Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Trung Thành Trời Cảm Thông – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

 

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 17

Trung Thành Trời Cảm Thông, Đàn Ông Mọc Vú
Nghĩa Khí Thần Báo Mộng, Thái Giám Sinh Râu

 

Hoàng Sơn Hoàng Thủy nhớ Xuân Thân.
Sông núi ngàn năm thuộc Sở thần.
Thái tử phải chăng vì thoát nạn.
Cho nên được lưu tiếng ngàn thu.
Đây là bài thơ khuyết danh thời xưa, ca ngợi Xuân Thân Quân. Thời Chiến Quốc có bốn người đều là Quân: nước Ngụy có Ngụy Vô Kỵ là Tín Lang Quân; nước Triệu có Triệu Thắng, là Bình Nguyên Quân; Tề có Điền Văn là Mạnh Thường Quân; Sở có Hoàng Yết là Xuân Thân Quân. Xuân Thân Quân từng theo thái tử của Khoảnh Tương Vương nước Sở sang nước Tần làm con tin. Khoảnh Tương Vương ốm nặng, thái tử muốn về nước, nhưng nước Tần không cho. Xuân Thân Quân bí mật cải trang cho thái tử trốn về, còn mình ở lại chịu xử tội. Biết tin, Tần Vương vô cùng giận dữ, định giết Xuân Thân Quân. Sau đó Tần Vương lại nghĩ: thái tử đã trốn thoát, nay ta giết Xuân Thân Quân cũng vô ích. Thế rồi Tần Vương không giết Xuân Thân Quân nữa. Khoảnh Tương Vương chết, thái tử về nước kịp thời, nên được kế vị, đó là Khảo Liệt Vương. Việc ấy hoàn toàn do Xuân Thân Quân phò tá. Công lao ấy còn hơn cả Lạn Tương Như mang ngọc về nước Triệu. Tới nay nhân dân
vùng Giang Nam vẫn thờ phụng Xuân Thân Quân như thần lúa và thổ thần, hương khói ngày đêm. Mộ của ông ở chân núi Quân Sơn thuộc huyện Giang âm, Giang Nam, còn có Hoàng Sơn, Hoàng Thủy, cũng đều do người đời sau đặt tên để ghi nhớ Xuân Thân Quân. Chỉ bàn tới việc ông liều chết cứu thoát thái tử, cũng xứng đáng ngàn năm hương khói. Người ngày nay không chịu làm những việc trung nghĩa, chỉ vì họ tiếc tấm thân, cứu người khác sợ mình thiệt thân. Mưu việc thiên hạ không chu đáo thì không những mình chết vô ích, mà ngay tính mệnh người mình cứu cũng khó bảo toàn. Bởi thế họ không chịu làm những việc trung nghĩa.
Thời Cao Tông, Nam Tống, huyện Phong Nhuận, Ký Châu do nước Kim, Bắc Triều cai trị, có một thư sinh tên là Lý Chân, tự Đạo Tu. Ông đang độ tuổi tráng niên, là người tài cao học rộng nhưng không bao giờ nghĩ tới danh vọng. Là một ẩn sĩ tại gia, luôn dùng bút mục để bộc lộ tình cảm, gửi gắm niềm tự hào vào thơ phú. Ông thấy trước đây quân miền Bắc ghép thuyền vượt sông, đánh thẳng xuống vùng Tương, Tuấn. Người Tống không ai dám chống cự, bởi thế ông vô cùng đau buồn. Lại nghe tin Tần Cối một gian thần được Nam triều tin dùng, ra sức chủ trương cầu hòa. Thái tử Ngật Thuật của quân Kim bị tướng quân Nhạc Phi đánh bại, định rút về miền Bắc thì có một thư sinh ngăn ngựa lại khuyên rằng:
– Bên trong không có gian thần thì bên ngoài đại tướng mới lập công được. Nhưng nay tính mệnh của Tướng quân Nhạc Phi khó bảo toàn thì Tống không thể thành công.
Ngật Thuật tỉnh ngộ, bèn ém quân không rút nữa. Quả nhiên Tướng quân Nhạc Phi bị Tần Cối triệu về xử tử. Từ đó Nam triều không sao chiếm lại Biện Kinh, đón Nhị đế về. Bởi thế Lý Chân hết sức đau buồn, làm hai bài thơ để than vãn.
Bài thứ nhất: Ai Nam nhân
Cây cỏ Bát Công đã lụi tàn.
Tần quân ngày ấy hát khải hoàn.
Gió về chạnh nhớ Đông Sơn cũ.
Thương thay phụ lão chốn Giang Nam.
Bài thứ hai: Điêu Nam sự
Thư sinh ngăn ngựa kéo tướng quân.
Cho rằng Nam Tống chẳng thành công.
Chỉ hận gian thần chưa giết được.
Khiến cho Nhị đế phải khóc ròng.  
Lý Chân viết hai bài thơ này ra giấy, ngâm nga mấy lần rồi gấp vào một cuốn sách để ở đầu bàn.
Nào ngờ bạn học cùng trường là Mễ Gia Thạch – một kẻ tiểu nhân gian manh, mặt mũi xấu xa nói năng vô vị. Lý Chân rất ghét. Mễ Gia Thạch thường hay đến nhà, nhưng Lý Chân không hề bắt chuyện. Thấy Lý Chân tỏ ra lãnh đạm, Mễ Gia Thạch rất căm tức. Một hôm Mễ Gia Thạch cũng với Lý Chân ăn cỗ nhà bạn, khi đã ngấm hơi men, họ cùng nhau vui đùa. Lý Chân dùng họ tên Mễ Gia Thạch ra để xướng họa, rồi đọc ngay một bài đùa rằng:
Trời đất sinh ra do một hòn(1)
Tháng năm gió thổi chẳng hao mòn
Gõ đầu mới thấy đá ngu ngốc
Tiếc rằng không được gặp Sinh Công.
(1) Thạch có nghĩa là đá (ND).
Nghe đọc thơ xong, bạn bè cười rộ lên. Mễ Gia Thạch biết Lý Chân cười mình là đứa ngu ngốc, hơn nữa lại chê hắn trước mặt mọi người, nên vô cùng căm giận. Bề ngoài hắn vờ coi như không, cũng cười theo, song lửa giận sục sôi đang tìm cách báo thù cho hả giận.
Một hôm, nhân lúc Lý Chân vắng nhà, Mễ Gia Thạch lẻn vào thư phòng, lật tập sách trên bàn, hắn vớ được hai bài thơ Ai Nam nhân Điệu Nam sự. Mễ Gia Thạch bỗng nẩy ra một kế ác độc, hắn nghĩ: “Hai bài thơ này là tội trạng của Lý Chân, báo lên quan cũng đủ để rửa hận”, rồi giấu hai bài thơ vào tay áo. Về nhà Mễ Gia Thạch viết một tờ trình nói rằng: “Lý Chân lén lút làm thơ chống lại triều đình, lòng dạ hắn thật khôn lường”, rồi mang tờ trình cùng hai bài thơ tới Trấn thủ Đô đốc Y Đại Kiên tố cáo. Mễ Gia Thạch là kẻ luồn lọt nên Y Đại Kiên cũng quen biết. Đại Kiên là người tham lam và độc ác, thấy đơn tố cáo và kèm theo hai bài thơ của Lý Chân, lập tức sai người tới huyện Phong Nhuận bắt Lý Chân về Kỳ Châu giam vào ngục, đòi hối lộ, sẽ miễn truy cứu. Lý Chân là nhà nho nghèo làm gì có tiền bạc để đút lót. Sách nhiễu không được, Y Đại Kiên tâu lên triều đình. Thời ấy thừa tướng Nghiệp Ách Hổ đương triều, thấy bản tấu của Y Đại Kiên đùng đùng nổi giận, nói:
– Tần Cối là quan Nam triều, còn chịu giúp việc cho ta. Thế mà Lý Chân là người nước này, cớ sao lại theo Nam triều, lén lút làm thơ chống lại?! Tên ấy thật là đáng ghét.

Thế rồi Nghiệp Ách Hổ ra lệnh: “Đưa Lý Chân về đó chém đầu tịch thu gia sản, bắt vợ làm nô tì cho nhà quan. Người tố cáo được thưởng hai trăm lạng bạc” . Lệnh ấy về tới Ký Châu, Y Đại Kiên vâng lệnh thi hành. Một mặt cho người tới ngục trói Lý Chân giải đến Thị Tào hành quyết, một mặt gửi giấy tới huyện Phong Nhuận lệnh thưởng cho người tố cáo, và tịch thu tài sản của Lý Chân, bắt vợ con giải lên quan. Vợ Lý Chân là Giang thị, mới hai mươi tuổi, là người hiền thục và có hiểu biết, bà thường khuyên chồng: “Việc bút mực phải hết sức thận trọng, đừng làm văn thơ động chạm đến thời cuộc”. Bà lại nói: “Mễ Gia Thạch là một người xấu, cần phải cảnh giác, không nên làm anh ta tức giận”. Song Lý Chân không nghe theo, đến lúc ra pháp trường Lý Chân mới nhớ tới lời khuyên của vợ song đã quá muộn, ông ngửa mặt lên trời khóc. Đúng là:
Vợ thường nói đúng ai ơi
Ta không thương vợ, thương người nơi đâu!

Giang thị mới sinh ra một người con trai, được hai tháng tuổi đặt tên là Sinh Ca. Người giúp việc trong nhà là một bé hầu mười hai tuổi, và một ông già tên là Vương Bảo. Ông là người trung thành, gan dạ. Sau khi chủ bị bắt, bèn tới thành Ký Châu nghe ngóng tin tức. Biết được lệnh truy nã cả vợ con, Bèn đi suốt đêm về nhà, báo ngay cho bà chủ biết, bảo rằng là phải mau mau tính kế, nếu sai nha đến sẽ trở tay không kịp. Giang thị nghe được tin dữ, òa lên khóc, bế Sinh Ca nói Vương Bảo rằng:
– Ông nhà tôi đã chết thê thảm, ta quyết tự vẫn chứ không chịu nhục. Song không thể bỏ mặc đứa con này. Ông chủ của ngươi chỉ còn một giọt máu này, nếu ngươi thương chủ, hãy bảo toàn tính mệnh đứa bé, ta chết mới nhắm mắt được.

Vương Bảo giàn giụa nước mắt nhận lời. Đêm hôm ấy, chờ cho kẻ hầu ngủ say, Giang thị cho Sinh Ca bú thật no, rồi giao cho Vương Bảo. Lại đưa một gói bạc và mấy chiếc trâm vàng để Vương Bảo lo liệu. Rồi bà vào nhà trong thắt cổ tự tử. Có thơ rằng:
Thiếp đành liều mệnh thôi chàng nhé.
Chàng ơi ngọc nát vẫn trắng trong.
Chết theo tiếng đàn sông Tương gọi.
Chẳng sống theo tiếng sáo rợ Hồ.

Vương Bảo thấy mẹ ông chủ nhỏ đã chết, hướng lên trời cao lạy mấy lạy, định bế Sinh Ca đi, song lại nghĩ: “Nếu ta cứ ăn mặc thế này, e rằng không thoát, phải cải trang, thay hình đổi dạng thì may ra mới thoát khỏi sự lùng sục” . Nghĩ một lát, ông nẩy ra một kế, vào phòng mình, lấy mấy bộ quần áo của người vợ đã chết để lại, cải trang thành đàn bà. Vốn sẵn có bộ mặt thái giám, cằm nhẵn thín chẳng một sợi râu, mặc quần áo vào trông Vương Bảo y như một đàn bà. Mọi việc chuẩn bị đã xong, Vương Bảo cầm bạc và trâm bế ông chủ nhỏ mở cửa sau chạy trốn suốt đêm.
Đến ngày hôm sau, quan huyện nhận được giấy của Y Đại Kiên sức về. Khi sai nha đến bắt người nhà, thì chỉ bắt được bé hầu gái giải lên quan. Sai nha bắt người những hàng xóm tra hỏi, họ bẩm rằng, đứa con trai mới được hai tháng tuổi của Lý Chân và người ở là Vương Bảo không biết đi đâu. Quan huyện một mặt sai người đi truy lùng một mặt giải đứa hầu gái lên huyện bán cho quan làm gia nô, rồi đệ đơn báo cho Đốc phủ, cho phép địa phương ấy khâm liệm, chôn cất thi hài Giang thị. Lúc đó ở thành có một vị hiếu liêm(l) tên là Hoa Hắc, không quen biết Lý Chân, song lại thương Lý Chân là người có tài, và kính trọng Giang thị là người kiên trinh, đã mua quan tài, chọn đất chân cất Giang thị, rồi sai người tới Ký Châu khấm liệm Lý Chân, đưa tới chôn cùng một chỗ với Giang thị. Chính là:
Người không quen biết là nghĩa sĩ.
Kẻ từng nhẵn mặt ấy gian tà.
(1) Hiếu liêm: là những người địa phương cử ra, tới thời Minh, Thanh gọi là cử nhân. Đây là một chức hữu danh vô thực.

Đêm ấy Vương Bảo chạy trốn, canh năm thì ra khỏi cổng thành rồi men theo con đường nhỏ vào một vùng hẻo lánh. Đi một mạch tới hai ba mươi dặm, bụng đói, miệng khát. Sinh Ca cũng khát sữa, gào lên khóc. Đành phải ngồi xuống vệ đường, định lấy một ít bạc lẻ vào làng mua chút gì lót dạ. Sờ tay vào bên hông, thì ôi thôi, vì quá vội nên gói tiền và mấy cành trâm vàng đã rơi mất từ lúc nào. Vương Bảo vừa bế Sinh Ca vừa khóc nghĩ: “Đừng nói là không có tiền, ngay có tiền cũng chẳng biết lấy gì mà nuôi đứa bé hai tháng tuổi này. Phải nuôi bằng sữa nhưng sữa lấy ở đâu ra? Nếu không bảo toàn tính mệnh người chủ nhỏ này thì quả là ta đã phụ lòng nhờ cậy của người mẹ ấy!”. Nghĩ mãi không có cách gì, ông đứng dậy, ngửa mặt lên trời, quỳ xuống khấn rằng: “Xin trời cao thương cho, nếu chủ ta không đáng tuyệt tự, xin cầu mong gặp được nhiều điều tốt lành cứu được người chủ nhỏ trong hoàn cảnh hiểm nguy”. Kỳ lạ thay, vừa khấn xong, tự nhiên ợ lên mấy cái, miệng đầy nước miếng, không thấy đói mà cũng chẳng thấy khát. Lát sau lại thấy trước ngực tê buốt, hai vú to ra. Cởi hai vạt áo ra xem thì Vương Bảo thấy vú mình căng phòng như vú đàn bà, sữa từ núm vú chảy ra. Vương Bảo kinh ngạc, vội nhét đầu vú vào miệng Sinh Ca, chỉ nghe thấy tiếng nuốt ừng ực như tu một bình trà. Quả là:
Miệng mà chưa nuốt kịp,
Thì mũi lại phun ra.
Vú trái bú chưa hết,
Vú phải đã đầy tràn.

Vương Bảo vui mừng, mặt mày hớn hở, chắp tay ngang trán khấn:
– Tạ ơn trời đất, lần này không những chủ nhỏ được sống, mà ta đã có vú thì chẳng ai biết ta là đàn ông.
Thế rồi ông phanh ngực ra cho Sinh Ca bú. Cứ thế ông đi tới những thôn trấn đông người xin ăn. Trời gần tối, xa xa thấy khu rừng tùng, lại có một bức tường màu hồng, trông như một ngôi miếu cổ. Ông rảo bước đi tới, trời đã tối, ông bế đứa trẻ bước vào, cứ để cả quần áo nằm ngủ trên chiếc bục. Suốt ngày mệt mỏi, chân tay rã rời, Vương Bảo thiếp đi cho tới sáng. Khi tỉnh dậy thì thấy bài vị thờ Trình Anh và Công Tôn Chử Cữu, đó là hai vị gia thần họ Triệu nước Tần thời Xuân Thu. Vương Bảo quỳ xuống lấm rầm khấn:
– Hai vị là bậc trung thần, bảo vệ người con cô đơn họ Triệu, còn Vương Bảo ta hiện đang bảo vệ người con cô đơn của Lý Chân. Xin cầu mong hai vị ra sức phù hộ.

Khấn xong bế Sinh Ca ra khỏi miếu, thấy trên tấm bảng trước miếu đề ba chữ “Song Trung miếu”. Từ đó ban ngày Vương Bảo đi ăn xin, tối đến lại về đấy nương thân. Nếu có ai hỏi thì Vương Bảo không những giả vờ là đàn bà, mà ngay cả Sinh Ca cũng bảo là con gái. Nhân việc Trình Anh bảo vệ người con cô đơn nhà họ Triệu, nên Vương Bảo nói với mọi người là:
– Tôi họ Trình, nên cứ gọi tôi là quả phụ Trình, cháu gái tên là Tồn Nô. Khi ông nhà tôi chết, nó vẫn còn trong bụng mẹ. Hiện nay đang nuôi con vất vả, nên tôi không muốn đi bộ nữa, cũng không muốn làm vú nuôi. Mẹ con chỉ quanh quẩn xin ăn trong thôn xóm thôi.
Mọi người thấy thế rất thương, thường hay bố thí, nên họ không phải chịu đói.
Đầu bạc mạo nhận đàn bà.
Con trai giả thành con gái.
Chẳng dám nhờ ai nương tựa.
Chỉ sợ giấu đầu hở đuôi.

Lúc ấy quan phủ sức giấy đi các nơi bắt Vương Bảo và Sinh Ca. May mà đã đóng giả đàn bà, lại có hai bầu vú, nên bình yên vô sự. Vương Bảo đi ăn xin được mấy ngày, thì vào một buổi sáng, thấy có một vị đạo sĩ, mặt áo thâm đi giày cỏ, tay cầm quạt lông, nhẹ nhàng bước tới, nhìn Vương Bảo nói:
– Ngươi khoan hãy đi, ta có điều cần nói.
Vương Bảo thấy người ấy da dẻ hồng hào, râu tóc bạc phơ thanh thoát nhẹ nhàng như tiên ông, bèn đứng lại hỏi:
– Thưa sư phụ, sư phụ muốn nói gì?
– Ta xem ra ngươi không phải là kẻ hành khất. – Đạo sĩ nói. – Ngôi miếu này không phải là ngươi nơi yên thân: Ta muốn truyền cho ngươi một phép mầu nhiệm, để ngươi không phải đi hành khất nữa, ngươi thấy thế nào?
– Thế thì tốt quá. – Vương Bảo nói. – Song không biết sư phụ truyền cho ta phép gì?
Người đạo sĩ ấy thanh thản, ung dung lấy từ trong tay áo ra một chiếc hộp nhỏ, đưa cho Vương Bảo, nói:
– Trong hộp này có một viên đan dược, gọi là ngân mẫu (mẹ tiền). Ngươi phải thường xuyên cất giấu trong người, sáng sáng mở ra sẽ được ba phân bạc, đủ chi dùng trong một ngày.
Vương Bảo nhận chiếc hộp rồi quỳ xuống lạy tạ. Đạo sĩ nói:
– Thôi đừng bái tạ nữa, hãy theo ta.
Vương Bảo bèn bế Sinh Ca, theo đạo sĩ đi khoảng nửa dặm thì thấy một chiếc lều cỏ. Người đạo sĩ lấy chìa khóa mở cửa, dẫn Vương Bảo vào, nói:
– Đây là thôn Lưu Hậu. Gian nhà này do ta làm, ở đây có đầy đủ bếp núc, bát đĩa, giường chiếu, bàn ghế. Bây giờ ta phải đi vân du nơi khác, chiếc am này ta nhượng cho ngươi nghỉ ngơi. Bảy năm sau ta sẽ tới gặp.

Nói xong ông rời khỏi am. Vương Bảo định hỏi thêm thì thấy ông đi như bay, trong nháy mắt đã biến mất.
Vương Bảo thấy bên phải am là khu đất trống, bên trái am có một ngôi nhà. Vào trong am nhìn kỹ thì đây là hai gian nhà cỏ. Gian ngoài là bếp, gian trong có một chiếc giường gỗ, có chăn đệm, trước giường là một chiếc bàn có một chiếc ghế gỗ trên bàn có mấy chiếc liễn, bên trong vẫn còn cơm. Vương Bảo rất đỗi vui mừng. Hôm ấy không ra khỏi nhà xin cơm. Đến tối có mấy người hàng xóm tới thăm, họ hỏi:
– Gian nhà này đạo sĩ mới làm cách đây hai tháng, sao nay lại để cho ngươi ở.
– Đạo sĩ thương tôi không có nơi nương tựa, – Vương Bảo nói, – nên cho tôi mượn chiếc am này. Đạo sĩ đi nơi khác vân du.
Những người hàng xóm thấy thế bèn để cho Vương Bảo ở. Qua một đêm, sáng hôm sau dậy, Vương Bảo mở chiếc hộp nhỏ ra, quả nhiên thấy một thỏi bạc trắng, đem cân thì đúng là ba phân. Từ đó trở đi cuộc sống không thiếu thốn nữa.

Thời gian cứ thế trôi, mới có mấy năm Sinh Ca lớn bổng lên, thôi bú, chuyển sang ăn cháo, rồi ăn cơm. Nhưng cũng rất lạ Sinh Ca lớn lên thì trong chiếc hộp ấy lại có thêm ba phân bạc nữa, tất cả có sáu phân, đủ chi dùng hàng ngày. Vương Bảo vô cùng sung sướng, mỗi ngày dành ra nửa phân, cứ gom dần, tích tiểu thành đại để may quần áo nữ cho Sinh Ca mặc. Chỉ có điều không xâu lỗ tai và bó chân mà thôi. Khi hàng xóm hỏi tại sao Vương Bảo nói dối rằng:
– Trong cung mệnh của cháu có sao Hoa Cái, phải xuất gia, nên không bó chân và xâu lỗ tai.
Mọi người cứ ngỡ là thật, hoàn toàn không biết Sinh Ca là con trai. Hằng năm vào tháng chạp, Vương Bảo cúng cha mẹ người chủ của mình, khóc than thảm thiết. Xóm giềng có ai hỏi thì Vương Bảo nói là cúng chồng và người vợ cả của chồng. Hàng xóm đều cho Vương Bảo sống rất tình nghĩa, và càng kính phục. Họ đâu có biết rằng đó không phải là vợ khóc chồng, mà là đày tớ khóc chủ.
Hàng tháng vào ngày mồng một, rằm, Vương Bảo đều dẫn Sinh Ca đến Song Trung miếu thắp hương. Một hôm thắp hương xong, bước ra khỏi miếu, bỗng gặp người đạo sĩ lần trước. Khi ấy Sinh Ca đã tám tuổi. Đúng là sáu bảy năm. Vương Bảo lại gặp đạo sĩ, vội vàng lạy tạ. Đạo sĩ nói:
– Ngươi đừng lạy tạ nữa, hôm nay ta đến xin ngươi.
– Sư phụ đừng đùa tôi, – Vương Bảo nói, – mẹ con tôi ăn ở đều do sư phụ, tôi có gì đâu mà sư phụ xin?
Đạo sĩ chỉ vào Sinh Ca nói:
– Ta chẳng xin ngươi cái gì khác, ngươi hãy cho ta đứa bé này để ta dạy dỗ.
– Người chồng đã mất của tôi chỉ còn một giọt máu này, sao lại để cho nó đi tu được.
– Ngươi đừng dối ta. – Đạo sĩ nói. – Theo ta, nó cần phải xuất gia. Hôm nay ta muốn nó xuất gia, ngươi không chịu cho ta ư?
Vương Bảo không còn biết nói sao nữa. Đạo sĩ cười nói:
– Ta đến để thử lòng ngươi thôi, ngươi không chịu cho ta đứa bé, ta càng thấy lòng trung thành của ngươi. Nay ta cũng không muốn nó xuất gia nữa, chỉ cần nó theo ta học kiếm thuật.
– Tôi e rằng học kiếm thuật không phải là việc của con gái. – Vương Bảo nói.
– Trước mắt ta ngươi vẫn còn dối ư? – Đạo sĩ cười nói. – Nó là con gái không học được kiếm, sao ngươi là đàn ông lại có vú?
Vương Bảo thấy nói trúng tim đen, sợ quá chỉ cúi đầu vái lạy. Đạo sĩ đỡ Vương Bảo dậy nói:
– Ta phải dạy kiếm thuật để sau này nó báo thù cho cha. Trước mắt hãy để nó theo ta vào núi, sau năm năm ta sẽ trả lại.
Nói xong rút từ trong tay áo ra hai viên gì đó màu trắng, tung lên không trung, biến thành hai thanh kiếm dài. Đạo sĩ đón lấy kiếm, múa trước miếu. Tự nhiên thấy quầng ánh sáng lạnh nhiễm vào người, tuyết bay lả tả, hơi lạnh động thành sương tung lên cuồn cuộn. Vương Bảo hoa cả mắt. Khi ánh sáng lạnh tan hết thì đạo sĩ và Sinh Ca đã biến mất. Vương Bảo kinh ngạc đứng ngây người như tượng gỗ. Vương Bảo nghĩ rằng: người đạo sĩ này là một vị tiên sống. Lần gặp đầu tiên ông nói bảy năm sau sẽ trở lại. Quả thật đến bảy năm là đúng bảy năm. Vừa rồi ông nói năm năm sau sẽ mang ông nhỏ lại cho ta, thì nhất định không phải đây là lời giả dối. Ta hãy yên tâm chờ năm năm nữa xem sự thể ra sao!” rồi một mình về am. Những người láng giềng hỏi: “Con gái bà đâu?”. Vương Bảo nói:
– Tôi vừa gặp người đạo sĩ trước đây, ông ấy đã dẫn đi dạy kinh, khoảng năm năm sau sẽ dẫn cháu về.
– Những đạo sĩ vân du liệu họ nói có thật không? – Những người láng giềng nói. – Ngươi bị ông ấy lừa rồi!
– Ông ấy cho am để chúng tôi ở, thì nhất định ông không lừa dối, – Vương Bảo nói.
Những người hàng xóm cứ suy đoán lung tung, người thì bảo ông xấu, người thì nói ông tốt. Song Vương Bảo đã hiểu hết, chẳng nghi ngờ gì cả. Đúng là:

Bên cầu đã gặp Xích Tùng Tử
Trên cầu đừng nghi Hoàng Thạch Công(1)
(1) Xích Tùng Tử, Hoàng Thạch Công, đều là người tiên.

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 17 (B)

 

Từ đó Vương Bảo sống một mình trong lều cỏ. Tính đốt ngón tay, đã được năm năm. Thời ấy đúng là lúc Hải Lăng Vương làm vua tại Bắc Triều. Y Đại Kiên được thăng làm Kinh doanh Thống soái, rất được sủng ái. Mễ Gia Thạch nhờ Y Đại Kiên tiến cử, cũng được giao chức Hoàng thành Đại sứ. Hai người này xu nịnh, khuyên Hải Lăng Vương tuyển chọn con gái dân gian khắp nơi làm cung nữ. Hải Lăng nghe theo, sai hai người là Thái tuyển sứ, tới lộ Ký Châu tuyển chọn. Phàm là con gái từ mười ba đến mười sáu tuổi đều phải dự tuyển. Hai người làm khâm sai, dựa vào việc này sách nhiễu tiền hối lộ. Người nào có tiền thì miễn tuyển, còn người nào không có tiền đều phải tuyển làm cung nữ. Từ thành thị đến thôn quê đều bị lùng sục. Họ lại dán một tờ yết thị lớn như sau: “Thánh chỉ tới, thì việc lấy vợ lấy chồng trong dân gian phải đình chỉ ngay”. Những gia đình có con đều sợ hãi khóc lóc, đành bó tay. Vương Bảo thấy vậy nghĩ bụng: “Đứa con giả gái của mình, may mà đạo sĩ đã mang đi, năm nay nó mười ba tuổi, nếu còn ở đây thì cũng phải tuyển làm cung nữ, vậy thì che giấu sao được ” Đúng là:
Nam đã giả làm nữ.
Khó nói nữ là nam.
Nếu không trốn tránh được,
Thì nay chạy trốn đâu.

Xóm làng rối loạn đến hai ba tháng trời, bỗng nghe thấy người ta đồn Y, Mễ đều đã bị giết. Vì Mễ Gia Thạch khi tuyển chọn cung nữ, đã tự ý để lại mấy người đẹp nhất hưởng thụ riêng. Y Đại Kiên biết được, sợ sau này Hải Lăng Vương điều tra ra sẽ bị liên lụy, bèn bí mật dâng sớ lên Hải Lăng Vương. Hải Lăng Vương vô cùng giận dữ, lập tức truyền chỉ hoạn Mễ Gia Thạch ngay tại chỗ, đuổi về nguyên quán. Sau đó mấy ngày, đang đêm Y Đại Kiên cũng bị giết tại tư dinh, lấy mất đầu. Người ta thấy trên tường trước giường nằm có dòng chữ viết bằng máu: “Người giết tên này là Mễ Gia Thạch”. Sai dịch báo cho quan địa phương, sau đó tâu lên triều đình. Hải Lăng Vương nổi giận ra lệnh chém đầu Mễ Gia Thạch, bắt vợ con vào cung làm nô tì. Đúng là:
Gian đảng lại do gian đảng hại.
Kẻ ác bị kẻ ác diệt trừ.
Vương Bảo nghe thấy tin này thì mừng thầm: “Hai kẻ thù của chủ nhân đều bị giết, quả là trời có mắt”. Hơn tháng sau, nghe tin triều đình sai thái giám Nhan Quyền cầm phủ tiết tới đình chỉ việc tuyển chọn cung nữ, và thả những người đã tuyển chọn trở về quê quán. Dạo ấy thôn làng đâu đâu cũng vui mừng hò reo vang trời dậy đất. Vương Bảo nghĩ: “Ông chủ nhỏ của ta lần này đã thoát khỏi tai nạn, nếu có về thì cũng sẽ bình yên vô sự”. Bây giờ đã năm hết tết đến, một năm nữa lại sắp trôi qua, bấm đốt ngón tay Sinh Ca đã mười bốn tuổi rồi, song vẫn chưa thấy người đạo sĩ đưa về. Suốt ngày Vương Bảo mong ngóng, thường đến Song Trung miếu thắp hương, cầu nguyện. Một hôm tới miếu, Vương Bảo thấy người đạo sĩ và Sinh Ca ngồi ngay trước mặt. Vương Bảo rất đỗi vui mừng, thấy Sinh Ca tóc chấm ngang vai, hoàn toàn như một cô gái đã trưởng thành. Vương Bảo cúi lạy đạo sĩ, nói:
– Đa tạ tiên ông đã giữ lời hứa.
– Ta đã dạy kiếm thuật để nó báo thù cho cha. – Đạo sĩ nói. – Song trước mắt vẫn chưa được xuất đầu lộ diện. Ngươi hãy đưa nó về am ở. Mười hôm nữa sẽ có một người họa sĩ họ Tu đến ở bên cạnh chiếc am cỏ của ngươi. Ngươi hãy cho nó sang đó học vẽ, sau này sẽ là duyên kì ngộ. Ngươi hãy làm theo ta, không được trái lời.
Nói xong bước ra khỏi cửa, thét lên một tiếng dài rồi bay lên không trung biến mất. Có bài thơ còn lại làm chứng:
Vân du tiên cảnh chốn nào đây?
Lúc đến khi đi cỡi gió bay.
Bi tấm lòng trung như sắc đá,
Ban ngày đã gặp được tiên ông.

Vương Bảo nhìn theo lạy rối rít. Rồi quay lại ôm Sinh Ca vào lòng hỏi:
– Năm năm trời nay con đi những đâu?
– Ở đó con không nhớ ngày tháng. – Sinh Ca nói. – Con cảm thấy mới có ít hôm thôi, sao đã tới năm sáu năm trời.
– Ta nghĩ rằng, – Vương Bảo nói, – một ngày ở cõi tiên bằng bao nhiêu ngày ở cõi trần. Tiên ông đã đưa con đi những đâu? Tiên ông tên gì? Hãy kể để ta hay.
– Từ lúc thấy tiên ông múa kiếm, – Sinh Ca nói, – con thấy một luồng ánh sáng trắng vây lấy con, tiếp theo thấy tiếng gió mưa gào rú. Khi ánh sáng tan, bình tâm nhìn ra thì thấy mình đang ngồi trong một hang đá. Trong hang có đủ giường ghế đá, sách vở, bút mục. Tiên ông đưa quần áo nam giới cho con mặc, và sai những hài đồng mặc áo xanh hầu hạ con. Hằng ngày dọn cơm cho con ăn, nhưng lại không thấy đun nấu. Bạn bè tiên ông thường lui tới, đều gọi tiên ông là Bích Hà Chân Nhân, động này cũng được gọi là động Bích Hà. Ban đầu tiên ông dạy chữ, sau đó dạy kiếm thuật. Trước khi dạy kiếm thuật, ông bảo con phải chạy nhảy trên vách núi, tập đến khi nào thấy người mình nhẹ bỗng rồi mới truyền kiếm thuật, sau đó dạy niệm thần chú và bắt quyết, những đường kiếm bao bọc lấy người, bay lên, bay xuống. Khi đã thành thạo, tiên ông ghi phù chú vào cánh tay con, bảo tới một nơi xa xôi nào đó lấy đầu một người nào đó. Con bắt quyết, niệm thần chú, đi lại mấy trăm dặm chỉ trong khoảnh khắc. Con nhớ mấy hôm trước đây, tiên ông lệnh cho con tới một nơi nào đó, giết một người rồi mang thủ cấp về. Lại lệnh cho con ghi mấy chữ trên tường: “Người giết tên này là Mễ Gia Thạch”. Tiên ông nói: “Người này là kẻ thù giết cha ngươi, giết được kẻ này là ngươi đã báo thù được cho cha. Bây giờ ta đưa ngươi về”. Tiên ông bảo con cải trang thành con gái. Con nói với tiên ông rằng: “Con đã biết mẹ, không biết cha, và cũng không bao giờ nghe mẹ kể chuyện cha. Con không biết cha mình sống chết thế nào? Và vì sao con lại phải cải trang thành con gái?”. Tiên ông nói: “Ngươi hãy về hỏi mẹ thì sẽ biết rõ đầu đuôi”. Nói xong, bèn đưa con đến đây. Mẹ hãy nói cho con nghe đi!

Thấy thế Vương Bảo nước mắt chảy giàn giụa, khóc tức tưởi, nói:
– Ta không phải là mẹ con. Mẹ con cũng đã chết một cách oan khuất.
Nghe đến đây, Sinh Ca òa lên khóc, kéo tay Vương Bảo hỏi:
– Mẹ hãy nói nhanh lên!
Vương Bảo đang định nói, song phải im bặt. Bước ra ngoài nhìn xung quanh không có người nào mới trở vào nói với Sinh Ca rằng:
– Việc này không thể để lộ ra ngoài được, con phải nín ngay để nghe ta nói.
Sinh Ca lau nước mắt, Vương Bảo đứng lên kể hết về cái chết thê thảm của vợ chồng Lý Chân, và mình giả làm đàn bà bảo vệ người chủ nhỏ. Sinh Ca nghe xong nằm lăn ra đất khóc nức nở. Đúng là:
Con côi trốn tránh đã mười năm.
Trứng nước chia li sao nhớ được.
Trước đây cứ ngỡ đó mẹ hiền.
Đâu ngờ cha mẹ chết thảm thương.

Vương Bảo đỡ Sinh Ca dậy nói:
– Nay đã biết hết rồi, ta cũng không cần phải đóng giả là mẹ nữa. Phải phân biệt rõ chủ tớ, nhưng tiên ông vừa dặn, trước mắt vẫn chưa được lộ ra. Ông chủ nhỏ vẫn không được lộ tung tích, vẫn phải đóng giả con gái như cũ, gọi ta là mẹ để che giấu tai mắt mọi người.
– Nếu con không có mẹ che chở thì cũng đã mất mệnh từ lâu. Xin đa tạ tấm lòng trung thành của mẹ. Dù cho việc ấy khiến thần tiên cảm động giúp đỡ thì con tôn là mẹ cũng không phải là quá đáng.
Nói xong, Sinh Ca cúi xuống lạy. Vương Bảo vội khấu đầu nói:
– Ông nhỏ làm thế ta không chịu nổi. Từ nay về sau chỉ đóng giả mẹ con trước mặt mọi người thôi.

Hôm ấy hai người về tới am, vẫn xưng hô với nhau như trước. Láng giềng thấy con gái bà quả phụ họ Trình đã về, khôn lớn trưởng thành, ai ai cũng vui mừng.Mấy hôm sau người láng giềng cũ dọn đi nơi khác, và quả nhiên sau đó có người họ Tu đến ở. Người ấy chính là thái giám Nhan Quyền, trước đây Hải Lăng Vương chưa xuống chiếu đình chỉ tuyển cung nữ, đã ra lệnh Nhan Quyền nhậm chức thay Y Đại Kiên tuyển chọn con gái đưa về kinh đô. Ai ngờ Nhan Quyền lại là một thái giám có lòng từ thiện và nghĩa khí nhân cơ hội này ông đã trái lệnh vua, cho những người con gái trở về quê quán. Nghĩ rằng, lần này về triều, nhất định cũng sẽ bị giết, nên đến giữa đường ông đuổi hết những người đi theo, mặc thường phục trốn chạy. Vừa may tới Song Trung miếu thì trời tối, ông tá túc tại đó. Tới giữa canh năm, thấy trong miếu đèn nến sáng trưng, một hài đồng mặc áo xanh bước tới kéo Nhan Quyền dậy nói:
– Ta vâng lệnh thần, cho ngươi một bộ râu để lánh nạn.
Vừa nói vừa lấy kim chọc chọc vào cằm Nhan Quyền, rồi lấy trong tay áo ra một túm râu cắm vào cằm. Cắm xong, hài đồng cởi chiếc áo xanh và một đôi giày để lại, rồi dặn rằng:
– Ngươi hãy nhận lấy những thứ này, ngày mai đi cứu một người.
Nhan Quyền vội bò dậy kéo hài đồng lại, hỏi:
– Còn muốn ta cứu ai?
Hài đồng không nói gì, đẩy tay ra. Nhan Quyền ngã nhào, sực tỉnh. Thì ra đó là giấc mộng. Sờ lên miệng thấy ba chòm râu dài gần một thước, chân râu vẫn thấy còn ngưa ngứa. Thật là kì lạ. Khi trời sáng rõ, lạ lùng hơn nữa, lại thấy một chiếc áo xanh và một đôi giày. Ông đứng dậy lạy tạ thần, cầm áo và giày ra khỏi miếu. Vì có bộ râu nên chẳng ai biết ông là thái giám. Ông cứ tự nhiên thoải mái ra đi.

 

Đi được mấy chục bước, Nhan Quyền thấy có tiếng khóc bên đường. Tới nơi thì đấy là một người con gái trạc mười một mười hai tuổi đang ngồi khóc. Tuy ăn mặc rách rưới, đầu tóc rối bù, song dáng vẻ rất khác thường. Nhan Quyền hỏi lai lịch, lúc đầu cô không chịu nói, sau Nhan Quyền an ủi, cô nới rằng:
– Tôi là người huyện Ngọc Điền, Kế Châu. Cha là Liêm Quốc Quang, làm quan Gián nghị Đại phu. Vì thẳng thắn, coi thường lệnh vua, nên ông bị tử hình, tịch thu gia sản. Gần đây có lệnh tuyển chọn con gái vào làm cung nữ. May mà mẹ tôi đã mất từ trước, tôi bị thống chế Y Đại Kiên bắt, nhốt cùng với những người con gái trong dân gian tại dinh quan? Nay theo chiếu chỉ, những người con gái dân gian được trả về quê quán. Mọi người đều được cha mẹ đón, còn tôi, không nơi nương tựa, phải bỏ vơ lưu lạc ở đây, nên tôi khóc.

 Nhan Quyền nghe xong, nhớ lại giấc mộng đêm qua. Nghĩ tới sự trung thành tiết tháo đáng kính của Liêm Gián Nghị, hơn nữa, mình cũng là đồng hương của cô gái, cần phải tìm cách cứu cô. Nhan Quyền đưa cô gái về Song Trung miếu, cho cô biết lai lịch của mình, rồi nói với cô rằng:
– Ta với cô đều là người có tội, phải chạy trốn. Đêm qua được thần nhân báo mộng, phải cứu một người, ta nghĩ người ấy là cô. Muốn thế thì cô phải nhận ta là cha. Song cô là con gái của một phạm nhân chưa được tha thì không thể xuất đầu lộ diện. Đêm qua, thần nhân có cho ta một chiếc áo và một đôi giày đàn ông, ta muốn ngươi giả trai, lúc đó mới an toàn được. Cô hãy cải trang thành nam giới, cùng đi với ta có được không?
Nghe xong, người con gái vội vàng lạy tạ. Nhan Quyền bảo cô bái lạy thần, đưa áo, giày cho cô thay, rồi hỏi tên tuổi. Cô gái đáp:
– Tôi là Dã Nương, mười ba tuổi.
– Bây giờ ta gọi cô là con, – Nhan Quyền nói, – chữ “Dã” bỏ đi hai chấm, đổi tên thành “Đài”.
Dã Nương rất vui mừng, nghe theo ông. Đúng là:
Bên này hai trai giả làm gái.
Bên ấy có người gái giả trai.
Sự việc hai bên tuy có khác,
Nhưng mà ước vọng lại giống nhau.

Nhan Quyền dắt đứa con giả trai, nghĩ: “Mình không thể sống ở nhà trọ được, phải tìm một nhà ở nông thôn để sống”. Rất may họ tìm được một ngôi nhà cạnh am. Nhan Quyền tự nhiên có râu nên tự đổi là họ Tu, chỉ nói cho con mình ở Ngọc Điền dắt díu nhau tới đây tìm người thân, không thấy, lại không còn tiền trở về quê, đành phải trú tạm ở đây. Tuy ông mang theo ít tiền, nhưng không dám tiêu hoang phí, phải tìm một nghề gì để sống lâu dài. Dã Nương nói:
– Cha không phải lo nghĩ gì. Lúc nhỏ con được học may vá lại biết vẽ tranh phong cảnh, và truyền thần. Bây giờ con có thể kiếm sống bằng nghề vẽ.
– Như thế thì tốt quá! – Nhan Quyền nói.
Thế là Nhan Quyền vào thành mua giấy bút, mục màu bảo Dã Nương vẽ ít tranh phong cảnh, quả nhiên Dã Nương vẽ rất đẹp. Sau đó Dã Nương lại vẽ ông, thấy bức chân dung đó giống mình như tạc, Nhai Quyền rất vui, bèn treo tấm biển vẽ truyền thần và phong cảnh. Thấy nhà họ Tu có đứa con gái vẽ giỏi người đến thuê vẽ rất đông. Song nếu ai mời đến nhà vẽ thì Dã Nương kiếm cớ không đi, mà chỉ vẽ tại nhà.

Vương Bảo thấy đứa con nhà họ Tu vẽ giỏi, nhớ tới lời tiên ông dặn trước đây, bèn tới thăm Nhan Quyền, ngỏ ý muốn đưa Sinh Ca sang học. Nhan Quyền thấy Sinh Ca là con gái, nghĩ: “Con mình cũng là gái, con gái tiếp xúc với con gái thì cũng chẳng ngại”. Từ đó Sinh Ca sáng tới học vẽ, chiều về nhà. Dã Nương và Sinh Ca coi nhau như chị em, sống với nhau rất hòa hợp. Khi biết Nhan Quyền đã cho những người con gái về quê, Hải Lăng Vương đùng đùng nổi giận, cho người vẽ ảnh Nhan Quyền, sai người truy lùng. Đồng thời tiếp tục cử quan lại đi các nơi tuyển chọn con gái vào cung. May mà có người đi sứ Nam Triều trở về khen con gái Nam Triều đẹp hơn con gái Bắc Triều rất nhiều. Bởi thế, Hải Lăng Vương thôi, không tuyển chọn con gái miền Bắc, mà đem quân đánh xuống phía Nam. Một hôm Sinh Ca sang nhà Dã Nương học vẽ, hôm đó Nhan Quyền vắng nhà, Dã Nương nói đùa với Sinh Ca:
– Chị rất thông minh, chỉ cần hướng dẫn qua là chị biết ngay. Bây giờ trình độ của chị cũng gần như em rồi, sau này chị sẽ giỏi hơn em rất nhiều. Chị thông minh như thế, chắc rằng lúc nhỏ chị cũng đi học?
– Chị cũng biết được chút ít. – Sinh Ca nói. – Nhưng chị là con gái, việc học hành không coi trọng lắm. Còn em, ít tuổi mà tài giỏi như thế, chắc rằng thơ phú cũng giỏi, sao em không tiến thân bằng con đường văn chương chữ nghĩa, mà lại theo đuổi nghề vẽ?
– Quân tử giấu tài để chờ thời. – Dã Nương nói. – Ngày nay không phải là thời chúng ta tiến thân. E rằng văn chương chữ nghĩa không phải là con đường công danh, nó dễ mang vạ vào thân.
Sinh Ca nghe xong, nghĩ tới cha mình cũng vì văn chương mà bị kẻ xấu hãm hại, nỗi bi phẫn tự nhiên trào lên, nghẹn ngào nói với Dã Nương:
– Lúc nhỏ ta gặp được một người kì lạ, học được kiếm thuật, lâu nay chưa từng biểu diễn, nay ta diễn thử cho em xem nhé!
Nói xong bèn lấy từ trong tay áo một viên màu trắng, bước ra sân tung lên không trung, biến thành một thanh kiếm dài. Sinh Ca dơ tay đón lấy, rồi múa ngay giữa sân. Lúc đầu còn thấy thấp thoáng bóng người trong quầng ánh sáng, sau đó chỉ thấy quầng ánh sáng trắng mà không thấy bóng người. Khi múa xong, vẫn thấy viền mầu trắng trong tay, mà không thấy kiếm đâu. Dã Nương sững sờ kinh ngạc nói:
– Không ngờ chị lại tài đến thế, quả là đấng trượng phu trong nữ giới.
Kiếm múa hoa sen nở.
Ánh sáng lạnh tầng không.
Như sương bay tuyết múa.
Như chớp lóe gió gào.
Bay lên rồi nhào xuống.
Tiến đông lại lùi tây.
Thoắt ẩn rồi thoắt hiện.
Chẳng phải con gái đâu.


Dã Nương đề thơ xong, đưa cho Sinh Ca. Sinh Ca tấm tắc khen, rồi cười nói:
– Ta nghĩ, hiền đệ thông minh, giỏi thơ phú, thật chẳng sai chút nào. Hiền đệ lại coi ta như một trượng phu. Song ta coi nét chữ của hiền đệ lại mềm mại như nét chữ con gái. Ta cũng làm một bài tặng hiền đệ. Rồi Sinh Ca viết ngay vào mặt sau trang giấy đề là “Tây Giang nguyệt”. Bài từ như sau:
Thể chữ đẹp như con gái.
Văn chương thơm nức phấn son.
Nét bút mềm như ấn ngọc
Đâu phải là nét bút nam nhi
Tuy là con trai.
Dáng dấp như con gái.
Nếu mặc kiểu con gái.
Chẳng ai bảo là trai.

Dã Nương xem xong, thấy hình như Sinh Ca biết rõ mình là con gái, tự nhiên mặt đỏ bừng, gượng cười nói:
– Sao chị lại coi em như con gái? Em lại thấy chị rất giống con trai, nên gọi chị là anh mới đúng.
Nói rồi, Dã Nương lại đề tiếp một bài thơ để trêu Sinh Ca.
Dáng chị anh hùng đại trượng phu,
Nên cứ bằng anh, em xưng hô.
Bao giờ chị em ta lại gặp,
Như tình cầm sắt, em gọi anh.
Sinh Ca xem xong, cười nói:
– Nếu như em gọi chị là anh, thì chị cũng gọi em là em gái. Rồi nhân đó làm một bài đáp lại:
Yêu em tài trai như gái sắc,
Lại ngờ phòng học hóa khuê phòng.
Bao giờ chi em gặp nhau nhỉ?
Đôi lứa xứng đôi anh bên em.
Hai người chuyện trò vui vẻ với nhau hồi lâu, khi trở về Sinh Ca nghĩ: “Đài Quan có tướng con gái”. Dã Nương cũng đinh ninh Tồn Nô có tướng con trai.
Một hôm nhân tiết Thanh minh, Sinh Ca ở nhà cùng với Vương Bảo cúng cha mẹ.
Hôm ấy, Nhan Quyền cũng mua sắm hương hoa lễ vật cho Dã Nương cúng cha mẹ, rồi tới Song Trung miếu thắp hương. Dã Nương đóng cửa ở nhà một mình vừa cúng vừa sụt sùi khóc.

Dã Nương là gái, không đám khóc to, chỉ lặng lẽ cúng. Khi cúng xong, nghe thấy tiếng gào khóc thảm thiết bên kia. Dã Nương kiễng chân, nghển cổ nhìn qua khe hở, thấy nhà bên vẫn còn đang cúng. Tồn Nô quỳ phía trước, mẹ cúi đầu quỳ đằng sau, nước mắt giàn giụa. Tồn Nô nằm lăn ra đất khóc nức nở. Mẹ đỡ dậy, miệng lẩm bẩm khuyên răn. Bà nói gì không rõ, Dã Nương chỉ nghe được mấy tiếng “ông nhỏ”. Tồn Nô cúng xong, ngước lên vái lạy. Thấy vậy Dã Nương sinh nghi: “Sao lại kì quặc như thế? Từ trước tới nay ta nghi Tồn Nô là con trai, nhất định cũng là người thay hình đổi dạng như mình. Ngày mai ta phải thử xem sao”.
Hôm sau Sinh Ca tới nhà Dã Nương. Chờ cho Nhan Quyền đi khỏi nhà, Dã Nương hỏi Sinh Ca như khơi gợi:
– Chị thông minh như thế chắc chị rất giỏi nữ công gia chánh . Sao em chẳng thấy chị thêu thùa gì cả?
– Còn nhỏ chị được mẹ cưng chiều, – Sinh Ca nói, – nên không học thêu thùa may vá.
– Nhưng sao lại học làm thơ múa kiếm? – Dã Nương hỏi. – Em chắc rằng chị phải giỏi nữ công, nếu như gặp con gái thì nhất định chị sẽ trổ tài. Bây giờ trước mặt em, chị mới giở cái trò con trai ra để khoe với em.
– Vẽ cũng như thêu thùa thôi. – Sinh Ca nói. – Thế thì em cũng giỏi thêu thùa?
– Em không phải là con gái, Dã Nương nói, – thì làm sao mà biết thêu thùa! Chị là con gái, lại học việc con trai. Mà sao chị lại hỏi em về nữ công?
– Em bảo em không phải là con gái ư? – Sinh Ca cười nói. – Chỉ sợ rằng con gái không ai linh lợi được như em.
– Chị vốn là con gái, – Dã Nương cười nói, – nhưng lại giống con trai. Em cũng chỉ sợ rằng không có người con trai nào hào phóng như chị. Nhân đó đưa cho Sinh Ca bức tranh vẽ Hồng Phất(1) trốn theo trai và nói:
(1) Hồng Phất: một kĩ nữ của Dương Tố thời Tùy, sau theo Lý Tĩnh.
– Nếu như chị học Hồng phất cải trang thành con trai, thì chẳng phải ban đêm có người trốn theo chị mà ngay cả ban ngày cũng có người theo chị. Chẳng ai nhận ra chị là con gái!
– Em bảo chị trốn theo ai? – Sinh Ca cười nói, – nếu chị là Hồng Phất, thì em phải là Lý Tĩnh.
Dã Nương thấy Sinh Ca nói trúng ý mình, bèn chỉ đôi chim uyên ương trên bức tranh, nói:
– Chúng mình gọi nhau là chị em, chỉ như nhạn cùng đàn thôi chứ không thân thiết như uyên ương. Tuy chị lớn hơn em một tuổi, nếu không giấu được, chờ em nói với cha em, chúng ta sẽ kết nghĩa vợ chồng liệu có được không?

Nghe xong Sinh Ca cúi đầu im lặng hồi lâu, rồi bỗng nhiên hai hàng nước mắt chảy dòng dòng. Dã Nương ngạc nhiên hỏi:
– Vì sao chị buồn phiền như thế? Chị giận em quá đường đột ư?
Sinh Ca lau nước mắt trả lời:
– Tung tích của ta không ai biết được. Ta đã giấu em, khiến em lầm tưởng là con gái mà yêu ta, nay ta phải nói thực để em nghe.

Rồi Sinh Ca lấy một tờ giấy trên bàn, viết một bài thơ tứ tuyệt:
Thay hình đổi dạng đâu phải thật,

Vì thiếu Đào Nguyên để tránh Tần.
Nếu muốn cùng em nên chồng vợ
Ước gì ta là con gái em ơi.

 

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 17 (C)

 

Nghe xong Dã Nương vô cùng ngạc nhiên, hỏi:
– Lẽ nào Tồn Nô không phải là con gái, mà lại là con trai. Tồn Nô, chị hãy kể hết sự thực cho em nghe!
Sinh Ca khe khẽ thuật lại, rồi dặn:
– Em không được tiết lộ với ai!
Dã Nương rất kinh sợ, nhân đó cười nói:
– Em cứ đùa chị là con trai, ai ngờ lại là con trai thật.
– Vì trước đây giả làm con gái, – Sinh Ca nói, – nên không thể sống chan hòa được, nay đã rõ nhau rồi thì anh em mình có thể kề đùi kề vế, cùng ngủ chung giường với nhau.
Nói xong bèn tới ngồi sát vào Dã Nương. Dã Nương mặt đỏ bừng vội đẩy Sinh Ca, đứng dậy tránh sang một bên. Sinh Ca nói:
– Khuôn mặt em giống con gái, chứ có phải em là gái thật đâu mà xấu hổ như thế?
– Anh tưởng em là con trai thật ư? Anh không giấu em thì sao em nỡ giấu anh.
Thế rồi Dã Nương lấy bút viết một bài thơ
Chị chẳng thật còn em thật sao?
Trốn Tần ta cùng khổ như nhau.
Nếu ta kết nghĩa đào viên được,
Em chỉ mong mình hóa con trai.

Sinh Ca đọc thơ, kinh ngạc nói:
– Anh không ngờ em lại là con gái. Em hãy nói rõ sự thật với anh.
Dã Nương kể lại hết, Sinh Ca rất lạ lùng nói:
– Anh với em, một người giả gái, một người giả trai, thật là duyên trời run rủi. Ta nên kết duyên chồng vợ. Em vừa nói, nhạn đàn không như uyên ương. Từ nay chúng ta không phải là anh em mà là vợ chồng.
– Nếu anh muốn thế, – Dã Nương nói, – phải nói với cha mẹ cho danh chính ngôn thuận, chứ không thể vội vàng được.
Hôm ấy Sinh Ca nói cho Vương Bảo biết. Còn bên này Dã Nương cũng kể hết những chuyện của Sinh Ca cho Nhan Quyền nghe. Hôm sau Vương Bảo tới gặp Nhan Quyền, bàn về chuyện kết hôn, Nhan Quyền bằng lòng ngay. Họ chỉ nói với mọi người rằng nhà họ Tu xin Tồn Nô về làm dâu, rồi nhờ một bà hàng xóm làm mối, chọn ngày lành tháng tốt đón Sinh Ca về. Vương Bảo phá thông tường phía sau, hai nhà thành một. Láng giềng có mấy kẻ xấu, nói ra nói vào:
– Con cái mới mười lăm tuổi, xưa nay không nên cho chúng sống chung với nhau. Nay tự nhiên cưới vợ cho nó. Chưa biết chừng sau này họ lấy nhau. Như thế thì tồi quá.
– Lúc đầu, – có người nói, – bà quả phụ họ Trình muốn con gái xuất gia, thế mà bây giờ lại gả cho Đài Quan nhà họ Tu. Chắc trước đây họ đã có tình ý với nhau, nay thì hai người thông gia ấy đẹp đôi rồi.
Vương Bảo chẳng hề để ý tới những lời thị phi ấy, thời gian như
thoi đưa, thấm thoắt đã hai năm. Sinh Ca mười bảy tuổi Dã Nương mười sáu tuổi. Nhan Quyền chọn ngày lành tháng tốt tổ chức lễ cưới. Dã Nương vẫn mặc lối con trai. Chàng rể chải tóc con gái, cô dâu lại mặc áo xanh, đội mũ hoa như con trai, trông thật buồn cười. Người mang lễ đến, mời Vương Bảo ra nhận lễ, Vương Bảo không dám nhận, lấy cớ đau bụng đi nằm sớm. Từ ngày kết hôn, Sinh Ca và Dã Nương sống với nhau thật là ân ái. Chỉ ngại có điều âm dương đảo lộn, không thể thay đổi trang phục, trở lại đúng họ tên thật của mình.
Ai ngờ cũng có cái may, vì học vẽ mà có cuộc hôn nhân này, lại vì bán tranh mà lại dẫn đến một cuộc gặp gỡ bất ngờ khác vốn là thời ấy, hiếu liêm Hoa Hắc đậu tiến sĩ được tuyển vào Hàn lâm, song vì bất hòa với thừa tướng Nghiệp Ách Hổ nên từ quan về sống tại quê hương. Phu nhân của ông là Lam thị muốn vẽ một bức tranh trong cảnh vui thú điền viên. Nghe tin vợ chồng Trình Tồn Nô nhà họ Tu ở Hậu Thôn giỏi vẽ truyền thần, bèn sai người mang kiệu tới mời về phủ vẽ trực tiếp. Dã Nương khuyên Sinh Ca không nên đi. Vì nghĩ tới công ơn Hoa Hắc đã chôn cất cha mẹ mình, nay không nỡ trái lệnh. Vị phu nhân chỉ biết Sinh Ca là con gái, mời thẳng vào phòng riêng. Chào hỏi xong, bà mời Sinh Ca dùng trà, rồi đưa cho Sinh Ca một vuông lụa trắng. Sinh Ca nhìn kĩ phu nhân hồi lâu, rồi cầm bút vẽ. Chỉ phút chốc, bức chân dung đã vẽ xong, trông rất đẹp và giống hệt. Phu nhân vô cùng vui sướng, gọi bọn hầu gái vào xem, đều tấm tắc khen. Phu nhân vô cùng thán phục, nói với Sinh Ca rằng:
– Chân dung mẹ tôi bị anh em chúng tôi làm mất, nay muốn vẽ lại một bức, vẽ mô phỏng thì quả là khó thực. Nay ta tả lại hình dáng, nhờ cô giúp đỡ. Nếu vẽ đúng ta sẽ hậu tạ.
Sinh Ca nhận lời. Bà chỉ vào khuôn mặt của mình, chỗ nào giống mẹ, chỗ nào khác mẹ. Theo lời bà, Sinh Ca tưởng tượng vẽ ra một bức chân dung. Song thật lạ lùng, bức họa rất sống động. Phu nhân xem, vỗ tay thán phục, vừa nhìn vừa khen, càng nhìn càng thấy giống. Bà cảm thấy như được gặp lại mẹ mình, rồi bất giác òa lên khóc. Thấy bà khóc, tự nhiên Sinh Ca cũng nước mắt giàn giụa. Phu nhân thấy lạ hỏi:
– Ta khóc vì nhớ mẹ, còn cô thì vì sao lại khóc.
Sinh Ca lau nước mắt nói:
– Tôi còn bé đã mất cha mẹ, nên không biết mặt cha mẹ. Nay phu nhân có được bức ảnh của mẹ mình, tôi nghĩ mình là người vẽ truyền thần, song không sao vẽ được cha mẹ, nên không cầm được nước mắt.
Thấy vậy phu nhân hỏi:
– Ta nghe tin mẹ cô vẫn còn, nhưng sao lại nói cha mẹ đã mất từ khi còn nhỏ.
Sinh Ca vội nói chữa lại rằng:
– Phu nhân nghe lầm rồi, thiếp nói là cha mất từ khi còn nhỏ
– Ta lầm sao được, rõ ràng cô vừa nói cha mẹ mất từ khi còn nhỏ. Vậy bà quả phụ Trình không phải là mẹ đẻ cô ư? Hãy nói thực với ta đi!
Sinh Ca thầm nghĩ: “Ngài Hoa là một người tình nghĩa, nếu ta nói thực với phu nhân, chắc chẳng có gì đáng ngại”. Thế rồi Sinh Ca chắp tay lạy bà nói:
– Phu nhân là đấng bề trên, xưa kia cha con nhờ ân đức ngài Hoa, trước mặt phu nhân con đâu dám giấu. Nhưng xin bà hãy tha chết cho con, con mới dám nói.
– Sao lại lạ lùng thế? – Phu nhân nói. – Ta vốn chẳng quen biết gì nhà cô, thì làm gì có ơn với huệ. Hơn nữa bây giờ cô có tội gì đâu!
– Xin phu nhân cho người nhà lui ra, – Sinh Ca nói, – con sẽ thưa lại tường tận.

Phu nhân cho những người hầu ra ngoài. Trước hết Sinh Ca nói là mình giả làm con gái, lẽ ra không được vào nội thất, song không dám trái lệnh phu nhân, đành phải miễn cưỡng vào đó là tội đáng chết. Sau đó kể lại tỉ mỉ vì sao mình phải cải trang lánh nạn, vì sao mình lại lấy Dã Nương làm vợ. Phu nhân nghe xong vô cùng kinh ngạc, mời Hoa Hắc vào để nói lại chuyện này, và cho Sinh Ca vào gặp. Hoa Hắc thấy hết sức lạ lùng.
Đang lúc ấy, gia nhân vào thưa:
– Có người ở trên về báo, ngài lại được phục hồi chức cũ.

Thời ấy, Hải Lăng Vương ngự giá đánh xuống phương Nam, giữa đường bị hại. Thừa tướng Nghiệp Ách Hổ bị loạn quân giết chết. Trong triều lập Thế Tông làm vua. Thế Tông là người sáng suốt, những quan viên xúc phạm Hải Lăng Vương bị Nghiệp Ách Hổ giết, đều được truy tặng, tìm lại con cháu cho tập ấm. Nhũng người bị phế truất, bị đày đều được phục hồi. Bởi thế Hoa Hắc được bổ nhiệm lại chức cũ. Nhận được lệnh gia ân, Hoa Hắc nói với Sinh Ca rằng:
– Vua mới rất sáng suốt, vẫn cho tìm lại con cháu các hiền thần bị hại để giao chức vụ. Liêm Gián Nghị cũng trong số đó. Ngài không có con, nay anh là con rể cũng coi như con ngài. Còn như việc cha mẹ đề thơ mà bị giết, ta sẽ dâng sớ để minh oan. Anh không những thoát tội mà còn được phong quan.
– Xưa kia ngài đã chôn cất cha con, – Sinh Ca nói, – nay lại quan tâm chu đáo tới con như thế, ơn ấy thật như trời biển. Con không thể nào quên được.
Nói xong Sinh Ca quỳ xuống lạy. Đúng là:
Nhờ ơn quân tử rủ lòng thương.
Cứu thoát cùng dân khỏi nỗi oan.

Sinh Ca bái tạ ông bà Hoa ra về, rồi kể lại chuyện đã xảy ra cho Dã Nương, Nhan Quyền và Vương Bảo nghe, họ rất vui mừng. Ngay ngày hôm ấy, Hoa Hắc về kinh, yết kiến vua, dâng sớ minh oan cho Lý Chân, nói:
– Hai bài thơ Lý Chân làm, một bài than vãn Nam triều không có người, một bài than vãn Nam triều chưa từng không có người, chỉ vì gian thần hãm hại, vô cớ bị giết chứ không hề xúc phạm đến triều đình. Thật đáng thương cho cả gia đình ông. Vợ ông là Giang thị đã chết để bảo vệ tiết hạnh, cũng rất đáng thương. Nay Sinh Ca con họ lại lấy con gái Liêm Quốc Quang. Quốc Quang không có con trai, nên tập ấm cho con rể để báo đền lòng trung thành của ông.

Sau đó lại kể chuyện Vương Bảo được trời cảm động mà cho vú, Nhan Quyền mơ thấy thần cho râu. Thế Tông xem tấu, ra lệnh:
– Cho Sinh Ca được tập ấm Liêm Quốc Quang, giao cho chức Hàn lâm chờ chiếu chỉ. Phong Dã Nương làm Nho nhân. Vương Bảo là người trung nghĩa đáng thương, giao chức Thái bộc thừa. Thái giám Nhan Quyền được triệu về kinh sư, giao chức Lục cung Đô đề điểm.
Lệnh vua được ban ra, Sinh Ca và Dã Nương mới được thay đổi trang phục. Một người đàn ông vú to, một người thái giám râu dài đều được khôi phục lại diện mạo thật của mình. Chuyện kì lạ ấy, đâu đâu cũng thấy người ta đồn đại.
Trước đó âm dương đảo lộn
Bây giờ nam nữ đúng rồi.

Mọi người nhận ơn vua, đều trở về kinh. Sinh Ca dâng sớ tâu rằng: “Trước đây thần gặp hoạn nạn, chưa để tang cha mẹ. Nay muốn được để tang cha mẹ, ở lều cỏ bên phần mộ ba năm, sau xin nhậm chức”. Thiên tử khen ngợi Sinh Ca là người có hiếu, nên chuẩn y theo nguyện vọng. Sinh Ca cùng với Dã Nương mặc áo xô gai, chống gậy, đến nơi phần mộ cha mẹ bày lễ cúng. Nghĩ lại cha mẹ đã chết oan khuất, lúc còn sống lại không biết mặt, khi chết không được chăm sóc mộ phần, cho mãi tới bây giờ mới đến trước mộ bái lạy. Nỗi đau đớn trong lòng ùa dậy, họ nằm lăn ra đất khóc lóc thảm thiết. Điều đó khiến cho những người xung quanh không ai không thương tâm.
Vương Bảo thấy vợ chồng Sinh Ca tới mộ, nhân lúc chưa tới nhiệm sở, mang lễ vật đến mộ lễ. Lúc ấy Vương Bảo mặc áo triều đình ban cho, đến trước mộ, ông bảo người hầu mang áo xanh và mũ nhỏ để ông thay.
Sinh Ca hỏi:
– Sao lại phải làm thế.
– Xưa kia ta được mẹ ông nhỏ nhờ cậy bảo vệ ông nhỏ. – Vương Bảo nói. – Nay ta đến để thưa lại với bà. Nếu như đội mũ đeo đai, sợ rằng người dưới mộ không nhận được.
Nghe xong bất giác Sinh Ca òa lên khóc. Vương Bảo thay áo mũ, đứng trước mộ bái lạy thưa rằng:
– Thưa bà, con là Vương Bảo, xưa kia ở thành Ký Châu, vì muốn về gấp báo tin cho bà chủ, không kịp khâm liệm thi thể ông chủ. Đến khi bà chủ chết, con vội vàng bảo vệ ông nhỏ, đưa ông đi trốn, không kịp khâm liệm thi thể bà, cũng không kịp đến mộ để cúng. Nay nhờ trời, được ân xá, con mới tới mộ ông bà. Trước đây nhờ trời cho vú, tiên ông che chở nên chủ tớ chúng con mới được sống tới ngày nay. Nay may mà mối thù đã trả ông nhỏ đã thành gia thất, lại được thăng quan. Không biết ông bà chủ có biết cho không? Nếu linh hồn tại đây, cúi lạy xin chứng giám.
Cứ như thế, ông vừa khấn vừa vái lạy, rồi nước mắt ông cứ trào ra. Những người theo hầu nhìn thấy, ai ai cũng khóc.

Vương Bảo lễ xong, thay mũ áo. Lúc ấy Nhan Quyền cùng đến cúng. Chờ lễ xong họ cùng đến từ biệt vợ chồng Sinh Ca, chuẩn bị lễ vật đến Song Trung miếu lễ tạ. Nhan Quyền cho đúc lại tượng thần, trùng tu lại miếu, rồi sau đó cùng với Vương Bảo trở về kinh thành. Sinh Ca cùng với Dã Nương ở lại chịu tang. Sau đó lại nghe thấy chiếu chỉ của triều đình, sắc cho quan huyện Ngọc Điền xây dựng miếu thờ Liêm Quốc Quang, hằng năm thờ cúng. Sinh Ca cùng với Dã Nương tới đó cúng lễ xây dựng lại lăng mộ. Hết hạn chịu tang, họ cùng trở về kinh đô tạ ơn vua rồi nhậm chức.
Ở kinh đô chưa được bao lâu, nghe tin tại huyện Lâm Thành, Triệu Châu có một mụ yêu quái, đó là Ngưu thị. Mụ ta đã liên kết với bọn cướp hung hăng ngang ngược nổi loạn. Ngưu thị là vợ Y Đại Kiên, Đại Kiên là người Lâm Thành. Khi còn sống hắn đã dựa vào sự sủng ái của Hải Lăng Vương, làm nhiều điều ác độc. Sau đó bị cáo giác, Thế Tông đã ra lệnh tịch thu gia sản. Không ngờ Ngưu thị là vợ, biết nhiều yêu thuật, bèn cùng với con là Y Bưu trốn vào núi Thái Hàng, tụ tập bọn cướp nổi loạn, tự xưng là “Thông Thánh Nương Nương”. Quan địa phương đem quân truy bắt, song đều bị chúng đánh bại. Sinh Ca biết được tin này, tấm lòng trung thành sôi sục trào dâng, nói:
– Đây là vợ tên kẻ thù, ta phải tự tay giết nó.

Thế rồi Sinh Ca dâng sớ xin tới sào huyệt kẻ thù. Thiên tử chuẩn y, lệnh cho giữ chức Hàn lâm Đãi chiếu kiêm Hành quân Thiên hộ, đem ba ngàn quân đến Lâm Thành dẹp bọn yêu tặc. Sinh Ca vâng lệnh, ngày đêm thúc quân thẳng tiến. Ngưu thị thống lĩnh quân giặc, chiếm cứ núi cao hiểm yếu, xây dựng doanh trại, rồi dùng phép thuật chống lại. Nào ngờ Sinh Ca được Bích Hà Chân Nhân truyền cho kiếm thuật. Sinh Ca không chờ giao phong, một mình bay lên đỉnh núi, vung kiếm chém đầu Ngưu thị và Y Bưu. Sau đó đốc quân phá tan sào huyệt bọn cướp, dẹp tan quân giặc, chiến thắng trở về triều. Thiên tử thấy Sinh Ca lập công lớn, thăng làm Trung thư Tả thừa, kiêm Xu mật Phó sứ, truy tặng cha mẹ là Lý Chân và Giang thị. Sinh Ca cảm động đến rơi nước mắt, tạ ơn vua, trở về tư dinh. Đêm ấy nằm mơ thấy một vị quan mặc áo đi hia, và phu nhân mặc áo gấm đội mũ cánh phượng. Hai người nói với Sinh Ca rằng:
– Ta là cha mẹ của ngươi. Được Thượng đế rủ lòng thương, vì một người là văn nhân bị tai họa, một người vì tiết nghĩa mà quyên sinh, cho ta thoát khỏi kiếp ma quỷ mà được làm thần. Không những được ơn vua, mà còn được Thượng đế yêu mến. Con không phải buồn phiền thương xót cha mẹ nữa.
Sinh Ca tỉnh dậy, nhớ lại hình ảnh cha mẹ, vẽ ra hai bức chân dung, gọi Vương Bảo tới xem. Vương Bảo vô cùng kinh ngạc nói:
– Rất giống ông bà chủ lúc sinh thời.
Sinh Ca vô cùng sung sướng, đưa vào miếu thờ. Đúng là:
Trung, trinh trời đất biết.
Nhân, hiếu quỷ thần hay.

Vương Bảo làm quan được ba năm, rồi xin từ chức, đi tìm Bích Hà Chân Nhân vào núi tu luyện. Đến từ biệt vợ chồng Sinh Ca, mang theo hộp đựng hạt ngân mẫu linh đan, nhẹ nhàng phơi phới ra đi. Sinh Ca luôn luôn nhớ tới lòng trung thành của ông, vẽ một bút chân dung của ông đặt bên cạnh Lý Chân, hằng năm thờ cúng. Lại vẽ bức chân dung Bích Hà Chân Nhân, đặt thờ ông tại am cỏ xưa kia, và cùng thờ Vương Bảo tại đó. Về sau Hoa Hắc đi sứ trên biển, thấy Vương Bảo người hồng hào tóc trắng xóa, nhẹ nhàng bay lướt trên mặt nước. Khi trở về, kể lại với Sinh Ca. Sinh Ca biết ông đã thành tiên. Nhan Quyền ra vào cung, người ta đều gọi ông là thái giám Râu, và ông được vua sủng ái, thọ tới chín mươi bảy tuổi mới qua đời. Dã Nương mặc áo xô tang ông, đặt bức chân dung lên bàn thờ. Đây là việc báo đền hai người trung nghĩa. Các bạn thân mến, nếu người ta có lòng trung thành, có nghĩa khí, thì trời sẽ phù hộ, thần sẽ giúp đỡ. Hãy xem nô bộc, hoạn quan còn như thế, huống hồ những sĩ đại phu. Kinh Dịch viết: “Tận trung với vua, không phải vì bản thân mình”.


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 1.271
  • 62
  • 5.942
  • 127
  • 6.011.699
  • 845.010