Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Khứ Hòa Thượng Ban Đêm Lẻn Qua Cửa Giết Vợ Người – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 15

Khứ Hòa Thượng Ban Đêm Lẻn Qua Cửa Giết Vợ Người

Lai Ngự Sử Phán Xét Kẻ Đuổi Mình Rơi Xuống Giếng


Huyết lệ cạn khô.
Bỗng dung thỏ làm chim trĩ sa vào lưới.
Lòng Phật tính sao đây.
Nhân quả rõ ràng.
Có Di Đà chứng giám.
Biến thành Đức Như Lai về Đông Thổ.
Khiến cho bể khổ trở lại trong xanh.
Từ xưa tới nay, đi tu cũng như đi học, nếu đi tu mà phạm phải những điều: giận dữ, ngu muội, tham lam, dâm dục, giết người, cướp của… đều không xứng đáng là đệ tử của đấng Như Lai. Còn như kẻ đọc sách mà quên mất hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ cũng không thể coi là đệ tử cửa Khổng sân Trình. Chỉ trách những kẻ quá yêu quý sư, dù sư tốt hay xấu, cứ gặp là vái lạy. Nếu có ai đó nói, sư không tốt thì họ chẳng bao giờ tin cả. Họ hoàn toàn không biết rằng chửi sư là chửi họ không biết theo lời răn dạy của Đức Phật. Chửi sư không phải là nhạo báng Tăng, Phật, Pháp, mà chính là yêu tăng phụng sự Pháp. Dưới đây ta sẽ kể về mấy hòa thượng mang danh xuất gia, song chính họ là đạo tặc, hai người thường dân phát tâm quy Phật, lại là hòa thượng chân chính và hai người không cắt tóc, không mặc áo cà sa mà có tấm lòng ngay thẳng, trừ hung diệt bạo. Họ là viên quan hiểu được lời răn dạy của Khổng Tử, là vị Bồ Tát theo lời răn dạy của Đức Phật. Xin các bạn hãy lắng nghe câu chuyện nhân quả sau đây.

Năm Chính Hòa thời Tống Huy Tông, ở huyện Đồng Hương, Chiết Giang, có một thư sinh tên là Lai Pháp, tự là Bản Như. Lai Pháp trạc hai mươi tuổi, chưa vợ, cha mẹ đều qua đời. Thời trẻ Lai Pháp là người rất ham học, nhà tuy nghèo nhưng đầy nhiệt huyết. Quả là người làu thông kinh sử, lược thao, phong thái lịch thiệp, tính tình ngay thẳng khoáng đạt. Lai Pháp tài năng nhưng lại không gặp may, hơn hai mươi tuổi, Lai Pháp vẫn chưa đỗ tú tài, ở nhà nhận dạy học cho một nhà giàu ở ngoại thành. Người chủ tên là Thủy Giám, có người con gái, con vợ cả tên là Quan Cô mười bốn tuổi. Vợ cả chết, ông lấy người thiếp là Phong Nguyệt Di, được đứa con trai lên sáu tuổi. Lai Sinh dạy học cho đứa bé này. Từ ngày Lai Sinh tới, Nguyệt Di thấy Lai Sinh là một thanh niên đẹp trai, đem lòng yêu mến, thường đến bên cửa sổ nhìn vào nhà học. Lai Sinh nhìn thấy nhưng vẫn ngồi nghiêm trang đọc sách, không hề nhìn ngang liếc dọc. Nguyệt Di đến bên cửa sổ hái hoa, Lai Sinh lại vội đứng dậy ngồi quay vào. Thấy Lai Sinh tỏ thái độ như thế, Nguyệt Di cố ý sai đứa ở, hoặc vú em vào dâng trà mời nước, bắt chuyện, làm cho Lai Sinh thẹn đỏ mặt không dám nói chuyện. Có thơ rằng:
Nhà vắng một mình ngồi ngâm ngơi.
Song cửa nhòm qua thiếu nữ cười.
Muốn gửi tình riêng vào tiếng nói.
Mười năm chàng vẫn giữ trắng trong.

Từ đó người nhà họ Thủy thường nói với nhau rằng, đã mời được người thầy chẳng khác gì trinh nữ. Thủy Viên Ngoại rất quý mến Lai Sinh, vì anh là người có trí mà thành thực, định gã con gái cho anh. Lai Sinh từ chối:
– Tôi đi học nhưng vẫn chưa tiến được là bao. Đợi khi nào . công thành danh toại, lúc đó nói đến việc xây dựng gia đình cũng chưa muộn.
Từ đó việc hôn nhân đành gác lại. Một hôm Lai Sinh cho học trò nghỉ, vào thành thăm bạn bè. Khi trở về thì trời đã muộn, anh đi theo đường tắt cho gần. Đi được hai ba dặm, qua một ngôi miếu cổ, bỗng nghe thấy bên trong có tiếng đàn bà khóc. Lai Sinh nghi ngờ có sự chẳng lành liền đẩy cửa bước vào. Thấy hai hòa thượng to béo bắt một thiếu nữ lột trần truồng đè xuống đất. Lai Sinh giật mình hoảng sợ, chưa kịp nói gì thì một gã hòa thượng xông tới, cầm thiền trượng quát:
– Tự dưng dẫn xác tới đây, ta sẽ cho ngươi ăn đòn.
Lai Sinh thấy tình thế không địch nổi, vội vã quay ngoắt ra, song vướng bậu cửa suýt ngã, tụt mất chiếc giày đỏ ngay trước miếu. Ngoái lại, thấy lão hòa thượng đang đuổi sát nút, Lai Sinh chạy bán sống bán chết, ai ngờ đằng trước có một chiếc giếng cạn không có bờ bao, Lai Sinh hụt chân, lao người xuống. Hòa thượng đuổi tới, nhìn xuống thấy tối om, thọc thiền trượng khua, giếng sâu hun hút không thấy đáy. Hòa thượng nghĩ, chắc người ấy không thể nào lên được, quanh quẩn một lúc rồi lững thững kéo lê thiền trượng về miếu. Tới nơi, hắn thấy người đàn bà đã bị giết, nằm vật trong miếu, còn gã hòa thượng đồng bọn không biết đã bỏ chạy đi đâu. Đứng lặng giây lát, gã hòa thượng cũng trốn luôn. Đúng là:

Hành dâm, giết người cùng một lúc.
Hỡi ôi! Đầu trọc ác độc thay.
Bồ Tát thấy rồi lim dim mắt.
Kim Cương giận dữ mắt trợn trừng.

Người đàn bà ấy là Chu thị, vợ Ngưỡng A Nhuận bán rượu trong thành. Vợ chồng lục đục xô xát, chị tức giận bỏ về nhà mẹ đẻ. Nhà mẹ ở dưới quê, nên khi chạy qua ngôi miếu cổ, gặp hai tên hòa thượng. Thấy đi một mình, chúng tóm cổ lôi vào trong miếu cưỡng dâm. Lai Sinh bắt gặp, một gã truy đuổi Lai Sinh, còn tên kia ở lại miếu. Vì người đàn bà ấy kêu gào, sợ lại có người phát hiện, tên này dùng dao tùy thân đâm chết. Hắn không chờ đồng bọn, bỏ chạy thoát thân.
Thấy Chu thị bỏ đi, mấy người hàng xóm đến khuyên Ngưỡng A Nhuận rằng:
– Gần tối rồi, chị ấy còn ra khỏi thành, sợ rằng không đến kịp nhà mẹ đẻ, hơn nữa là đàn bà con gái, sao lại để chị ấy đi một mình. Anh hãy cùng chúng tôi đuổi theo khuyên chị ấy quay về.
Ngưỡng A Nhuận chưa nguôi giận, không chịu đi, song họ cứ lôi anh đuổi theo. Đi vòng qua ngôi miếu cổ, bỗng thấy một chiếc giày đỏ, mọi người nhặt lên xem, nói:
– Tại sao giày lại rơi ở đây nhỉ? Nhất định trong miếu có người.
Vào miếu, mọi người sợ dựng tóc gáy. Một người đàn bà trần truồng, mình đầy máu chết vật ở đó. Nhìn kĩ, hóa ra Chu thị vợ Ngưỡng A Nhuận. Trên cổ cô có vết dao đâm. Mọi người vô cùng kinh sợ. Ngưỡng A Nhuận chết lặng. Họ đoán rằng: “Đích thị kẻ giết người đã đánh rơi chiếc giày, chắc hắn chưa đi xa được, phải chia nhau đi các ngã đuổi gấp. Nếu thấy kẻ nào chỉ có một chiếc giày. Họ hò nhau chạy túa đi mọi ngả. Chưa đầy nửa dặm, bỗng láng máng tiếng rên rỉ kêu cứu quanh quẩn đâu đây. Mọi người dò theo thì thấy tiếng kêu vọng ra từ một chiếc giếng cạn trên bãi cỏ. Thấy lạ, họ bèn tháo dây lưng, xà cạp cuốn chân nối vào, giòng xuống giếng. Thấy người đến cứu, Lai Sinh vội bám chặt lấy đầu dây. Họ hò nhau kéo lên, quả nhiên thấy người ấy chỉ đi một chiếc giày đỏ. Mọi người lấy chiếc giày ra đối chiếu thì đúng là cùng một đôi. Tất cả đều nói:
– Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thoát được, trời đã bắt mày phải rơi xuống giếng này.
– Tôi có giết ai đâu? – Lai Sinh kinh sợ nói.
– Mày còn chối quanh ư? – Mọi người đều nói.
Họ lôi Lai Sinh đến miếu, chỉ vào người đàn bà chết, nói:
– Đây không phải là người mày giết ư?
Lai Sinh kêu oan, nói lại việc anh đã gặp hòa thượng, rồi bị đuổi rơi xuống giếng thế nào, nhưng họ nào có tin anh. Đúng là:
Dưới giếng lôi lên.
Chứng cớ rành rành.
Dù có thanh minh,
Chẳng ai tin được.  

Một mặt họ cho người gọi lý trưởng tới, giao trông coi thi thể mặt khác họ giải Lai Sinh lên huyện. Quan huyện thấy đây là trọng án, bèn sai Tuần bổ tới khám nghiệm tử thi. Ngày hôm sau quan huyện mở phiên tòa, cho dẫn phạm nhân vào xét hỏi. Quan huyện là Hồ Hồn, vốn là học trò của Thái Kính, rất tôn sùng Phật, thích ăn chay và bố thí. Trước tiên ông ta hỏi Ngưỡng A Nhuận và những người hàng xóm, rồi quát thét mắng Lai Sinh:
– Sao ngươi lại làm việc độc ác và xấu xa như thế?
Lai Sinh trình bày lại những điều mà chính anh đã nhìn thấy. Tri huyện nói:
– Ngươi đã nhìn thấy hòa thượng thì phải biết hòa thượng là người ở chùa nào chứ?
– Họ ở xa đến thì sao tôi biết được? – Lai Sinh nói.
– Các người đuổi theo, trên đường có gặp hai hòa thượng nào không? – Quan huyện hỏi mọi người.
Họ đều nói không gặp. Quan huyện lại chỉ vào mặt Lai Sinh mắng:
– Ta biết mày là loại người xấu xa, giữa đồng không mông quạnh gặp đàn bà nẩy sinh ý nghĩ bất lương, lôi vào miếu hành dâm. Vì người ấy chống cự nên mày đã giết đi. Lại sợ người khác biết nên hốt hoảng bỏ chạy, bởi thế mất giày, người thì rơi xuống giếng. Bây giờ lại còn xảo trá quanh co đổ tội cho người khác.
Lai Sinh gào lên kêu oan. Tri huyện nói:
– Thằng này cứng đầu cứng cổ, không đánh thì sao nó chịu cung khai.
Sau đó ông ta cho gọi tay chân đưa Lai Sinh tra tấn. Không chịu nổi Lai Sinh phải khai theo lời quan huyện. Quan huyện lập bản án, khép Lai Sinh vào tội chết, rồi tống giam. Một mặt ông cho khâm liệm, chôn cất thi thể người phụ nữ, cho Ngưỡng A Nhuận và những người láng giềng về.

Tin ấy đồn khắp nơi, Thủy Viên Ngoại nghe tin, nghĩ rằng: “Thầy Lai là người có chí mà thành thực, lẽ nào đi làm chuyện xấu xa ấy? Thật là oan cho thầy”. Rồi Thủy Viên Ngoại đích thân đến trại giam thăm hỏi. Lai Sinh khóc lóc kêu oan, Thủy Viên Ngoại phải an ủi mãi. Là người nghèo khó, nên Lai Sinh coi lớp học là nhà, tuy cũng có mấy người họ hàng, xong họ đối xử rất lạnh nhạt. Lai Sinh mắc tội, họ đều cho là tự mình làm mình chịu, chẳng người nào đến thăm. Chỉ có Thủy Viên Ngoại tin Lai Sinh là người tốt, luôn sai người mang cơm và bỏ tiền ra đút lót kêu oan cho anh. Bởi thế, ở trong ngục Lai Sinh cũng không đến nỗi quá khổ. Đúng là:
Trọng Ni biết người,
Hiểu được Công Dã.
Tuy đang bị trói,
Chẳng phải phạm nhân.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, chỉ thoáng một cái Lai Sinh ngồi tù đã ba năm. Quan tri huyện họ Hồ mãn hạn chuyển đi nơi khác, quan tri huyện mới chưa tới nhận chức. Khi ấy Phương Lạp đang nổi loạn ở Giang Nam, triều đình lệnh cho Trương Thúc Dạ làm Đại chiêu thảo, dẫn quân của Lương Sơn Bạc vừa đầu hàng, tiến đánh Phương Lạp. Phương Lạp bỏ Giang Nam, mang tàn quân chạy đến Triết Giang, đi qua huyện Đồng Hương. Vì tri huyện chưa có, lợi dụng lúc thiếu người cai trị, quan lại và những người coi tù đều bỏ chạy, cửa nhà tù mở toang. Những tội phạm lợi dụng sự hỗn loạn, thừa cơ chạy trốn, nhà tù trống rỗng. Mọi người bỏ trốn, nhưng Lai Sinh vẫn ngồi lì trong ngục không chạy. Sợ quan quân truy kích, binh mã của Phương Lạp không dám dừng, ngay đêm ấy chạy tới Hàng Châu. Trương Thúc Dạ dẫn quân đuổi theo, tới huyện Đồng Hương thì tạm dùng, vỗ về nhân dân, kiểm tra kho tàng, nhà ngục. Thấy phạm nhân trong ngục đều chạy trốn, chỉ còn duy nhất một người không chạy. Thấy lạ, Trương Thúc Dạ gọi đến trung quân hỏi:
– Bọn tù, nhân lúc loạn lạc bỏ trốn, tại sao chỉ còn mình ngươi không chạy?
– Tôi vốn là thư sinh, – Lai Sinh nói, – mắc tội oan. Quan trên sáng suốt liêm khiết thì sẽ có ngày được minh oan. Nếu nay nhân lúc loạn lạc mà bỏ chạy thì đó là kẻ nổi loạn, loại người ấy có khác gì giặc đâu. Cho nên dù chết tôi cũng không chạy.
Trương Chiêu Thảo nghe xong gật đầu nói:
– Nếu quan lại và dân chúng đều phụng sự việc công, giữ gìn luật pháp, lâm nạn không sống bừa bãi thì thiên hạ loạn sao được.
Sao đó ông hỏi rõ vì sao Lai Sinh phạm tội. Lai Sinh kể tỉ mỉ sự việc đã xẩy ra và mình bị đánh đập bức khai thế nào. Trương Chiêu Thảo lấy hồ sơ của Lai Sinh xem, nghĩ: “Quan xử kiện dạo ấy thật chẳng hiểu gì, nếu anh ta giết người, thì cớ gì để lại chiếc giày đỏ làm chứng. Nếu không có người đuổi thì sao anh ta lại không nhặt lấy giày rồi mới bỏ đi? Nếu không hốt hoảng, thì cớ gì lại rơi xuống giếng? Hơn nữa người đàn bà bị đâm, song vì sao lại không có hung khí? Việc này quả là oan uổng. Chỉ tiếc, chưa bắt được hai tên hòa thượng kia để xử tội. Song, nếu căn cứ vào hiện tại, loạn lạc nhưng anh ta không vì thế mà bỏ trốn, nhất định người ấy trước đây không phải là người xấu”. Rồi ông lấy bút xóa ngay bản án, tha cho Lai Sinh. Lai Sinh tạ ơn, nói:
– Tôi được pháp luật xử như thế mới dám ra khỏi nhà tù.
– Anh hãy thư thả một chút đã. – Trương Chiêu Thảo nói. – Tôi nghĩ anh là một nghĩa sĩ trung thần, không dám phản bội triều đình, hơn nữa anh là một thư sinh nhất định sẽ có chút hiểu biết. Ta vẫn muốn hỏi kĩ anh.

Trương Chiêu Thảo hỏi Lai Sinh những điều về quân cơ, chiến lược. Hỏi một Lai Sinh đáp mười, ứng đối trôi chảy. Trương Chiêu Thảo rất mừng, nói:
– Trong quân đang thiếu một người tham mưu, anh có thể đóng góp công sức cho đội quân của ta.

Nói xong, Trương Chiêu Thảo lệnh cho Lai Sinh cởi bỏ áo tù thay áo mũ triều đình, cùng anh bàn việc quân sự.
Đang lúc bàn luận, thì có người vào bẩm, đã bắt được mấy trăm phụ nữ mà bọn giặc bỏ lại, xin chờ xử lý. Thấy thế Lai Sinh bèn thưa:
– Những người đàn bà này đều là người dân quê, bị giặc bắt. Nay nên xếp họ vào những gian nhà còn bỏ trống, chờ gia thuộc họ đến đón về.
Trương Chiêu Thảo nghe theo, lệnh cho Lai Sinh tới điểm danh, ghi tên vào sổ sách, sắp xếp cho họ nghỉ ngơi, chờ gia đình đến đón. Lai Sinh vâng lệnh, đến lập danh sách những phụ nữ bị bắt. Ghi tên được hơn nửa số người thì thấy một người đúng sững nhìn Lai Sinh, hỏi:
– Có phải ông là thầy Lai không?
Lai Sinh ngạc nhiên hỏi:
– Chị là ai? Sao chị biết tôi?
– Tôi là Phong Nguyệt Di, – người ấy nói, – thiếp của Thủy Viên Ngoại.
Viên Ngoại và những người trong gia quyến hiện ở đâu? – Lai Sinh hỏi. – Sao chị gặp phải nông nỗi này?
– Viên Ngoại nghe thấy quân giặc tới gần, – Nguyệt Di nói, – dẫn thiếp và con cái tới lánh nạn tại am ni cô Lạc Hương, không ngờ giữa đường lạc nhau. Tôi không may bị giặc bắt, hiện Viên Ngoại và con cái sống ra sao thì tôi không biết. Lai Tiên sinh gặp rắc rối, giam cầm trong ngục, được làm quan từ bao giờ thế.
Lai Sinh kể cho Nguyệt Di nghe chuyện Trương Chiêu Thảo phóng thích và cho làm tham mưu. Rồi hỏi Thủy Viên Ngoại trốn ở am ni cô nào. Nguyệt Di nói:
– Ở am Thủy Nguyệt, cách nhà khoảng năm mươi dặm.
Lai Sinh sai quân mang danh thiếp của mình đến Thủy Nguyệt, mời Thủy Viên Ngoại tới gặp, đồng thời báo cho ông biết tin Nguyệt Di. Sau đó tìm phòng mời Nguyệt Di đến ở, chờ Thủy Viên Ngoại. Những người đàn bà còn lại đều sắp xếp nơi ăn chốn nghỉ chu đáo, đợi người nhà đến đón về.
Thủy Viên Ngoại đang rất lo buồn, không biết tin tức Nguyệt Di, bỗng thấy Lai Sinh sai người tới mời, lại biết Nguyệt Di vẫn bình yên, ông xiết đỗi vui mừng, bèn tới ngay quân doanh bái kiến. Lai Sinh cảm ơn ông đã quan tâm tới mình trong lúc ngồi tù, và kể lại việc mình được Trương Chiêu Thảo rộng lòng tha tội, nhận làm tham mưu, cho ghi tên những phụ nữ bị giặc bắt và gặp được Nguyệt Di. Thủy Viên Ngoại vô cùng biết ơn Lai Sinh, sau đó nhắc lại chuyện hôn nhân. Lai Sinh nói:
– Tôi đã chịu ơn ông nhiều, song chưa được đền đáp. Nay vẫn được ông thương yêu, tôi sẽ nguyện làm con rể ông. Hiện nay việc quân bận rộn, e rằng chưa được nghỉ ngơi để nghĩ đến việc xây dựng gia đình. Chờ tôi bẩm với chủ soái rồi sẽ thưa chuyện lại.
Thủy Viên Ngoại dẫn Nguyệt Di về. Ngày hôm sau Lai Sinh vào gặp Trương Chiêu Thảo, thừa lại với ông về tình thân thiết với Thủy Viên Ngoại trước đây và việc hôn nhân sắp tới. Trương Chiêu Thảo nói:
– Đây là việc vui mừng, ta sẽ hết sức giúp đỡ.
Trương Chiêu Thảo chọn ngày lành tháng tốt, đưa hai trăm lạng bạc, hai mươi tám lụa màu cho Lai Sinh làm sính lễ, hẹn ngày chiến thắng trở về, làm lễ thành hôn. Thủy Viên Ngoại rất đỗi vui mùng. Đúng là:
Lúc ấy đua nhau khen chàng rể,
Tù nhân chịu nhục chính là anh.
Nếu chẳng thân tình sao gặp được.
Duyên lành loan phương thật xứng đôi.
Sau khi đưa sính lễ, Lai Sinh lập tức theo Trương Chiêu Thảo dẫn quân ra trận. Lai Sinh khuyên Trương Chiêu Thảo soạn ra những điều cấm, không cho quân lính quấy nhiễu dân chúng. Từ đó những nơi đại binh đi qua, không xảy ra việc xâm phạm tài sản của dân, tới đâu, dân chúng cũng vui mừng chào đón. Ngay cả những hảo hán ở Lương Sơn Bạc đầu hàng, thấy kỷ luật nghiêm minh như thế càng kính phục. Lai Sinh lại hiến mật kế, khuyên Trương Chiêu Thảo chia quân mai phục, bắt sống được tên giặc đầu sỏ Phương Lạp. Phút chốc dẹp tan quân giặc chiến thắng về triều. Trương Chiêu Thảo tâu lên triều đình những công tích của Lai Sinh. Triều đình hạ lệnh thăng Trương Chiêu Thảo làm Xu mật viện Chánh sứ, tham mưu Lai Pháp được ban tiến sĩ, cất nhắc làm Giám sát Ngự sử Quảng Đông. Lai Ngự sử dâng biểu tạ ơn, xin về làm lễ cưới. Được triều đình cho phép, Lai Ngự sử cáo từ trường xu Mật lên ngựa về quê làm lễ thành hôn với Quan Cô, con gái Thủy Viên Ngoại. Khi ấy Lai Ngự sử đã hai mươi bốn tuổi. Quan Cô mười bảy tuổi. Đúng là:
Trước là thầy học, nay là rể yêu.
Ba năm ngồi tù, gặp bọn diều hâu cú vọ.
Một năm chinh chiến, trở thành rồng hổ oai hùng.
Trùng Nhĩ lấy Bá Cơ, vốn là Bồ Thành tội phạm,
Vân Vương cầu thục nữ, từng tại Dìu Lý ngồi tù.
Vinh nhục thăng trầm đắp đổi.
Cuộc đời sẽ lại bình yên.

Cưới nhau được tròn một tháng, Lai Ngự sử lên ngựa tới Quảng Đông nhậm chức. Thời ấy, ở huyện Long Môn, Quảng Đông xảy ra một vụ án oan, được Lai Sinh xét xử và được giải oan. Đây là một câu chuyện li kì, thú vị. Ngay cả nỗi oan uổng trước đây của Lai Sinh cũng được sáng tỏ.
Huyện Long Môn có một viên Tham tướng coi giữ địa phương tên là Cao Huân, nhận làm cháu họ của quan Thái úy Cao Cầu Thông Phổ. Cậy thế Cao Thái úy, Cao Huân cho dân vay với lãi suất cắt cổ. Nếu ai không biết vay vế, thì ông ta sẽ làm cho người ấy khuynh gia bại sản. Tăng Tiểu Tam, người huyện Long Môn, anh có một cửa hàng điểm tâm. Vì mẹ mắc bệnh chết đột ngột, không tiền chôn cất, không còn cách nào, Tăng Tiểu Tam đành tới Cao Tham tướng mượn mười lạng bạc lo ma chay cho mẹ. Qua một năm, lãi mẹ đẻ lãi con, cả vốn lẫn lãi tới ba mươi lạng. Nhiệm kì làm Tham tướng của Cao Huân đã hết, hắn cho người tới đòi Tăng Tiểu Tam phải trả cả vốn lẫn lãi ngay lập tức. Binh lính đến đòi nợ, anh cuống lên, không biết làm cách nào trả được. Anh nghĩ: “Ta vì mẹ đẻ mà vay nợ, nếu nay bán con cái đi trả cũng đáng, song chỉ tiếc mình không con”. Suy đi tính lại, an nghĩ ra một kế quả là vạn bất đắc dĩ, anh kéo những người lính tới nói nhỏ:
– Tôi nghèo lắm, ngay một lúc không trả hết được nợ, trong nhà chẳng có gì đang giá để gán nợ, chỉ có một người vợ là Thương thị xin để cho các ông dẫn đi.
– Chúng tôi chỉ cần tiền chứ không cần người. – Binh lính nói. – Mà một người đàn bà- làm gì mà bán tới ba mươi lạng bạc. Ta hoãn cho anh thêm hai ngày nữa, anh bán vợ đi rồi trả tiền ta.
Dứt lời họ bỏ đi. Tăng Tiểu Tam nghĩ: “Vợ mình sắc đẹp cũng bình thường, bán sẽ không nỗi ba mươi lạng. Trừ phi bán cho nhà chứa thì mới được, nhưng ta nỡ lòng nào làm như thế”. Chẳng còn cách nào, Tăng Tiểu Tam đành gạt nước mắt nói thực với vợ. Thương thị nghe xong chết lặng người, lát sau òa lên khóc nức nở. Tăng Tiểu Tam lòng đau như cắt, cũng gào lên khóc.
Tiếng khóc đã làm cho Thi Huệ Khanh, người hàng xóm động lòng. Thi Huệ Khanh làm nghề đóng giày, sống độc thân, không có vợ con. Nhờ chăm chỉ làm việc anh tích cóp được hai, ba mươi lạng bạc. Lúc ấy chùa Báo ứng ở ngoại thành đang quyên góp xây dựng chùa, một hòa thượng đã làm ngôi lều cỏ ở ngay xóm để khuyên giáo. Thi Huệ Khanh định đem số bạc tích góp lâu nay tiến cúng xây dựng chùa. Hôm ấy Thi Huệ Khanh mời hòa thượng Hóa Duyên đến nhà ăn chay, thì nghe thấy vợ chồng Tăng Tiểu Tam khóc lóc thảm thiết, bèn sang hỏi nguyên do. Biết được tình cảnh ấy, Thi Huệ Khanh hết sức thương tâm. Về nhà, khi hòa thượng đi khỏi, đóng cửa lại Thi Huệ Khanh nghĩ: “Nếu ta tiến cúng số tiền ấy cho chùa, thì chi bằng ta đưa cho Tăng Tiểu Tam trả nợ, để bảo toàn tính mệnh của họ, làm thế sẽ tốt hơn là ta tiến cúng số tiền ấy cho chùa”. Ý đã quyết, anh liền sang nhà Tăng Tiểu Tam nói:
– Anh chị đừng khóc nữa. Tôi đã góp được ba mươi lạng, nay không nỡ thấy anh chị lìa bỏ nhau. Anh chị hãy lấy số tiền của tôi mà trả nợ.
Thấy Huệ Khanh nói thế, Tăng Tiểu Tam lau nước mắt nói:
– Rất cảm ơn lòng tốt của anh, song đâu phải anh giàu có gì. Đây là số tiền lâu nay anh tốn bao công sức mới tích góp được tôi nỡ lòng nào một lúc tiêu hết của anh.
– Lòng thương người ai ai cũng có. – Thi Huệ Khanh nói. – Tôi với anh là hàng xóm với nhau, nhìn thấy thảm cảnh này, ai mà không thương xót. Tôi đã có lòng như thế, xin anh đừng từ chối nữa!
Tăng Tiểu Tam còn đang ngần ngại thì bọn lính đã xồng xộc đến hỏi nợ. Chúng quát thét ầm ĩ.
– Ông lớn không gia hạn nữa, hôm nay mày phải trả bằng hết. Nếu không thì bắt ngay tới cửa quan treo cổ.
Huệ Khanh chạy ra ngăn lại nói:
– Các ông đừng la hét nữa. Tôi sẽ cho anh ấy mượn để trả cho các ông là được chứ gì!
Nói xong, anh chạy ngay về nhà, mang đủ ba mươi lạng bạc giao cho bọn lính. Thấy bạc, chẳng kể đến tiền ấy ở đâu, nhận đủ là chúng kéo nhau đi thẳng. Tăng Tiểu Tam vô cùng cảm động, cúi xuống lạy, Thi Huệ Khanh vội vàng đỡ dậy.
Mấy hôm sau, Tăng Tiểu Tam với vợ, làm một mâm rượu mời Thi Huệ Khanh. Đúng hẹn Thi Huệ Khanh đến. Thấy trên bàn có ba chiếc chén, ba đôi đũa, Thi Huệ Khanh ngỡ là Tiểu Tam còn mời thêm ai. Lát sau, thấy Tăng Tiểu Tam dẫn vợ là Thương thị ra gặp Thi Huệ Khanh, cùng ngồi tiếp rượu. Thi Huệ Khanh nghi ngại, uống hai ba chén định đứng dậy, Tăng Tiểu Tam ngăn lại, rồi đúng lên đi vào trong. Rất lâu Huệ Khanh không thấy Tiểu Tam ra, còn Thương thị cứ ngồi nhìn Thi Huệ Khanh. Thấy lạ, Thi Huệ Khanh hỏi:
– Sao không thấy anh ấy ra uống rượu?
Thương thị cúi dầu không nói. Thi Huệ Khanh quay vào trong gọi:
– Anh Tiểu Tam, mau ra uống rượu. Tôi về đây.
Thương thị nước mắt giàn giụa nói với Thi Huệ Khanh:
– Anh ấy đã trốn ra lối cửa sau, không về nữa.
– Vì sao thế? – Thi Huệ Khanh kinh ngạc nói.
– Anh ấy bảo, anh rất nghèo, – Thương thị nói, – mà tự nhiên bỏ ra ngần ấy tiền. Chúng ta được anh cứu vớt, nay anh vẫn chưa có vợ, nên bảo tôi lấy anh. Anh ấy đã viết giấy để lại. Hôm nay mời anh sang uống rượu cốt giao tôi cho anh. Anh ấy đã cắt tóc, khoác áo lên Ngũ Đài Sơn tu hành rồi.

 

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 15 (B)

Nói xong nước mắt chị đầm đìa. Thi Huệ Khanh nghe xong, mặt tái mét, nói:
– Tôi vốn có ý tốt, sao anh chị lại nghĩ tôi như vậy? Lẽ nào tôi lại chiếm đoạt vợ anh ấy.
Nói xong, xô bàn đứng dậy bỏ đi. Về tới nhà anh nghĩ: “Không có lí gì mà Tăng Tiểu Tam lại bỏ đi như thế”. Rồi anh lại nghĩ: “Nếu quả nhiên anh đi mà không về ngay, ta ở sát vách thế này cũng không ổn. Thôi thì ta dọn đi nơi khác”. Hôm sau Thi Huệ Khanh tìm được nhà, rồi dọn đi. Những nhà lân cận đểu nói, Thi Huệ Khanh chỉ vờ thế thôi, chuyển xong chỗ ở thế nào cũng trở lại đón Thương thị. Hôm ấy không thấy Thương thị mở cửa đi đâu. Những người hàng xóm sinh nghi, đúng ngoài gọi không thấy trả lời, đẩy cửa vào thấy cửa khép hờ, chân quay cửa bị đào lên. Mọi người ùa vào xem, thấy Thương thị chết nằm co trên giường, vẫn còn vết tay bóp cổ. Tin Thương thị bị chết đồn ầm khắp làng, họ đều cho rằng: “Người đàn bà này chết đúng vào lúc người thợ giày sát vách dọn đi nơi khác. Vậy chỉ có anh ta giết chứ chẳng ai khác”. Lập tức đưa việc này lên quan xét xử. Quan huyện là Thẩm Bá Minh đang ngồi làm việc tại công đường, nghe thấy chuyện giết người, bèn cầm tờ trình xem, hỏi lũ những người đi tố cáo, sau đó ra lệnh bắt Thi Huệ Khanh ngay. Lát sau người ta giải Thi Huệ Khanh tới. Tri huyện quát hỏi, sự việc đã xảy ra thế nào, Thi Huệ Khanh đáp:
– Con trả nợ cho Tăng Tiểu Tam, Tăng Tiểu Tam gán vợ là Thương thị cho con. Nhưng con không muốn, nên phải chuyển đi nơi khác để tránh hiểm nghi. Con không biết vì sao Thương thị chết?
– Mày không muốn lấy vợ người ta, – quan huyện thét mắng, – tại sao mày lại trả nợ hộ? Rõ ràng mày giả vờ từ chối, rồi lén lút hành dâm, không được, mày đã giết người ta.
Thi Huệ Khanh gào lên kêu oan. Nhưng quan huyện nào có tin, sai người đánh đập Thi Huệ Khanh bức phải cung khai rồi tống Thi Huệ Khanh vào nhà lao. Đúng là:
Làm ơn lại nên oán,
Giúp người hóa chịu oan.
Trời ơi! Đâu có tội.
Oan này ai thấu cho.

Hôm ấy Tăng Tiểu Tam từ biệt vợ, đi lối cửa sau ra khỏi thành tới Ngũ Đài Sơn. Đi được hơn hai mươi dặm thì trời tối, Tăng Tiểu Tam dừng chân, nghỉ tại một quán trọ bên đường. Không ngờ đến nửa đêm thì lên con sốt, sáng hôm sau không cất mình ngồi dậy được. Tăng Tiểu Tam ốm liệt giường đến hơn nửa tháng trời mới khỏi. Hôm ấy đang lúc sửa soạn lên đường thì thấy có người trong thành ra, họ kể lại chuyện Thi Huệ Khanh. Tăng Tiểu Tam giật mình nghĩ bụng: “Thi Huệ Khanh không phải là kẻ giết người. Hơn nữa khi nhường vợ cho anh, mình cũng đã nói trước với Thương thị. Thương thị cũng đã nghe theo. Không biết vì sao Thương thị lại bị giết. Thật là oan cho anh quá. Ta phải về xem sự thể thế nào, nếu không thì người tốt phải chịu oan”. Tăng Tiểu Tam quay trở về không rẽ qua nhà, mà đi thẳng vào thành tìm tới nhà tù, van nài người coi tù dẫn Thi Huệ Khanh ra gặp. Tăng Tiểu Tam thấy Thi Huệ Khanh mặc quần áo tù, mình đầy xiềng xích, nước mắt ứa ra. Thi Huệ Khanh nói:
– Tôi bị oan là do số trời đã định. Anh đừng nói nữa, tôi biết, lần này chị ấy vô cớ bị hại, điều đó càng làm cho anh thêm đau khổ.
– Tôi đã làm cho anh phải liên lụy. – Tiểu Tam nói. – Tôi sẽ lên huyện minh oan cho anh.
– Án đã quyết, – Thi Huệ Khanh nói, – quan huyện đâu chịu nhận sai? Anh đừng tốn công kêu oan nữa.
– Nếu quan huyện không chịu làm ra nhẽ, ta sẽ lên ngài Lai sát Viện mới tới nhậm chức, bẩm lại việc này, nỗi oan sẽ được làm sáng tỏ.
Nói xong Tăng Tiểu Tam từ biệt Thi Huệ Khanh, nhờ người làm đơn, rồi tới ngăn ngựa Lai Ngự sử, kêu khóc dâng đơn.

Lai Ngự sử nhận đơn, sai tuần bổ giải Tăng Tiểu Tam về nha môn. Khi giải quyết xong việc công, ông cho Tăng Tiểu Tam tới hỏi tỉ mỉ sự việc đã xảy ra. Rồi ông sai người tới huyện lấy bản án Thi Huệ Khanh và cho gọi những người hàng xóm trước đây đã trình báo lên huyện. Ngày hôm sau, Lai Ngự sử trực tiếp hỏi cung, nghiên cứu tỉ mỉ lại một lần nữa, rồi ông hỏi những người láng giềng.
– Sau khi chồng Thương thị đi, có người nào đến nhà không?
– Bẩm quan, không thấy ai đến ạ. – Những người láng giềng nói.
– Hàng ngày có người thân thích nào hay đến không? – Lai Ngự sử hỏi Tiểu Tam.
– Thưa ngài, con nhà nghèo, có mấy người bạn thân, nhưng họ cũng không hay lui tới. – Tăng Tiểu Tam trả lời.
– Thường ngày anh hay đi lại với ai? – Lai Ngự sử hỏi Thi Huệ Khanh.
– Con sống độc thân, không quan hệ với ai. – Thi Huệ Khanh trả lời.
– Trong mấy ngày, từ khi trả nợ giúp, uống rượu, rồi dọn đi nơi khác, có đi lại với ai không ? – Lai Ngự sử hỏi.
Thi Huệ Khanh nghĩ một lát rồi nói:
– Hôm trả nợ, con có mời hòa thượng Hóa Duyên đến nhà con ăn bữa cơm chay.
– Người ấy là hòa thượng chùa nào? – Lai Ngự sử hỏi.
– Đó là hòa thượng của chùa Bảo ứng ngoại thành, – Thi Huệ Khanh nói, – tới khuyên giáo xây chùa. Hòa thượng làm chiếc liều nhỏ ở ngay xóm con để đi khuyên giáo. Lúc đầu con định tiến cúng ba mươi lạng đó xây chùa, cho nên con đã mời hòa thượng đến ăn chay. Sau đó vì trả nợ cho Tăng Tiểu Tam, con không tiến cúng vào chùa nữa.
– Hòa thượng hiện còn ở đấy không? – Lai Ngự sử hỏi.
– Thưa ngài, hòa thượng đi rồi. – Những người láng giềng trả lời.
– Đi bao giờ? – Lai Ngự sử hỏi.
– Bẩm ngài, đi đúng vào ngày Thi Huệ Khanh dọn nhà. – Những người láng giềng trả lời.
Lai Ngự sử trầm ngâm hồi lâu, rồi nói với mọi người rằng:
– Vụ án này khó mà sáng tỏ ngay được, hãy chờ đến hôm khác xét xử tiếp
Nói xong cho mọi người trở về, Tăng Tiểu Tam chờ xét sau. Từ đó, Lai Ngự sử không nhắc tới vụ án nữa. Để bẵng đi tới hai tháng trời.
Một hôm Lai Ngự sử bỏ ra một trăm lạng bạc cho chùa Bảo Ứng thết đãi các nhà sư. Hôm sau lại đích thân tới chùa dâng hương. Nhà sư trụ trì nghe tin Ngự sử đích thân tới chùa, bèn tụ tập các sư ra nghênh tiếp. Lai Ngự sử xuống kiệu vào chùa lễ Phật. Đi quanh chùa một lượt, Ngự sử hỏi:
– Xây dựng xong ngôi chùa mất khoảng bao nhiêu?
– Phải mất hai ba ngàn lạng. – Nhà sư trụ trì nói.
– Muốn chùa sửa sang hoàn thành, phải hoàn toàn dựa vào sự quyên góp sao? – Lai Ngự sử nói.
Nhân đó Lai Ngự sử hỏi đã cử bao nhiêu hòa thượng đi quyên góp. Nhà sư trụ trì nói:
– Có mười người, được chia đi các nơi.
– Thế mười hòa thượng ấy hôm nay có ở chùa không – Lai Ngự sử hỏi.
– Hôm nay ngài tới chùa đãi cơm chay, họ đều ở chùa cả. – Hòa thượng trụ trì nói.

Lai Ngự sử bảo những người giúp việc rằng, ngoài cơm chay bình thường ra, dọn thêm mười mâm cỗ chay, khoản đãi mười hòa thượng đi quyên góp. Một mặt bảo sư trụ trì gọi từng người tới trình sổ quyên góp cho ông xem, để sau này bản viện tiện tiến cúng. Sư trụ trì tuân lệnh, lập tức gọi mười hòa thượng lại. Song chỉ gọi được chín người, còn một người tìm mãi vẫn không thấy. Lai Ngự sử nghiêm mặt nói:
– Ta có thiện chí mời tới ăn chay, tại sao lại trốn biệt không chịu ra gặp ta?
Rồi ông quát sai dịch tìm tất cả các phòng, song sao mà tìm thấy được? Thấy Lai Ngự sử quát tháo bắt đi tìm, hòa thượng ấy càng trốn kĩ. Sư trụ trì vội vàng tìm khắp nơi, rồi đi thẳng tới gian bếp cất giữ hương cũ, thấy hòa thượng chui vào chiếc lò hóa vàng hương. Sư trụ trì và các sai dịch lôi ra, giải đến trước Lai Ngự sử. Thấy mặt mũi, chân tay nhem nhuốc như một vị La Hán đúc bằng sắt. Lai Ngự sử gọi người mang nước đến cho hắn rửa mặt. Lại cho gọi Tăng Tiểu Tam và những người hàng xóm của anh đến, hỏi:
– Có phải đây là hòa thượng đã đến xóm các anh dựng lều để đi quyên góp không?
– Đúng là ông ấy. – Mọi người trả lời.
Lai Ngự sử chỉ vào mặt gã hòa thượng ấy quát:
– Ngươi đã hãm hại Thương thị, vợ của Tăng Tiểu Tam, giờ ngươi chạy đâu cho thoát.

Gã hòa thượng vẫn chối quanh. Lai Ngự sử cho giải các phạm nhân và gã hòa thượng về nha môn để thẩm vấn. Về tới nha môn. Lai Ngự sử mở phiên tòa xét xử giải hòa thượng Hóa Duyên tới, cho lính cùm kẹp. Đau quá không chịu nổi, hòa thượng đành phải khai:
– Con là Khứ Phi chùa Bảo Ứng. Vào tháng… con đã dựng lều tại xóm… để đi khuyên giáo. Biết được Thi Huệ Khanh người xóm ấy giúp Tăng Tiểu Tam trả nợ. Tiểu Tam gán Thương thị cho Huệ Khanh rồi bỏ đi. Huệ Khanh không muốn lấy Thương thị. Thương thị ở một mình, phạm tăng nẩy ra ý xấu. Vào tháng… đêm… đã thay quần áo đóng giả Thi Huệ Khanh, lén lút mở cửa vào nhà, lừa dối Thương thị để dâm ô. Bị Thương thị phát hiện kêu lên, phạm tăng sợ người ta biết, đã bóp chết Thương thị. Những điều con khai là đúng sự thực.
Lai Ngự sử ghi những lời cung khai tội lỗi, đánh ba mươi gậy, gông cổ, giam hòa thượng vào nhà lao tử tù. Cho gọi sư trụ trì tới mắng:
– Ngươi cho đồ đệ đi khuyên giáo, chúng lại làm những việc bất lương, phải chịu tội liên đới. Nay ta tha, phạt ngươi ba trăm lạng, đền cho Thi Huệ Khanh.
Sư trụ trì cúi đầu chịu phạt, Lai Ngự sử sai người dẫn Thi Huệ Khanh tới, đồng thời cho gọi tri huyện Thẩm Bá Minh. Viên tri huyện sợ hãi xin nhận tội. Lai Ngự sử quát:
– Ngươi đã xử oan, hãm hại người lương thiện, tội ác như thế làm quan sao được. Ngươi đáng phải chịu tội. Nay ta phạt ngươi năm trăm lạng bạc, đền cho Thi Huệ Khanh.
Sau đó Lai Ngự sử cho gọi Thi Huệ Khanh lại an ủi:
– Anh là một đấng trượng phu đáng được khen thưởng. Ta thưởng cho người tám trăm lạng bạc. Đây là phần thưởng nêu gương điều thiện.
Thi Huệ Khanh thưa:
– Con đã được ngài minh oan, cải tử hoàn sinh. Nay con xin xuất gia, không dám nhận tám trăm lạng tiền thưởng. Xin một nửa để xây dựng chùa, còn một nửa tặng cho Tăng Tiểu Tam, để anh thờ cúng người vợ đã mất, và lấy người vợ khác.
Tăng Tiểu Tam cúi lạy nói:
– Từ lâu con đã phát tâm tới Ngũ Đài Sơn tu hành, không muốn nhận bạc, số bạc này để lại xây dựng chùa.
Lai Ngự sử nghe xong trầm ngâm nới:
– Hai anh không nhận bạc, đều muốn xuất gia. Ta định sẽ giải quyết theo cách khác.
Thế rồi ông cho gọi tất cả hòa thượng tới, nói:
– Các người đều là lũ trọc đầu không có tấm lòng trong sáng lại muốn làm người tu hành. Phần lớn khi còn nhỏ, cha mẹ nghèo đói, không có nghề nghiệp gì truyền lại, bảo rằng mình gặp cơn đen vận túng phải cho con đi tu. Khi lớn lên dục vọng nảy sinh, làm những điều xấu xa. Hoặc có người nửa đường đứt gánh, hoặc do nghèo túng bức bách đi tu, hoặc vì phạm tội, không còn cách nào phải trốn vào cửa thiền. Rồi được khách thập phương cúng đốn, ăn no mặc ấm, từ đó nẩy sinh ý xấu. Đó gọi là: “Đói rét sinh trộm cướp, no ấm sinh dâm dục”. Nay ta cho các ngươi hoàn tục, nếu ai muốn, ta cho năm lạng bạc trở về quê quán làm dân lương thiện.
Quá nửa tăng lữ xin hoàn tục, những người đó được Lai Ngự sử cho bạc rồi thả ra. Lệnh cho Thi Huệ Khanh, Tăng Tiểu Tam tạm thời trụ trì chùa Bảo ứng, và Lai Ngự sử dặn họ rằng:
– Ta muốn mở đàn tràng cúng cô hồn ba ngày ba đêm tại bản tự, đến ngày đó sẽ cử hành lễ cắt tóc làm hòa thượng cho các ngươi. Việc này cần rất nhiều tăng lữ, song tăng lữ tại địa phương rất ít, có người lại chưa biết hành lễ, bởi thấy cần mời các nhà sư tiếng tăm ở các nơi về, thì mới làm tốt được việc này.
Nói xong Lai Ngự sử cho một số người đem bản yết thị dán khắp nơi, từ các cổng thành, đến các vùng thôn quê và chùa chiền. Bản yết thị như sau:
– Giám Sát Ngự sử Quảng Đông mời các tăng lữ về hành lễ để chấn hưng Phật giáo. Bản viện chọn ngày lập đàn tràng lớn tại chùa Bảo ứng. Song tăng nhân địa phương không đảm đương nổi việc nhà Phật. Vậy kính mời tăng nhân thập phương về bản tự lập đàn tràng ba ngày ba đêm, cúng các tướng sĩ trận vong, và các cô hồn bị hại ở khắp nơi. Nghĩ rằng các nhà sư đang vân du muôn nẻo, nhất định sẽ có những thánh tăng. Bởi thế mời các vị tới để cử hành khóa lễ trọng thể này” .

Khi công bố bản yết thị, các nơi truyền tin nhau. Những tăng lữ đang vân du, nghe tin đều lũ lượt về chùa Bảo ứng. Lai Ngự sử đột nhiên đến chùa tiếp kiến, lần lượt ghi danh sách quê quán, và chia về từng phòng yên nghỉ.
Bỗng thấy một hòa thượng:
Hai mắt tráo trừng.
Lông mày dựng ngược.
Hùng hùng hổ hổ học thói La Hán cưỡi rồng.
Hằm hằm độc ác như thể Thiền sư cưỡi hổ.
Chuỗi tràng hạt ở cổ như đốt xương người.
Gậy thiền trượng trên tay, như tắm máu tươi.
Đó chẳng phải là ai khác, hán chính là gã hòa thượng cách đây năm năm đã đuổi Lai Ngự sử rơi xuống giếng. Hắn không nhận ra Lai Ngự sử, nhưng Lai Ngự sử lại nhận ra hắn. Lai Ngự sử vờ nói:
– Đêm hôm qua ta nằm mơ thấy Quan âm Đại Sĩ, nói với ta rằng: “Ngày mai có một vị hòa thượng, tuy dáng vẻ dữ tợn, nhưng lại là một vị cao tăng đức hạnh”. Nay thấy đúng như lời báo mộng, thì đây nhất định là một hòa thượng tốt. Xin mời đến dinh dùng cơm chay.
Nói xong sai người dẫn hòa thượng đến nha môn. Sai dịch nói:
– Ở chốn nha môn không được mang thiền trượng vào.
Họ bảo hòa thượng để thiền trượng ở ngoài, rồi dẫn vào nhà Lai Ngự sử lập tức trở về nha môn. Vừa bước vào cổng, ông thét bọn tay chân trói hòa thượng lại. Hòa thượng vội kêu:
– Bần tăng vô tội.
– Ngươi vẫn còn nói là vô tội ư? – Lai Ngự sử quát.
– Ngươi còn nhớ cách đây năm năm, người đã đuổi một thư sinh rơi xuống giếng không?
Gã hòa thượng nhìn kĩ Lai Ngự sử, bỗng chết lặng đi, cứng họng không nói được. Lai Ngự sử nói:
– Tại sao hôm ấy ngươi giết người đàn bà? Hãy khai cho ra để khỏi phải tra tấn.
– Pháp danh của con là Đạo Hư. – Hòa thượng nói. – Năm ấy cùng với sư huynh là Đạo Vi đi qua ngôi miếu ở ngoài thành thuộc huyện Đồng Hương, ngẫu nhiên thấy một thiếu phụ, rồi nẩy ra ý xấu, bức người ấy vào miếu cưỡng dâm. Không ngờ ngài đi qua gặp được, bởi thế con đã cả gan đuổi ngài rơi xuống giếng. Khi về tới miếu, thấy người đàn bà ấy đã chết, còn sư huynh bỏ đi đâu không biết. Quả thật con đã đuổi ngài, nhưng kẻ giết người không phải là con.
– Hiện nay Đạo Vi ở đâu? – Lai Ngự sử hỏi.
– Con không biết hắn ta ở đâu? – Đạo Hư nói.
Lai Ngự sử trầm ngâm hồi lâu, rồi lấy danh sách những hòa thượng tới chùa Bảo ứng ra xem, thấy cách đó ba hôm Đạo Vi đã tới chùa. Lai Ngự sử lập tức sai người đến chùa bắt Đạo Vi. Quát hỏi:
– Sư đệ khai, cách đây năm năm ngươi đã giết người đàn bà tại ngôi miếu cổ. Ngươi hãy thành thật khai ngay.
– Con không bạn bè gì với Đạo Hư. – Đạo Vi nói. – Con và tiểu tăng hiềm khích, nên Đạo Hư đã hại con. Xin ngài soi xét.
– Rõ ràng ngươi đã giết người đàn bà ấy. – Đạo Hư nghiến răng nói. – Bây giờ người còn chối cãi quanh co.
Lai Ngự sử quát, cho người mang kẹp ra kẹp, hắn vẫn không khai. Lai Ngự sử nhìn kĩ, song không nhận được mặt Đạo Vi. Hôm ấy bị đuổi, quay lại nhìn mấy lần ông chỉ nhớ được mặt Đạo Hư, còn gã hòa thượng trong miếu thì không nhớ được. Lai Ngự sử thấy Đạo Vi không chịu cung khai, bèn kẹp, bắt Đạo Hư phải khai đúng sự thực. Đạo Hư chỉ một mực nói là Đạo Vi chứ không hề thay đổi lời khai. Lai Ngự sử nghĩ một lát rồi cho giam riêng mỗi người một nơi, hôm sau xét xử tiếp.
Đạo Vi bị giam riêng trong ngục, hắn nghĩ bụng: “Ngự sử đã nhận được mặt Đạo Hư, nên hắn không thể chối được. May mà ông ta không nhớ được mình. bây giờ cứ thối phăng, thì vẫn có thể thoát chết. Ngày mai xét xử dù cò kẹp hai ba chiếc kẹp, ta vẫn cố chịu đựng không khai, nhất định sẽ được tha”. Vào lúc canh ba, giữa đêm tối mịt mùng, Đạo Vi nghe thấy tiếng ma khóc văng vẳng từ xa, rồi sau cứ rõ dần. Đạo Vi tỉnh giấc lắng tai nghe, thấy tiếng nói khe khẽ bên tai: “Đạo Vi, mày giết chết tao, tao khổ lắm, lần này mày phải đền mệnh”. Đạo Vi chột dạ sợ quá, bất giác kêu thất thanh: “Có phải người là oan hồn người đàn bà không? Ta trong giây lát đã giết chết người, ta sai rồi, ngươi đừng tới đòi ta đền mệnh nữa, lần này thoát chết, ta sẽ làm nhiều việc tốt để siêu sinh tịnh độ cho ngươi”. Vừa nói xong, thấy đèn đuốc sáng rực, hai người lính mặc áo xanh ập tới, quát lớn:
– Trên trọc đầu! Mày đã tự khai ra rồi. Chúng tao không phải là ma quỷ, mà là người tâm phúc của quan Ngự sử, giả vờ khóc để thử lòng mày. Nay thì chân tướng của mày đã bại lộ. Mày không thể chối cãi được nữa.
Đạo Vi nghe xong sợ xanh mặt. Đúng là:
Đêm đen đuối lí,
Sáng quắc mắt thần.
Không một bóng người,
Chân tướng lộ ra.

Hai người lính lệ, trói chặt Đạo Vi, chờ tới sáng giải hắn lên bẩm quan. Lai Ngự sử cười nói:
– Hôm qua ta kẹp, ngươi không khai, đêm qua không kẹp thì tự ngươi khai ra. Nay còn nói gì nữa không.
Đạo Vi thấy không thể chối quanh được nữa, đành phải khai rõ sự thật. Ngự sử lấy khẩu cung rồi lại giam vào ngục. Đồng thời lệnh cho chùa Bảo Ứng ngay ngày hôm ấy lập đàn tràng. Sau đó đích thân đến chùa, cắt tóc cho Thi Huệ Khanh, Tăng Tiểu Tam, và đặt pháp danh cho hai người là Chân Thông, Chân Thiết. Sau đó mời hai người làm hòa thượng, chủ trì đại lễ lại lệnh cho sư các chùa đều phải tôn kính hai vị hòa thượng này. Chân Thông, Chân Thiết bẩm rằng:
– Hai chúng tôi chỉ biết niệm Phật, không biết tụng kinh, không chủ trì đại lễ được.
– Hai vị là bậc cao tăng chân chính có đức hạnh, – Lai Ngự sử nói, – chỉ niệm Phật cũng đủ để siêu sinh tịnh độ cho cô hồn.
Thế rồi mời hai vị bước lên đài ngồi, cất cao giọng niệm Phật. Còn các tăng lữ ở dưới tụng kinh, tấu nhạc họa theo, cứ thế ba ngày ba đêm, đại lễ xong. Lai Ngự sử cho làm ba chiếc quan tài lớn, dẫn Khứ Phi, Đạo Hư, Đạo Vi tới trước đàn tràng, đánh mỗi tên một trăm roi, rồi cho vào quan tài, chất củi xung quanh. Cả một biển người từ các ngã ùn ùn đổ về chùa đông nghịt. Đúng vào giờ Ngọ, Lai Ngự sử rút từ trong tay áo ra một tờ giấy, đưa cho Chân Thông, Chân Thiết, bảo họ tuyên đọc. Chân Thông, Chân Thiết cũng biết được ít chữ, mở ra xem thì đó là một bài kệ, bèn đồng thanh tuyên đọc:
“Những việc ba người này gây ra không thể nói hết được. nay ta giải oan cho các ngươi, giải oan cho các ngươi. Đốt hết gốc rễ tham lam xấu xa, thiêu hết mẩm dâm dục độc ác. Từ nay diệt tận gốc, không sinh ra kiếp ác độc nữa”.
Đọc xong Lai Ngự sử nổi lửa, ngọn lửa rần rật bốc cháy, phút chốc ba gã hòa thượng cháy thành tro. Đúng là:
Siêu thoát sư ngồi thiền.
Đốt chết hòa thượng sống.
Tất cả nhập niết bàn.
Cõi đời nợ xóa sạch.

Lai Ngự sử đã sai người đặt sẵn hai bài vị trên đàn tràng. Trên đó ghi: “Linh hồn Chu thị bị hại” và “Linh hồn Thương thị bị hại”. Trước hai bài vị bày hương nến và lễ vật. Thiêu sống xong ba hòa thượng, Lai Ngự sử mời Chân Thông, Chân Thiết đến trước linh sàng hai người đàn bà, cúng rồi hóa vàng. Lai Ngự sử lại rút trong tay áo ra một trang giấy đưa cho hai người tuyên đọc:
Thương người đã làm thân phụ nữ,
Chớ sao phải chịu chết thảm thương.
Nghiệp trước nghĩ rằng chưa xóa hết,
Cho nên đời này chịu diệt trừ.
Cô hồn mờ mịt nào yên được,
Báo oán nỗi oan bao giờ xong.
Nay ngươi siêu thoát khỏi kiếp sống,
Hãy về nơi cõi Phật Tây Phương.

Đọc xong, hóa vàng hương, bài vị. Đàn tràng kết thúc. Hôm sau Lai Ngự sử tập hợp tăng lữ các nơi lại, rồi cho hoàn tục. Nếu người nào không muốn, phải đến nơi chức trách lĩnh giấy chứng nhận sư. Nếu không có giấy, không được phép ra khỏi châu huyện. Người nào vi phạm coi như đạo tặc. Tuyên bố xong, các nhà sư khất đầu lạy tạ ra đi.
Quan huyện Đồng Hương, trước đây là Hồ Hồn, vì lầm lỗi nên bị giáng chức xuống làm huyện thừa huyện Long Môn. Tham tướng Quảng Đông trước đây là Cao Huân, dựa vào Cao Cầu nên vẫn trở lại nhậm chức như cũ, Lai Ngự sử cho gọi họ tới dinh quan, quát hỏi Hồ Hồn về tội đã xử oan sai vụ án người rơi xuống giếng. Hồ Hồn sợ quá cúi đầu nhận tội. Lai Ngự sử mắng chửi hồi lâu, rồi bắt hắn phải bỏ ra một ngàn lạng bạc trích ra hai trăm lạng cho Ngưỡng A Nhuận, số còn lại dùng để xây dựng chùa. Sau đó lại gọi Cao Huân, nói rằng hắn dung túng cho quân lính làm hại dân, ta phải tâu lên cấp trên. Can Huân hoảng sợ xin tha tội, và xin bỏ ra một ngàn lạng để xây dựng chùa. Lai Ngự sử nói:
– Ngươi vơ vét bóp nặn dân chúng để tiến cúng xây dựng ngọn tháp bảy tầng, thì có khác gì sơn máu mỡ người lên tháp. Nay hãy mang số bạc ấy cứu tế dân nghèo, và phạt ngươi thêm một ngàn lạng bạc nữa mua thóc lúa dự trữ, cứu tế dân khi gặp thiên tai.
Hai người ấy đều phải tuân lệnh. Lai Ngự sử lại lệnh cho tri huyện Thẩm Bá Minh, Hồ Hồn, Cao Huân đến chùa Bảo Ứng bái kiến Chân Thông, Chân Thiết, chọn ngày tốt tiễn họ lên Ngũ Đài Sơn. Lệnh cho sư các chùa đánh trống tấu nhạc đi trước. Tri huyện Thẩm Bá Minh, Huyện thừa Hồ Hồn và Tham tướng Cao Huân đi bộ tiễn chân Chân Thông, Chân Thiết ra khỏi thành, lại sai thư lại mang theo tiền lộ phí, trực tiếp tiễn đưa hai ông về Ngũ Đài Sơn. Đúng là:
Tìm hòa thượng chân chính.
Hãy nhìn vào dân lành.
Hai người làm hòa thượng.
Một vị làm quan to.

Thời ấy nhân dân Quảng Đông, ai ai cũng ngợi ca Lai Ngự sử là người sáng suốt. Ở triều đình, Trương Xu Mật nghe thấy tiếng tăm Lai Ngự sử lừng lẫy, dâng sớ đặc biệt tiến cử, được triều đình thăng làm Điện trung Thị Ngự sử. Lai Ngự sử vâng lệnh về triều, dân chúng sĩ phu Quảng Đông đứng chật đường tiễn chân. Lai Ngự sử về huyện Đồng Hương đón vợ và gia đình Thủy Ngoại Sinh tới kinh đô. Triều đình phong thưởng, cha mẹ vợ con cũng được phong tặng. Lai Ngự sử xin cho Thủy viên Ngoại làm quan, suốt đời được vinh thân phì gia. Về sau Lai ngự sử lại dạy dỗ con cái Thủy viên ngoại học hành đổ đạt, báo đền ơn tri kỉ xưa kia. Đúng là:
Trên đời nhất định được minh oan.
Ân đức có ngày sẽ báo đền.
Những người trí dũng và nhân ái.
Suốt đời vẫn giữ trọn hiếu trung.

Lai ngự sử cắt tóc cho hai hòa thượng đi tu là bảo vệ Phật; thiêu chết ba hòa thượng là bảo vệ Phật; cho những hòa thượng hoàn tục cũng là bảo vệ Phật. Thời ấy ai ai cũng nói đến phật, gặp sư là vái chào, như thế mới gọi thực tâm mến mộ đạo Phật. Nay chúng ta đọc truyện này, ai ai cũng vỗ tay khen ngợi!


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 290
  • 53
  • 5.406
  • 128
  • 6.031.008
  • 845.514