thiêm phán đài. Bệnh vừa thuyên giảm, sợ người thân của người đã chết đến làm rày rà, Tư Phục phải trốn tạm sang nhà Tất Tư Hằng, và nhờ Tất Tư Hằng nói với Đông Ly, mong ông đến nói với Biện Phương Dận. Đông Ly nhớ tới mối hận trước, đòi phải đưa năm trăm lạng thì mới xong việc.
Tư Phục bị một vố đau, buồn bã ra về. Đang lúc buồn rầu, thì ni cô Ngũ Không đến đòi bạc. Vốn là trước đây Ngũ Không đưa cho Tư Phục một trăm lạng quay vòng kiếm lời, nay thấy Tư Phục bị kiện, sợ Tư Phục tiêu đi không có tiền trả, nên cố ý đến đòi. Tư Phục lo lắng nói:
– Cô thấy tôi không trả được nên mới vội vã đòi có phải không? Đi tu thì cần gì đến tiền, hơn nữa cháu lại không giữ được tiền của cô ư?
Ngũ Không thấy vậy làm ầm lên:
– Sao ngươi lại trở mặt như thế? Tiền của cô ngươi không quịt được, tiền của người tu hành không thể quịt được.

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1 – Trang 24

Chương 18 (B)

Thấy Ngũ Không làm toáng lên, Đan thị phải khuyên can mãi. Ngũ Không thầm nghĩ: “Trước đây sợ mất nên ta đã không cho đứa cháu nghèo là Tư Hằng vay, đem cho cháu giàu là Tư Phục vay, thì ai ngờ bây giờ Tư Phục lại trở mặt, thế chẳng hóa ra Tư Hằng sẽ cười cho ư?”, và vô cùng tức giận. Vì hay đi lại Hô Diên phủ nên Ngũ Không nói với vợ lẽ của Thái úy, nhờ người trong Hô Diên phủ tới đòi. Đúng lúc ấy, Tư Phục lại mắc phải một tội khác, rơi vào tay Thái úy Hô Diên. Lúc ấy vào cuối thu đầu đông, Tư Phục tới trang trại dưỡng bệnh thu tô một tá điền bướng bỉnh là Đào Lương còn nợ tô chưa trả. Tư Phục đã cùm anh ta tại trang trại. Ngờ đâu vợ của Đào Lương thông đồng với Cát Phúc, ngấm ngầm mở khóa thả Đào Lương, rồi bảo vợ anh ta tới trang trại tìm chồng, sau đó Cát Phúc lại mách cho chị ta làm đơn tố cáo với Thái úy Hô Diên. Trước đây Hô Diên rất phẫn nộ vì Tư Phục bỏ không nhận cha nuôi, nay nhân việc này Hô Diên đòi phải đưa năm trăm lạng mới ngơ đi cho. Tư Phục bèn bán một số tài sản, gom đủ năm trăm lạng bạc đút lót cho Hô Diên. Song bị Thái úy trừ đi một trăm lạng trả cho Ngũ Không, thành thử số tiền ấy chỉ còn bốn trăm lạng. Không còn cách nào, Tư Phục buộc phải bán nhà cửa nộp thêm cho Thái úy. Uất quá Tư Phục ngất đi, phải dìu ngay về nhà, trượt ngã, trúng phong, bị bại liệt, nằm một chỗ không dậy được. Đáng thương thay một ông chủ giàu có, bỗng chốc bệnh tật nghèo túng. Trước đây khi gặp người thân thích cứ kêu là nghèo túng, thì bây giờ lại nghèo túng thật. Bởi thế có thơ rằng:
Người nghèo kêu nghèo mong được nhờ.
Người giàu kêu nghèo để khước từ.
Một bên là thật một bên giả.
Ai ngờ giả dối lại đúng thay.

Tư Phục đau ốm tới bốn năm tháng, không ngờ mùa xuân năm sau Nghi Nam đẻ con trai. Thụ thai từ tháng hai năm trước đến giữa tháng ba năm nay sinh ra, tính ra là mười hai tháng mới đẻ. Đan thị không biết nội tình thế nào, chỉ biết rằng cô ấy về vào tháng năm năm ngoái, đến nay tròn mười hai tháng mới đẻ, nên rất vui mừng, nói với chồng rằng:
– Không còn nghi ngờ gì nữa, nó đúng là con nhà mình.
Tư Phục vẫn nằm liệt trên giường, lắc đầu nói:
– Nó không phải là con ta. Từ đêm cô ấy về tới nay ta mắc bệnh, chưa từng gần cô ấy lần nào. Đứa con này chẳng có liên can gì đến ta.
– Ông đang ốm rề rề ra đấy, – Đan thị khe khẽ nói, – trước mắt khó mà nuôi được con nuôi. Ông xem hoàng đế nhà Chu ngày nay là người họ Sài, còn nhận cơ nghiệp của họ Quách, huống hồ mình là người thứ dân, đã trót thì cho trét, chẳng ngại gì.
– Hãy bàn lại xem. – Tư Phục trầm ngâm nói.
Hơn một tháng sau trong nhà không còn tiền tiêu, đành phải nấu chảy pho tượng đồng, mong tách vàng ra để chi dùng. Nào ngờ khi nấu lên chỉ có đồng chẳng thấy vàng đâu. Tư Phục kinh ngạc, gọi Nghi Nam tới hỏi. Nghi Nam nói:
– Chính mắt tôi thấy chủ cũ bỏ vào đó mấy lạng vàng, tại sao lại không còn?
Tư Phục chỉ nghĩ rằng dạo ấy đã đổi nhầm, lại gọi Cát Phúc đến truy hỏi. Cát Phúc nói:
– Hoàn toàn không đổi sai.
Đan thị cứ nghĩ lung tung, nói với chồng rằng:
– Đúng là thần Phật linh thiêng, không cho phép chúng ta đổi pho tượng thật nên thần Phật đã về nhà họ Kỷ.
Thấy thế Tư Phục kinh ngạc nghi ngờ, và càng hoang mang. Bỗng nhiên nghe thấy tin Hô Diên Ngưỡng bị người ta cáo giác từng liên hệ với nước Liêu, bị bắt giải về kinh đô, khép vào trọng tội, gia sản bị tịch thu. Vì Tư Phục từng làm con nuôi ông ta, sợ bị vạ lây, nên bệnh ngày càng trầm trọng. Tính mệnh như ngàn cân treo sợi tóc, bởi thế Tư Phục cho người mời cậu của mẹ là Trần Nhân Phủ, và em họ Tất Tư Hằng dặn dò việc ma chay. Rồi chỉ vào Nghi Nam nói rằng:
– Cô này về nhà, tôi chưa từng gần cô, nay con cô đẻ ra hoàn toàn không phải là con tôi. Trước đây tôi nhận cha giả, anh giả rốt cục chẳng được lợi lộc gì. Nay giữ lại đứa con giả này làm gì! Sau khi tôi chết có thể gọi nhà họ Kỷ tới đem mẹ con cô ta về. Tôi chỉ còn mấy chục mẫu ruộng bạc màu, nghĩ rằng vợ tôi đàn bà con gái không đảm đương nổi việc thuế má. Tôi chết đi, nhờ cậu đứng dựng cho, rồi tìm một người nào tốt để bà ấy tái giá. Những bạc điền và nhà cửa ở đó đều giao cho chú Tư Hằng quản lí. Trước đây tôi không quan tâm đến chú, xin vì tình anh em, lo thuế mà giúp tôi, có thế tôi chết mới nhắm mắt được.
Nói xong Tư Phục đột nhiên trút hơi thở cuối cùng. Đúng là:
Người sắp lìa đời nói lời thiện.
Chim muông sắp chết ai oán kêu.

Đan thị khóc thương vật vã, chết đi sống lại. Nhân Phủ và Tư Hằng lựa lời khuyên nhủ. Đan thị nuốt nước mắt nói:
– Ông ấy dặn cho mẹ con Nghi Nam về nhà họ Kỷ thì được, còn như bảo tôi tái giá là nói bừa. Tôi thà chết cũng không nghe theo.
– Nếu chị có chí thủ tiết, – Tư Hằng nói, – thì đây là việc rất vinh hạnh. Tất cả những việc trong nhà, em sẽ lo thay chị.

Hôm ấy Đan thị giao hết giấy tờ sổ sách cho Tư Hằng. Lại đem những đồ trang sức của mình cho Tư Hằng bán đi để lo cuộc sống. Tư Hằng trực tiếp xuống làng rà soát lại ruộng đất, những mảnh ruộng trước đây bị Cát Phúc chuyển từ đất thuộc sang đất hoang hóa, để giảm mức tô, nay đều được điều chỉnh lại. Rồi lại dùng số bạc bán trang sức mua thêm một ít ruộng đất. Đan thị được giúp đỡ, an tâm thủ tiết. Chỉ có mẹ con Nghi Nam là chưa được toại nguyện. Đan thị bàn với Tư Hằng, theo lời trăng trối của chồng trả về chủ cũ. Tư Hằng nói:
– Phải tìm người mối cũ nói với người ta.
– Người mối cũ là sư Ngũ Không. Từ khi đòi tiền, cô ấy tức giận không đến nữa, thì nay làm sao mà nhờ cô ấy được. Cậu Trần thân quen với nhà họ Kỷ, thôi thì phiền cậu đi nói giúp.
– Thế thì tốt quá – Tư Hằng nói.

Đan thị mời ngay Trần Nhân Phủ tới nhờ ông đến nhà Kỷ Diễn Tộ nói cho ông ta tới đưa mẹ con Nghi Nam về. Đúng là:
Không cho anh em xa nhờ vả
Ai ngờ lá rụng phủ gốc cây.

Từ khi Nghi Nam đi, Kỷ Diễn Tộ suốt ngày thở ngắn than dài, tình cảm đối với Cường thị ngày càng nhạt nhẽo. Dù cho Cường thị có nổi giận lôi đình, cũng không làm cho băng giá biến thành mây mưa. Cường thị phẫn uất đau buồn, rồi đổ bệnh. Khi mắc bệnh cứ oán hận, cầu cúng Phật chẳng được lợi lộc gì bèn phá giới không ăn chay nữa. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, chữa trị, cầu cúng không qua khỏi. Chưa đầy nửa năm đã quy tiên. Khi lâm chung vẫn oán hận Thần Phật không thiêng, dặn Diễn Tộ nấu chảy pho tượng Phật đó, không thờ nữa. Có một khúc Hoàng oanh Nhi, nói về Cường thị hằng ngày thờ Phật, nhưng đến lúc lâm chung lại oán Phật. Thật đáng chê cười:
Thờ Phật đã bao năm,
Đến nay bỗng thay lòng đổi dạ.
Hoàn toàn khác hẳn ngày xưa.
Uổng công thắp hương đốt nến.
Khi hấp hối bản chất hiện nguyên hình
Thi dã nói những lời ai oán Phật.
Thề chẳng về Tinh Thổ Tây Thiên.

Cường thị chết, Diễn Tộ không nghe theo những lời dặn dò xằng bậy. Hằng ngày vẫn thờ Phật, thất thất lai tuần vẫn mời sư về cầu siêu cho âm hồn. Hết tuần cuối cùng, có một bà đến làm quen, cũng có người khuyên Diễn Tộ lấy vợ kế, có người khuyên tìm một người thiếp. Song Diễn Tộ lúc nào cũng nhớ tới Nghi Nam. Ông nghĩ rằng: “Cái thai ba tháng không biết rồi sau sẽ thế nào?” và thường tới phủ Hô Diên nghe ngóng. Vốn là Hô Diên Ngưỡng có một người thiếp là Nghê thị, tên là Loan Di, khi Hô Diên Ngưỡng bị bắt, thừa lúc rối ren cuỗm một ít tài sản trốn về nhà mẹ đẻ. Đúng lúc Tất Đông Ly cần thiếp bèn cưới cô về. Diễn Tộ cứ ngỡ Nghê Loan là Nghi Nam, biết cô đã trở thành vợ bé của Tất Tiến Sĩ nên vô cùng đau buồn. Chợt thấy Trần Nhân Phủ đến nói chuyện về mẹ con Nghi Nam. Diễn Tộ nửa tin nửa ngờ. Trần Nhân Phủ nói:
– Tôi rất cảm động thấy ông lúc nào cũng quan tâm đến cô ấy cho nên tôi có nhã ý đến báo cho ông biết. Nếu ông không tin, ông có thể cùng đi với tôi đến nhà họ Tất thăm mẹ con cô ấy.

Diễn Tộ bèn cùng Nhân Phủ tới nhà họ Tất. Nhân Phủ gọi Nghi Nam ra gặp mặt, thấy chủ cũ, Nghi Nam nước mắt giàn giụa. Nghi Nam bế con ra. Diễn Tộ thấy giờ đây cô chải đầu bó chân, trang điểm gọn gàng, trông đẹp hơn xưa rất nhiều. Diễn Tộ vừa mừng vui vừa buồn rầu, bế đứa bé lên xem, thấy chân trái có ngón liền nhau. Diễn Tộ cả mừng, vì chân trái anh cũng có một ngón liền nhau. Mọi người thấy vậy đều nói:
– Thằng bé này đúng là con ông rồi.

Ngay hôm sau Diễn Tộ mang đi mười sáu lạng bạc theo nguyên giá, và mười lạng để cảm ơn Đan thị đã có công bảo toàn mẹ con Nghi Nam, và đêm ấy đón mẹ con Nghi Nam về. Họ sống bên nhau tràn đầy hạnh phúc. Đúng là:
Đi rồi lại về.
Tan rồi lại hợp.
Chủ sau là chồng trước.
Vợ mới là hầu cũ.
Kế phụ là cha mới.
Con giả hóa con thật.
Chuyện này quá hiếm thay.
Khó ai tưởng tượng được.

Đêm ấy Nghi Nam kể hết mọi chuyện đã xảy ra, lúc ấy Diễn Tộ mới biết Hỷ Tường đã lấy cắp pho tượng và đồng mưu với Cường thị lén lút bán Nghi Nam. Diễn Tộ vô cùng tức giận, ngay ngày hôm sau gọi Hỷ Tường lại mắng chửi thậm tệ, rồi đuổi vợ chồng hắn đi. Diễn Tộ thuê vợ chồng Lai Ninh làm người ở, họ là người rất chịu khó, lại thật thà chất phác. Sau đó lại mượn một vú nuôi về chăm sóc đứa trẻ. Diễn Tộ và Nghi Nam đặt tên con là Hoàn Lang.

Nào ngờ, người cháu Kỷ Vọng Hồng biết được tin này, nghĩ: “Chú không có con tài sản sẽ phải thuộc về mình, vậy mà nay bỗng dưng đưa một đứa bé về. Nó rõ ràng là giống nhà họ Tất, chứ đâu phải là con nhà họ Kỷ”. Thế là Vọng Hồng đến nói xấu Diễn Tộ, nhưng ông cứ lờ đi. Vọng Hồng vô cùng tức tối, đem chuyện làm rối loạn họ tộc, lại kiện lên quan Thiêm phán phủ ấy. Biết được việc này, Diễn Tộ cũng đưa đơn kiện, và có cậu là Trần Nhân Phủ làm chứng. Biện Công bắt tất cả đương sự đến xét hỏi. Diễn Tộ định lại việc đứa con mà mẹ nó mang thai mười hai tháng mới đẻ. Biện Công hỏi lại Trần Nhân Phủ, thấy Nhân Phủ cũng nói lại như thế. Song Vọng Hồng không chịu, Biện Công lệnh bế Hoàn Lang tới, cùng chích máu ngay trước mặt mọi người, để làm rõ đúng sai. Mà cũng thật lạ. Diễn Tộ trích giọt máu xuống chậu nước, nó ngưng lại đáy chậu, trước đó nhỏ một giọt máu của một đứa trẻ khác xuống chậu, chúng không hòa trộn với nhau. Tới khi nhỏ giọt máu của Hoàn Lang xuống thì thấy giọt máu của Diễn Tộ nổi lên, bao bọc lấy giọt máu của Hoàn Lang thành một khối. Tất cả mọi người có mặt ở đó đều cho họ là bố con, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là:

Cái giả khó thật,
Cái thật khó giả.
Vụ án tồn nghi,
Bỗng nhiên sáng tỏ.


Biện Công giải quyết xong vụ án, biết đích xác Kỷ Vọng Hồng giả dối, ông mắng chửi mấy câu rồi đuổi về. Kỷ Vọng Hồng vô cùng uất ức và xấu hổ, nghĩ rằng phải kiếm cớ khác để trị ông chú này. Hơn một năm sau vì chất lượng tiền xấu, phải tuyển chọn đồng tốt để đúc tiền, lệnh vua ban rằng: “Phàm là trong chùa có tượng Phật bằng đồng đều phải nấu chảy để đúc tiền. Nhà dân nếu có tượng đồng, phủ quan phải định giá thu mua, người nào còn cất giấu sẽ chịu tội”. Trong triều thần có những người thờ Phật đã dâng sớ nói rằng không nên nấu chảy tượng đồng. Chu Thái Công đã đích thân phê trát rằng:
“Phật dạy dân làm điều thiện. Nên lập chí làm điều thiện thì đó là thờ Phật. Những tượng đồng đó sao gọi là Phật được? Vả lại trẫm được biết Phật làm lợi tho mọi người, ngay cả tấm thân mình cũng bố thí cho dân. Nếu tấm thân trẫm có thể cứu dân, thì trẫm cũng không tiếc”.

Lệnh ấy đã ban ra, ai dám chống lại? Nếu triều đình muốn đúc tiền mới, lẽ ra nên thu đồng trong tiền cũ để dùng, làm gì đến nỗi phải hủy cả tượng Phật. Vốn là chất lượng tiền đồng thời ấy rất xấu, những tiền cũ đúc lậu bằng vụn chì hoàn toàn không có đồng, cho nên không có giá trị.

Phủ quan vâng lệnh vua, công bố với dân chúng rằng tất cả những nhà có tượng đồng phải mang đến phủ quan để hóa giá. Kẻ nào còn lén lút tàng trữ không khai báo thì coi như phạm tội chống lại chiếu chỉ. Kỷ Vọng Hồng thấy tờ cáo thị ấy, nghĩ rằng nhà chú có pho tượng đồng, bèn tới Thiêm phán Biện Công cáo giác Kỷ Diễn Tộ cất giấu tượng đồng. Biện Công lập tức sai người bắt Kỷ Diễn Tộ đến xét hỏi. Diễn Tộ bẩm rằng:
– Đúng là con có tượng đồng, song trong đó có vàng chứ không phải chỉ là đồng, hơn nữa pho tượng rất linh thiêng, e rằng không hủy hoại được, cho nên không dám báo quan.
– Sao ngươi biết pho tượng linh thiêng? – Biện Công hỏi.
Diễn Tộ thuật lại việc mất cắp, đến tay nhà họ Tất rồi lại chuộc tượng trở về. Biện Công cười đáp:
– Ta không tin Phật đúc bằng đồng tự đi tự về. Nếu thiêng như thế thì đã không bị đánh cắp. Hãy mau mang tới nấu chảy lấy đồng, nếu nấu không chảy thì ngươi sẽ mang về.


Nói xong bèn sai người cùng Diễn Tộ đi nấu chảy pho tượng. Diễn Tộ không dám trái lệnh, đành phải cùng công sai nấu chảy pho tượng đồng, song không thấy vàng đâu. Diễn Tộ sợ quá đứng ngay như phỗng đá. Công sai giải Diễn Tộ, mang đồng đã nung chảy về bẩm báo với Biện Công. Biện Công nói:
– Ta biết rằng tượng Phật tự đi tự về là hoàn toàn vô lí. Đó chẳng qua là do ngươi tự bịa đặt ra mà thôi.
– Thưa ngài, quả tình nhà họ Tất đã đánh tráo. – Diễn Tộ khấu đầu thưa. – Bởi thế nấu chảy không thấy vàng. Quả đó là sự thực.
– Như thế thì, – Biện Công trầm ngâm nói, – nhất định nhà họ Tất đổi giả lấy thật, rồi sau đó lại bị người đổi trộm một lần nữa lấy mất pho tượng thật. – Rồi ông hỏi tiếp. – Thợ đúc pho tượng là ai?
– Bẩm quan, người ấy là Dung Tam.
– Phải gọi Dung Tam lại hỏi, – Biện Công nói, – thì mới biết được sự thực về pho tượng.
Ngay đêm ấy, Biện Công sai người gọi Dung Tam. Hôm sau Dung Tam bị giải tới công đường. Biện Công ra sức truy hỏi, Dung Tam không sao thoái thác được, đành phải khai rõ sự thực, hắn nói:
– Việc ấy hoàn toàn là do Cát Phúc xúi bẩy.
– Pho tượng ấy nếu ở Hô Diên phủ, – Biện Công nói, – thì cũng đã bị tịch thu rồi, không thể truy cứu được nữa. Nay phải bắt Cát Phúc tới, khép hắn vào tội lừa đảo, lấy cắp.
Nói xong, đang định sai người đi bắt Cát Phúc, thì lúc ấy nhà họ Tất tới trình báo hắn về tội đầy tớ phản chủ, lấy cắp rồi bỏ trốn. Vốn là, Cát Phúc bị Tất Tư Hằng phát hiện ra rất nhiều điều xấu xa, hắn nghĩ khó có thể an thân, nên trước đó mấy hôm hắn đã lén lút xuống làng, mạo danh lấy một thuyền thóc tô rồi bỏ trốn nay chưa tìm thấy. Bởi thế Tất Tư Hằng đã sai người nhà tới trình đơn tố cáo, khẩn thiết mong quan truy bắt. Biện Công xem cáo trạng, một mặt sai người truy lùng, một mặt giải Dung Tam lên Cục đúc tiền giam giữ, chờ bắt được Cát Phúc để đối chất cho rõ ràng. Diễn Tộ nhận tiền đồng, và được cho về.
Kỷ Vọng Hồng vốn muốn hại chú, nào ngờ Biện Công không buộc tội ông, càng thấy xấu hổ và tức giận. Hắn nghĩ ra một kế rất ác độc, tìm cách bắt trộm Hoàn Lang, nên hằng ngày, cứ sáng sớm là hắn tới cổng nhà Diễn Tộ rình mò. Một hôm, Diễn Tộ cùng Nghi Nam đưa quan tài Cường thị đi chôn cất, chỉ gọi vợ chồng Lai Ninh đi theo, giao Hoàn Lang cho vú nuôi chăm sóc, còn thằng nhỏ Hưng Nhi trông coi nhà. Khi ấy Hoàn Lang mới ba tuổi, vợ chồng Diễn Tộ đi, Hoàn Lang đang ngủ say, tỉnh dậy không thấy mẹ nó òa lên khóc, cứ đòi Hưng Nhi bế đi tìm. Vú nuôi dỗ mãi không được, đành bảo Hưng Nhi bế đi chơi, đi được một lúc thì nghe tiếng vú nuôi gọi:
– Hưng Nhi bế cậu nhỏ về đây cho ta, rồi sang nhà hàng xóm xin lửa.
Hưng Nhi bế Hoàn Lang về, nhưng Hoàn Lang nào có chịu. Hưng Nhi đành để nó ngồi ngoài hiên, một mình vào bếp tìm mồi giấy đi xin lửa. Ngờ đâu Kỷ Vọng Hồng dậy từ sớm, giả vờ đến nhà Diễn Tộ đưa thi hài Cường thị. Thấy Hoàn Lang ngồi một mình ngoài cửa, hắn bèn nẩy ra ý định xấu, lừa Hoàn Lang:
– Cháu tìm ai? Chú sẽ bế đi tìm.
Hoàn Lang chẳng biết gì, bị hắn bế đi, rồi lủi mất.
Chỉ trong nháy mắt Kỷ Vọng Hồng luồn lách qua các ngõ ngách, phút chốc đã bế Hoàn Lang ra khỏi thành. Đang đi thì Vọng Hồng chạm trán Hỷ Tường. Hỷ Tường hỏi:
– Ông anh bế cậu nhỏ đi đâu thế?
Vọng Hồng biết Hỷ Tường bị chủ trách mắng đuổi đi, hắn cũng chẳng thích gì chủ nhà, bèn đứng lại nói rõ ý định. Hỷ Tường nói:
– Anh đến thật là đúng lúc. Từ khi bị đuổi tới nay, ta đã dựa vào ngài Tất Đông Ly. Bà vợ bé của ông là Loan Di ở một mình tại trang trại, cách đây độ một vài chục dặm. Trước đây bà vợ bé ấy mang thai, sắp đẻ thì đúng dịp ngài Tất được điều vào kinh làm quan. Loan Di đẻ được cô con gái, song cứ nói là con trai, sai tôi vào kinh báo tin mừng. Ở kinh đô được hơn hai năm, nay bà cả mất, ngài Tất muốn đưa bà hai về kinh chung sống. Bà hai đang muốn tìm gấp một đứa con trai chừng hai ba tuổi, giả làm công tử để lừa ông chủ, hiện rất lo lắng vì chưa tìm được đứa bé nào thay thế. Nếu anh bán đứa bé này cho bà ấy, thì có thể được mấy chục lạng, nếu được chúng ta sẽ chia nhau. Anh thấy thế nào?
– Thế thì tuyệt quá. – Vọng Hồng vui mừng nói.
Thế rồi cùng với Hỷ Tường đến cửa hàng, ăn uống xong cùng bế Hoàn Lang đến trang trại. Hỷ Tường bế Hoàn Lang cho Loan Di xem. Thấy đứa bé khôi ngô sáng sủa, tuổi cũng xấp xỉ con gái mình, Loan Di rất mãn nguyện, rồi mua với giá mười lạng bạc. Hỷ Tường và Vọng Hồng chia nhau mỗi người năm lạng. Vọng Hồng trở về nhà rất mãn nguyện, hắn đã đạt được mục đích. Loan Di bảo Hỷ Tường mang đứa con gái của mình cho nhà Vương Tiểu Tứ nhà ở sau trang trại làm nghề bán đậu phụ nhự, lại đưa cho ông ta mười lạng bạc, dặn ông nuôi dưỡng chu đáo, chờ ít lâu sẽ về đón đi. Tiểu Tứ nhận bạc, hứa sẽ trông nom cẩn thận. Loan Di cùng vợ chồng Hỷ Tường bế công tử giả vào kinh đô.
Vú nuôi nhà họ Kỷ, thấy Hưng Nhi vào một mình vội chạy ra xem, thì đã không thấy Hoàn Lang ngồi ngoài cửa. Hốt hoảng chạy ra đường gọi ầm ĩ, nhưng chẳng thấy thưa, bà gọi ngay Hưng Nhi chạy sang nhà bên hỏi, lúc ấy trời vẫn còn sớm, nhiều nhà vẫn còn đóng cổng. Có mấy nhà đã mở cổng thì đều bảo không trông thấy Hoàn Lang. Vú nuôi và Hưng Nhi cứ trách oán nhau, và chia nhau tìm khắp chỗ, soát xét hết các giếng nước, bến sông đều không thấy bóng dáng Hoàn Lang đâu. Cuống cuồng trên suốt cả ngày, đến đêm Diễn Tộ và Nghi Nam mới về, nghe nói Hoàn Lang biến mất, cả hai đều giậm chân đấm ngực kêu gào khóc lóc vô cùng thảm thiết. Thật là:
Ngọc bích trở về thật là may,
Ngọc về lại mất đớn đau thay.

Diễn Tộ viết thông báo dán khắp nơi để tìm kiếm, nhưng biệt vô âm tín. Thấy không sao tìm được, mới cho rằng số mình không có con, cưỡng lại số mệnh cũng không được. Vì thương nhớ con nên Nghi Nam thường ốm đau luôn. Đã ba bốn năm rồi mà Nghi Nam vẫn chẳng đẻ thêm được mụn con nào.
Nhớ tới Cường thị, người vợ đã qua đời, trước kia khi còn sống bà từng ước ao đến chùa Đại tướng Quốc phủ Khai Phong dâng hương mà không được, bởi thế mà đường con cái khó khăn. Diễn Tộ nẩy ra ý định muốn đi lễ Phật. Ông chọn ngày tốt, dặn dò vú nuôi, mẹ con Lai Ninh chăm sóc Nghi Nam và trông coi nhà cửa còn mình cùng với Lai Ninh lên đường tới phủ Khai Phong. Đi được mấy ngày đường, bỗng một đêm ngủ tại quán trọ, thấy bên dưới chiếc đệm cỏ trải giường có một vật gì cồm cộm. Trong đêm tối, Diễn Tộ thò tay xuống, thì thấy một gói, sờ sờ thì hình như bên trong có tiền, ông cất đi. Sáng hôm sau mở ra xem, quả nhiên là một túi bạc, trong đó thấy ghi là mười lăm lạng, cả thảy là chín nén rưỡi. Trên túi in một con dấu nhỏ màu đỏ, ghi bốn chữ “Chi thứ hai họ Tất”. Thấy thế Diễn Tộ nghĩ: “Không biết người khách này vội vàng thế nào mà lại để quên túi bạc này ? Rất may mà ta nhặt được, phải tìm cách trả lại”. Hôm ấy ông không đi mà ở tại quán trọ chờ, song không thấy người mất bạc tới. Diễn Tộ nghĩ: “Nếu ta cứ ở đây chờ thì lỡ việc đi hành hương, làm thế nào bây giờ” Trầm ngâm hồi lâu, Diễn Tộ nghĩ ra một kế, niêm phong kĩ túi tiền lại, đưa cho chủ quán, nói rằng:
– Gói bạc này là của người bạn họ Tất gửi tạm tôi, hẹn đến đây xin lại. Nay không thấy ông ấy đến, hoặc có thể đến mà không gặp, rồi đi đâu đó chăng. Nhất định ông ấy sẽ quay lại song tôi không thể chờ được, vậy tôi xin gởi gói bạc lại cho quý ông. Nếu ông ấy có đến hỏi, xin phiền ông chuyển giúp. Xin cám ơn ông.
Chủ quán chỉ vào tấm biển của hàng nói:
– Quán họ Trương của tôi có tiếng xưa nay, phàm là những khách vãng lai có gì gửi tạm ở đây, không ban giờ mất mát suy suyễn.
Diễn Tộ rất mừng, lấy ra ba lạng bạc của mình đưa cho chủ quán để trả ơn. Rồi dặn đi dặn lại rằng:
– Ông nhớ kĩ cho, người bạn thân của tôi là chi thứ hai họ Tất, đừng giao nhầm cho người khác nhé.
Chủ quán nhận gói bạc, hứa sẽ trao lại chu đáo cho người họ Tất. Trước khi đi Diễn Tộ dặn lại lần nữa rồi mới từ biệt.
Phủ Khai Phong là nơi đô thành của đế vương, nơi đây rất nhộn nhịp. Diễn Tộ tìm đến quán trọ. Ngày hôm sau đến ngay chùa Đại Tướng Quốc hành hương. Sau đó về quán trọ ăn cơm trưa, dắt theo một ít tiền cùng Lai Ninh đi dạo phố, xem phong cảnh, mua ít đặc sản vùng này. Đang dạo chơi, ngẫu nhiên đi vào một ngõ vắng, thấy có một nhà cửa đóng, ngoài cửa có tấm biển đề: “Nơi ở của Ban kịch nhỏ nhà họ Hầu”. Nghe thấy bên trong có nhiều trẻ con ca hát. Diễn Tộ dừng chân lắng tai nghe, khi ngừng hát, thấy có tiếng trẻ con khóc rất thảm thương, lại nghe có tiếng người lớn quát thét. Rồi thấy cụ già ở nhà đối diện chống gậy đứng đó, lẩm bẩm nói:
– Thương cho thằng bé, là con nhà khá giả, nếu gặp người nào tốt nhận nó thì thật là phúc đức.
Thấy thế Diễn Tộ chắp tay cung kính hỏi cụ già vì sao. Cụ già nói:
– Ngài Tất Đông Ly, quan Hình bộ viên ngoại, là người phủ Quy Đức. Ông có một người vợ bé là Nghê thị, thường gọi là Loan Di, sinh được một công tử. Tất Đông Ly quý như vàng, nhưng không ngờ gần đây ông ốm nặng. Loan Di bị bệnh rồi qua đời. Ông chú nhà ấy nói rằng, công tử là đứa con nuôi, không phải con đẻ. Bởi thế người con cả là Tất Hiến Phu đưa linh cữu hai người về quê hương, bỏ rơi thằng bé tại kinh thành. May mà có Hầu Sư Phụ, người dạy kịch ở nhà đối diện mang về nuôi, bắt nó học kịch, thằng bé không chịu học, nên nó khóc.
Nghe xong Diễn Tộ cám cảnh nói:
– Tôi cũng là người phủ Quý Đức, cùng quê với Tất Đông Ly. Tôi xin đứa trẻ ấy mang về thôi.
– Ông nói thật sao? – Cụ già nói. – Đây quả là một việc phúc đức.
– Cháu nhờ cụ nói giúp cho. – Diễn Tộ nói.
Cụ già chống gậy bước vào, gọi ông họ Hầu ra nói ý định của Diễn Tộ. Người ấy nói:
– Đứa trẻ này không chịu học, tôi giữ lại cũng chẳng ích gì. Song tôi cũng đã nuôi không bốn năm tháng rồi.
– Điều đó không ngại, – Diễn Tộ nói, – tôi sẽ trả tiền công ông đã nuôi nó.
Nói xong, Diễn Tộ lấy ra ba lạng bạc đưa cho người ấy. Người ấy hớn hở dẫn đứa bé ra, giao cho Diễn Tộ dẫn đi. Diễn Tộ lại tạ ơn cụ già mấy đồng bạc, sau đó bảo Lai Ninh dẫn đứa trẻ về nhà trọ tắm giặt chải đầu. Nhìn kĩ khuôn mặt nó thì hao hao giống Hoàn Lang. Hỏi tuổi thì nó bảo tên tám, tính ra đúng bằng tuổi Hoàn Lang. Diễn Tộ rất ngạc nhiên, hỏi kĩ cha mẹ đẻ nó là ai. Đứa trẻ nói:
– Cháu còn nhỏ đã phải xa cha mẹ, không nhớ được. Chỉ nghe người ta nói, lúc ba tuổi bị người ở thành Quy Đức bắt trộm.
Thấy thế Diễn Từ càng kinh ngạc, bèn vạch chân trái đứa bé lên xem, thì thấy có hai ngón chân liền nhau, bất giác vừa kinh ngạc, vừa vui mừng ôm đứa bé vào lòng khóc:
– Con là Hoàn Lang, do chính ta đẻ ra, con có nhận được cha đẻ của con không?


Thế rồi Diễn Tộ kể cho nó nghe tất cả mọi chuyện. Lúc ấy Hoàn Lang mới biết Diễn Tộ là cha mình. Đúng là:

Trải qua thất lạc buồn vô hạn
Nay được đoàn viên sướng bội phần

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1 – Trang 25

Chương 18 (C)

Diễn Tộ tìm được Hoàn Lang, vui mừng không sao kể xiết, lên đường về ngay nhà. Nghi Nam mừng quýnh, bế bổng Hoàn Lang nước mắt giàn giụa. Trước đây vì thương nhớ con, Nghi Nam đau ốm luôn, nay Hoàn Lang đã trở về Nghi Nam dần khỏe trở lại. Song vì Hoàn Lang ở nhà họ Hầu bị hắt hủi, no đói thất thường, lại phải đi xa nên bị ốm. Diễn Tộ mời thầy thuốc về chữa chạy, Hoàn Lang mới dần dần hồi phục. Thầy thuốc lại kê cho một đơn thuốc, bảo Diễn Tộ hoàn tán thành viên nhỏ cho Hoàn Lang uống dần. Theo lời, Diễn Tộ đến hiệu thuốc của Tất Tư Hằng mua thuốc. Vốn là Diễn Tộ tuy có biết Tất Tư Hằng, nhưng không thân quen, đơn thuốc giá hai lạng bạc, Diễn Tộ giả nhầm thành ba lạng. Tư Hằng thấy thừa trả lại một lạng. Diễn Tộ tạ ơn nói:
– Thật là quý hóa, hiếm có người nào tốt như ông.
– Nay tôi trả lại ông một lạng, – Tư Hằng nói, – có gì lạ lắm đâu! Trước đây tôi mang mười lăm lạng bạc đi mua thuốc, nhưng để quên ở quán trọ. Hai hôm sau mới đi tìm, tưởng là đã mất, ngờ đâu gặp người tốt bắt được, họ gửi lại chủ quán trả tôi. Song rất tiếc không biết họ tên người ấy.
– Có phải ở quán trọ nhà ông họ Trương không? – Diễn Tộ nói. – Số bạc mất là chín nén rưỡi, ngoài gói có in một chiếc dấu nhỏ màu đỏ là “Chi thứ hai họ Tất” phải không?
– Sao ông biết? – Tư Hằng ngạc nhiên hỏi. – Chẳng phải người bắt được chính là ông ư?
– Vâng. – Diễn Tộ cười nói.

Tư Hằng vội bước ra khỏi quầy, cung kính vái lạy Diễn Tộ. Ông bảo người giúp việc coi hàng, sau đó mời Diễn Tộ vào nhà trong dọn rượu khoản đãi. Nhân đó hỏi Diễn Tộ có mấy con trai. Diễn Tộ nói:
– Chỉ có một đứa lên tám tuổi.
Rồi kể lại chuyện được chị dâu Tư Hằng che chở, sau bị thất lạc, mới gặp được nhau.
– Đó là sự báo đền ân đức của ông vậy. – Tư Hằng nói.
Rồi nhân đó Tư Hằng hỏi Diễn Tộ đã tìm người nâng khăn sửa túi cho cậu ấy chưa. Diễn Tộ đáp:
– Chưa.
– Tôi có một cháu gái, – Tư Hằng nói, – cũng vừa tròn tám tuổi, muốn gả cho cháu, ý ông thế nào?
– Ông đã thương thì đâu dám chối từ. – Diễn Tộ nói.
Tư Hằng rất vui. Hai người vô cùng mãn nguyện. Họ chia tay nhau. Diễn Tộ về nhà nói cho Nghi Nam biết. Nghĩ tới ân nghĩa của Đan thị, cũng muốn thông gia với nhà họ Tất. Rồi bảo với chồng, nhờ Trần Nhân Phủ làm mối, chọn ngày lành tháng tốt đưa sính lễ. Hai nhà tổ chức buổi lễ rất trọng thể.
Song ngờ đâu lại động đến lòng tham của Kỷ Vọng Hồng. Hắn đến nói với Trần Nhân Phủ rằng:
– Lẽ ra chú con phải nhận con làm người thừa tự mới phải. Không hiểu vì sao lại đi nhận thằng Hoàn Lang ở đâu đâu về làm con. Cha phải nghĩ kế thế nào để chú nhận con làm người thừa kế.

Nhân Phủ xưa nay vốn ghét con rể là đứa vô lại. Nên thấy Vọng Hồng nói thế cũng mặc, không thèm để ý. Vọng Hồng tức tối, làm đơn kiện lên quan. Vốn là Thiêm phán Biên Phương Dận, trước đây đã rời nhiệm sở, nay lại vừa được thăng lên chức Thái thú ở phủ này. Vọng Hồng đến chỗ ông, đưa đơn kiện. Biện Công nói:
– Việc này trước đây ta đã xử rồi, sao bây giờ còn kiện?
Vọng Hồng tố cáo sự thực như đã nói trên. Biện Công cho bắt ngay Diễn Tộ tới xét hỏi. Diễn Tộ nói, Hoàn Lang ba tuổi bị mất, nay lên tám tuổi đã tìm thấy. Biện Công nói:
– Người căn cư vào đâu mà cho nó là con mình.
– Chân nó có ngón liền nhau. – Diễn Tộ nói.
– Người trong thiên hạ cũng nhiều, – Vọng Hồng nói, – sao thấy đứa con giả của Tất Hình Bộ lại nhận là con đẻ của mình?
– Trước đây người đã chích máu để tìm ra cha đẻ, – Biện Công nói với Diễn Tộ, – bây giờ lại chích một lần nữa để tìm ra có đúng người là cha đẻ không.

Ngay lúc đó, Diễn Tộ cùng Hoàn Lang chích máu, thấy hoàn toàn giống như lần trước. Biện Công nói:
– Hai người này là cha con, không nghi ngờ gì nữa. Song không biết vì sao con ngươi lại sống ở nhà ngài Tất Hình Bộ. Phải làm sáng tỏ việc này. Tất Hình Bộ là bạn học của tôi, chờ tôi hỏi công tử của ngài thì mới rõ ngọn ngành.

Sau đó Tất Hình Bộ bảo Diễn Tộ và các phạm nhân ra ngoài, chờ hỏi Hoa Công Tử rồi sẽ xét sau.
Biện Công rời khỏi công đường, lập tức sai người mang danh thiếp đến nhà Tất Công tử, mời Tất Hiến Phu đến nói chuyện. Lúc ấy Tất Công tử vừa đưa linh cữu về hộ tang tại nhà bỗng thấy Biện Công mời không dám nấn ná, đến ngay dinh quan phủ. Biện Công mời vào nhà trong, coi như tình chú cháu, hàn huyên xong, hỏi lại chuyện người em bị anh bỏ, và sao lại biết là đứa em giả, nếu là giả thì có chứng cứ gì không? Tất Công tử kể lại chuyện Loan Di đổi gái lấy trai. Công tử nói:
– Đây là việc thằng hầu tên là Hỷ Tường gây nên. Sau đó lại do chính hắn nói ra, nên cháu mới biết. Chỉ có điều không biết đứa bé ấy là con nhà ai.
– Thế bây giờ Hỷ Tường ở đâu? – Biện Công nói. – Tôi sẽ cho người gọi hắn đến tra hỏi.
– Thằng ấy gần đây vì ăn trộm pho tượng Phật của cha cháu để lại, bị cháu truy ra, hiện đang bị bắt giam tại Bổ Nha chờ xét xử. Bác cần sẽ giải đến ngay cho bác.
Biện Công hỏi đó là pho tượng Phật thế nào? Và Tất Công tử nói rõ nguồn gốc pho tượng ấy.

Thật may thay, pho tượng nhà Công tử vốn là pho tượng đồng đúc lẫn vàng của Kỷ Diễn Tộ. Cát Tường và Dung Tam bán cho Hô Diên phủ, song được Nghê thị Loan Di thờ trong nội thất. Khi lấy Tất Đông Ly, Loan Di lại mang pho tượng ấy đi. Loan Di chết, pho tượng này ở chỗ Tất Công tử. Hỷ Tường lại ăn trộm bán đi chỗ khác kiếm tiền, không ngờ vừa lấy đi đã bị người hầu trong nhà biết được báo cho công tử. Tất Công tử vô cùng giận dữ, truy ra tượng Phật, giải lên quan chờ xét xử. Công tử nói xong, Biện Công cười nói:
– Pho tượng ấy vốn ở chỗ tôi.
Rồi sau đó kể lại chuyện xét xử vụ tượng đồng. Tất Công tử nói:
– Chính cháu định nạp pho tượng ấy đúc tiền. Nay thấy bác nói thế cháu sẽ lập tức mang ngay pho tượng tới.
Nói xong công tử cáo từ ra về. Biện Công cho người đến Bổ Nha giải Hỷ Tường tới, xét hỏi cùng với Diễn Tộ, Vọng Hồng. Thấy Hỷ Tường, Kỷ Vọng Hồng kinh sợ đứng ngây người ra. Biện Công gọi Hỷ Tường lại hỏi:
– Đứa con người chủ cũ của ngươi, cớ sao lại là đứa con giả của chủ mới?
Lúc đầu Hỷ Tường không chịu nói, sau đó ông dùng hình phạt buộc hắn phải khai ra Kỷ Vọng Hồng bắt trộm rồi đem bán.
– Việc đó có không? – Biện Công quát hỏi Kỷ Vọng Hồng.
Không thể chối cãi được, Kỷ Vọng Hồng phải thừa nhận.
– Hai người, một đứa là cháu hại chú, anh bán em, một đứa là đầy tớ phản chủ, bán con chủ. Tình lí khó mà dung tha.
Rồi Biện Công sai người đánh Vọng Hồng ba mươi gậy. Hỷ tường năm mươi gậy. Phạt xong, lại hỏi Hỷ Tường rằng:
– Mày đã được chủ nhờ cậy, lại ngấm ngầm đổi nữ lấy nam, vì sao sau đó lại nói với công tử.
– Lúc đầu bà chủ hứa sẽ trọng thưởng, – Hỷ Tường nói, – nhưng sau lại không thưởng. Bà chủ và ông lớn đã mất, bởi thế con nói ra mong được công tử thưởng.
– Mày là thằng ở lòng tham vô đáy. – Biện Công cười nói, rồi lại hỏi thêm. – Con gái bà chủ gửi ở đâu? Có phải là con ruột của ngài Tất không? Hãy nói để công tử đón về.
– Tiểu thư là chủ sinh ra, nuôi tại cửa hàng đậu phụ nhự của Vương Tiểu Tứ. Công tử đã sai người đến đón, song Vương Tiểu Tứ đã chuyển tới huyện Ninh Lăng. Khi con đến Ninh Lăng tìm tới nhà hỏi thì biết tiểu thư đã mắc bệnh chết cách đó một năm.
– Ta e rằng mày chưa nói thật. – Biện Công nói. – Con trai người chủ cũ mày có thể cướp đi bán, thì e rằng đứa con gái người chủ mới cũng bị mày bán đi. Mày phải khai cho thực, tiểu thư đã chết thật chưa?
– Quả thực tiểu thư đã chết rồi, con không dám bịa đặt.
– Khó mà tin mày được. – Biện Công lắc đầu nói. – Hãy chờ ngày mai ta gọi Vương Tiểu Tứ hỏi trực tiếp.
Nói xong, ông lệnh giam Hỷ Tường và Kỷ Vọng Hồng, chờ ngày định tội.
Diễn Tộ lạy tạ Biện Công rồi trở về. Ra khỏi công đường, Diễn Tộ thấy Tất Tư Hằng và Trần Nhân Phủ đang la cà trước cửa công đường nghe ngóng tin túc. Diễn Tộ thuật lại lời xét hỏi của Biện Công, nói tới việc Vương Tiểu Tứ cho gửi con gái, Tất Tư Hằng kinh sợ, giật thót mình nói:
– Nói thế thì con gái của ta là tiểu thư của nhà quan họ Tất rồi.
Diễn Tộ thấy thế ngạc nhiên hỏi vì sao. Tư Hằng nói:
– Quả thực tôi không giấu ông, đứa con gái nhỏ của tôi là con nuôi. Khi tôi đến huyện Linh Lăng mua thuốc, Vương Tiểu Tứ, người mở cửa hàng đậu phụ nhự cũng nuôi một đứa con gái, bảo là có một người họ Tất dẫn đến, nói rằng nó là người họ Tất. Nay vì mẹ nó chết, nên bố nó muốn bán. Tôi thấy đứa bé gái ấy mặt mũi sáng sủa, đã mua ông ta với giá mười hai lạng.
Diễn Tộ thấy thế nói:
– Đã như thế, thì không cần phải chờ Vương Tiểu Tứ tới xét hỏi, mà ông nên vào bẩm lại việc này với Biện Công.
Lúc ấy Biện Công vẫn còn ở công đường, Diễn Tộ cùng với Tư Hằng vào công đường bẩm báo việc này cho ông. Biện Công lập tức gọi Hỷ Tường quay lại đối chất. Thấy Hỷ Tường, Tư Hằng nói:
– Chính người này dạo ấy bán đứa bé. Theo anh ta nói thì anh ta là người họ Tất, và nó là con của anh. Chứ ai biết đâu anh ta là người hầu nhà họ Tất, đã bán trộm con gái chủ nhà.
Lúc ấy Hỷ Tường không thể chối cãi được nữa. Biện Công nổi giận nói:
– Ngươi là thằng hầu, hai lần bán chủ, tội mày đáng chết.
Sau đó quát lính hầu đánh hắn một trăm gậy, Hỷ Tường chết ngay tại chỗ. Còn Kỷ Vọng Hồng, Biện Công bắt hắn sung vào đội quân vùng biên giới xa xôi. Vụ án đã xử xong. Hôm sau Tất Công tử mang pho tượng đồng tới xin gặp Biện Công. Ông nhận tượng đồng và mời công tử vào nhà trong, nói với công tử rằng:
– Tuy em trai công tử là giả, nhưng trước đây cha công tử rất yêu quý, nên công tử cần đối xử tốt với nó như thời cha công tử còn sống mới phải. Nay bỗng chốc bỏ đi thì quả là không nên. Hiện em gái của công tử chưa chết, lại nhẹ dạ tin theo lời đứa hầu phản nghịch, để nó mang đi bán trộm không chú ý xem xét e rằng sẽ làm tổn hại đến đạo hiếu. Tất Tư Hằng nuôi em công tử làm con, mà cũng khéo thay, lại kết duyên với người em giả của công tử. Em trai tuy giả, mà gái lại là thật. Công tử hãy cho em gái ba trăm lạng làm của hồi môn, để chuộc lại sai lầm trước đây.

Nghe xong Tất Công tử băn khoăn ngượng ngùng, cảm ơn Biện Công và rối rít nhận lời. Biện C


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 7.619
  • 143
  • 11.913
  • 134
  • 7.749.874
  • 891.725