Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Trương Xương Bá Thương Người Nên Thoát Nạn – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Chương 5 (A)

Trương Xương Bá Thương Người Nên Thoát Nạn

Thơ rằng:
Tài mệnh gắn liền nhau,
Người xưa thường dạy thế.
Tử sinh, biết bao người liên lụy,
Mới tin rằng tiền tài như phân, đất mà thôi.
Nước uống cơm ăn tùy phận,
Nhà ở ba gian, giường tre một chiếc.
Việc chi phải lụy đến ngàn vàng.
Đáng buông tay, xin hãy buông tay,
Đừng cố bám mà thành oan nghiệt.

Bốn chữ tiền, tài, phân, đất trong bài từ thật là có ý nghĩa. Vì sao ngày nay người ta cứ chê câu nói ấy mà chỉ nói tới những hành vi của bọn phá gia chi tử? Hoàn toàn không biết câu nói này có thể làm người ta nên người. Vì sao vậy? Phải biết rằng cái nuôi người thứ nhất trong thiên hạ, chẳng gì bằng đất; cái nuôi vật thứ nhất trong thiên hạ chẳng gì bằng phân. Vậy thì phân và đất là gốc rễ của sinh sôi nẩy nở, là nguồn gốc của mệnh sống, nó quả là cái đáng quý trong trời đất. Nó được giải thích, cũng giống như cách giải thích của chữ tài là “nguồn gốc của sự nuôi dưỡng sinh mệnh”. Song một đằng là, công năng của nó cực lớn, dùng nó phải thật phù hợp. Chẳng hạn, thời tiết trồng mạch thì không trồng được lúa, nếu trồng lúa, không những không có lợi cho lúa mà lại còn có hại cho lúa mạch. Thời tiết trồng lúa thì không được trồng đậu, nếu trồng đậu, không những không có ích cho đậu, mà lại còn có hại cho lúa. Bởi vậy phải theo thời tiết mà cày cấy, thì tự nhiên thu lợi cả đôi đàng. Phân là cái rất có ích, nhưng có cái phù hợp với nước mà không phù hợp với phân, phù hợp với phân mà lại không phù hợp với nước. Nên ta phải xem thời tiết mà định liệu, không thể cứ khăng khăng theo ý riêng mình. Bởi thế cũng là dùng tiền tài, nhung dùng nó để đánh bạc chơi gái phè phỡn, dùng tiền của không đúng chỗ thì nhất định sẽ dẫn đến du đãng, hư hỏng, làm nhục tổ tông. Còn dùng tiền tài để cứu người, làm lợi cho vật thì đó là cái đáng dùng, như thế không những sẽ được tiếng là đạo đức, mà còn đem lại nhiều lợi ích khác, vừa được hưởng cuộc sống an nhàn, của cải lại sinh sôi nẩy nở. Những kẻ không biết cày cấy, mà dốc hết tiền của phung phí vào việc chơi bời, ta chẳng nói đến làm gì, song ngay cả nhũng kẻ keo kiệt không dám nhổ một chiếc lông chân để cứu người, thì cuối cùng cũng chẳng nên người. Vì sao vậy? Phàm là tiền của phải lưu thông trên đời, một người không thể vơ vét hết được. Nếu như nghĩ ra trăm phương ngàn kế, được một lại muốn mười, được mười lại muốn trăm, nhất định sẽ bị người đời oán hận, và sẽ có ngày thân bại danh liệt, tan cửa nát nhà. Thế mới biết câu tiền tài như phân đất nhằm dạy người ta phải biết chi tiêu, chẳng khác nào như phân đất sinh sôi phát triển vô cùng tận, đó chính là bí quyết xây dựng gia đình. Bởi thế không nói tiền tài như gạch đá, mà chỉ so sánh nó với phân đất. Người ngày nay không hiểu được ý nghĩa ấy, mà lại coi mấy chữ phá gia chi tử để chỉ kẻ hoang phí tài sản, đồng thời lại dùng ẩn ngữ ôm nỗi oan thiên cổ mà không sao rửa được để đả kích, thì quả thật đó là điều đáng tiếc. Câu chuyện dưới đây rất sát với câu châm ngôn, qua đây chúng ta phần nào chặn đứng được những việc xấu xa, tiêu diệt căn bệnh keo kiệt đến mức không muốn mất một chiếc lông chân để làm lợi cho thiên hạ. Câu chuyện rất có ích cho mỗi chúng ta.

Thời Vạn Lịch triều Minh, ở huyện Trường Châu, phủ Tô Châu, có một vị quan tên là Trương Quốc Thụy, tự là Xương Bá, vợ là Dư thị. Vốn là một gia đình Nho gia, song từ khi bỏ việc học hành, mở cửa hàng vải, cha Xương Bá trở thành phú ông, nổi tiếng giàu có. Đến đời Xương Bá, nối chí cha, Xương Bá còn giàu có gấp mấy cha, và vẫn giữ được danh hiệu phú ông.
Một hôm đang ngồi trong cửa hàng, Xương Bá thấy một người đi qua, rồi lại quay lại đứng trước cửa nhìn vơ vấn. Xương Bá đang định hỏi anh ta, thì thấy có người tới mua vải. Vì bận việc, nên ông không để ý tới nữa. Tối đến ông đóng cửa hàng, nghỉ ăn cơm, sau đó lại tính toán sổ sách, xong việc thì đã tới canh hai. Vừa cởi áo lên giường, còn đang nằm chưa ngủ, thì thấy ngoài cửa có tiếng động. Xương Bá định dậy xem sao, song nghĩ, người nhà đã ngủ, nếu dậy sẽ làm mọi người thức giấc, thật bất tiện. Hơn nữa cửa đã đóng cẩn thận, chắc chẳng việc gì, bởi thế ông cũng không để ý tới nữa. Song, tiếng động ngoài cửa vẫn cứ vọng vào. Xương Bá đành phải lặng lẽ ngồi dậy, rón rén nấp sau cánh cửa. Thấy trong bóng đêm, một người đi tới Xương Bá nhanh tay lôi lại, gọi người nhà dậy, châm đèn soi. Rất mừng thấy không mất gì, bên ngoài cũng không có ai. Người này đúng là người sáng nay đứng vơ vẩn trước cửa hàng. Lúc ấy người nhà định đánh song Xương Bá quát, ngăn lại nói:
– Đừng đánh, anh ta có lấy gì đâu!
Thấy thế, người ấy cho rằng ông chủ này là một người rất dễ dãi, bèn vội quỳ xuống nói:
– Con không còn gì để nuôi mẹ già, nên bất đắc dĩ phải làm việc này. Hơn nữa, đây là lần đầu, mong ông tha cho, lần sau con không dám đến quấy rầy ông nữa.
– Anh ạ, tôi cũng không muốn vất vả, – Xương Bá cười nói, – anh đã đến nhà tôi, sao lại về không. Không lấy được gì, thì tôi đãi anh một chén rượu cho ấm bụng.

Rồi ông gọi người nhà hâm một bình luôn mang ra, bày thêm hai đĩa thức nhắm, bảo anh ngồi xuống. Thấy chủ nhà đối xử như thế, anh không những xấu hổ, mà còn cuống lên nghĩ: “Thế này là thế nào? Nếu như thả mình ra thì ông quả là người rất tốt. Tại sao ông ấy lại cho mình uống rượu? Hay thấy mình không chịu được đòn, cho mình ăn rồi mới đánh”. Anh cứ lưỡng lự mãi mà không dám ăn. Xương Bá biết được anh nghĩ gì, bèn nói:
– Anh cứ yên tâm ăn thoải mái, tôi không phải là người ngấm ngầm thanh toán anh đâu. Nếu định làm như thế thì tại sao tôi không gây khó dễ cho anh, lại còn tốn rượu mời anh?
Người ấy thấy ông là người tốt thực nên không dám phụ lòng, tự rót rượu uống.
Thấy anh ta ăn uống thoải mái, Xương Bá vui vẻ hỏi:
– Anh tên gì? Ở đâu? Trông anh không phải là người xấu, sao không kiếm việc gì làm, mà lại đi làm cái trò phạm pháp này.
– Con tên là Chu Ân. – Anh ta vừa ăn vừa đáp. – Nhà nghèo túng, mẹ lại ốm đau không có tiền chạy chữa thuốc thang, nên con phải làm liều. Mong ông tha tội.
Thấy hoàn cảnh anh ta nghèo khó, Xương Bá rất thương, cho anh ba lạng bạc về làm vốn buôn bán kiếm lời nuôi mẹ.
Chu Ân chần chừ không dám nhận, nhưng Xương Bá cứ nhét tiền vào tay. Chu Ân không dám phụ lòng tốt của ông, cầm lấy tiền rồi cảm ơn rối rít. Về tới nhà anh ghé sát vào tai mẹ kể hết mọi chuyện, anh định lấy trộm rồi được Xương Bá cho uống rượu và cho tiền như thế nào. Bà mẹ nói:
– Rất may, anh đã gặp được người tốt, nên không bị giải lên quan. Ở công đường sẽ bị đánh đập, chửi mắng, và người ta lại còn đòi hỏi cái này cái khác thì anh biết dựa vào ai. Chẳng may xảy ra việc gì thì tôi cũng chết chứ chẳng phải anh. Lần sau đừng làm liều như thế.
Chu Ân nói:
– Đúng là con không còn cách nào khác nên mới làm thế, chứ đâu phải con thích làm loại người lưu manh. Từ nay về sau con nghe lời mẹ.
Được Xương Bá giúp đỡ, hai mẹ con đều rất vui. Họ chờ đến sáng, sắp xếp quang gánh, sắm lễ vật cúng thần tài. Khi cơm nước xong, không còn việc gì phải bận tâm, Chu Ân ra cửa đứng nhìn vơ vẩn. Bỗng trời tối sầm lại, rồi đổ mưa. Đúng lúc định đóng cửa vào thì thấy có người đến trước cửa nhà anh trú mưa. Thấy người ấy quần áo ướt đẫm, Chu Ân động lòng thương, trong tay đang sẵn có ít tiền vốn, anh nảy ra ý định cứu giúp người. Thế là anh mời người ấy vào nhà, nhóm lửa cho người ấy hong quần áo, rồi hỏi:
– Ông người ở đậu? Định đi đâu mà lại gặp mưa thế này?
– Tôi là học sinh, họ Lạc tên là Công Tế, ở phố Tư Môn. Sáng nay đang trên đường về thăm nhà, không ngờ lại gặp mưa, làm phiền ông quá.
Sau đó anh hỏi tên Chu Ân. Chu Ân nói họ tên mình và kể lại chuyện trước đây anh mở cửa hàng, vì bị kiện tụng mà trở thành nghèo túng. Rồi lại nói:
– Tôi đến Tư Môn xem bói, chọn ngày làm ăn. Thế thì ông ở đấy có biết xem bói không?
– Tôi là học trò, – Công Tế nói. – Chẳng giấu gì anh, trước đây tôi là người thường viết đơn kiện cho người ta. Những người trong nha môn đều quen biết. Nay tuổi đã cao, thấy rằng một tờ giấy mà đã làm cho nhiều người tan cửa nát nhà, hại biết bao nhân mệnh, đó không phải là trò tích đức. Đơn từ tôi viết khác hẳn với người khác, dựa vào việc của họ, tôi chỉ cần viết ba bốn dòng là đảm bảo thắng kiện. Nay mặc dù tôi đã đổi nghề, song vẫn nhiều người tìm đến. Tôi không thể từ chối, đành phải viết cho họ. Nửa năm sau tôi chọn được nghề xem ngày để sinh sống, rồi thề sẽ không làm nghề viết đơn kiện nữa.
Chu Ân nghe xong, thấy đây là một người hào kiệt trong làng bút mực, không dám coi thường. Dần dần thấy quý mến ông, muốn kết bạn với ông, để có chỗ dựa vững chắc sau này.
Lúc ấy trời vẫn còn mưa, Chu Ân nghĩ: “Đã định làm bạn với nhau, sẵn lộc cúng thần, sao không mời ông ta một chén cho ấm dạ, thế mới là tình người”. Rồi gọi Phù thị dọn rượu mời Công Tế. Thấy Chu Ân đối đãi với mình như tế, Công Tế hơi ngượng, nhưng vì đang đói, nên không từ chối. Hai người, một chủ một khách ngồi ăn, trời đã muộn, mưa đã ngớt, Công Tế đứng dậy xin cáo từ, nhưng lại nghĩ, trời vừa mưa, đường trơn rất khó đi, nên vẫn còn nấn ná. Chu Ân biết ý, nói:
– Đường trơn thế này đi sao được. Tôi cho ông mượn đôi guốc gỗ đi cho đỡ trơn.
– Cám ơn lòng tốt của anh, – Công Tế nói, – song đâu dám phiền anh đến thế.
– Sao lại nói thế. – Chu Ân nói. – Sau này chúng ta còn đi lại với nhau nhiều, chỉ mong ông đừng chê tôi nghèo là được rồi.
Công Tế nói nhún nhường mấy câu, rồi bảo Chu Ân rằng:
– Thôi thì phiền ông vậy.
Nhà không có guốc, Chu Ân sang hàng xóm mượn, rồi đưa cho Công Tế. Còn Chu Ân tìm một đôi đã hỏng để đi. Chu Ân vào nói với mẹ một câu, quay ra dặn dò Phù thị dọn dẹp bát đĩa, rồi ra tiễn chân Công Tế. Công Tế nói:
– Trời sắp tối rồi, anh không phải tiễn chân tôi.
– Nhân thể tôi đến chỗ anh để biết nhà, – Chu Ân nói, – đợi đến mai lại phải nói thêm nhũng lời khách sáo; hai là đôi guốc ấy tôi đi mượn, sợ rằng người ta cũng dùng, nên đến mang về trả họ.
– Thế thì phiền ông quá, – Công Tế nói, – biết lấy gì để tạ ơn ông đây?
– Thôi thì tùy ông, – Chu Ân nói, – tôi có “kiện” đâu.
Cả hai cùng cười, suốt dọc đường họ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Chẳng mất chốc đã tới nhà. Hai người đều lễ phép mời nhau ngồi. Lúc ấy trời vẫn còn sáng, Chu Ân thấy trong nhà bày biện rất sang trọng. Chỉ thấy:
Cửa sổ sơn son,
Tường vôi trắng xóa.
Trên tường,
treo bức tranh danh tiếng, chẳng mới chẳng cũ,
dán mấy bài thơ danh sĩ, nửa thực nửa hư.
Trên bàn,
mấy thiên rách nát, xem hết luật lệ triều Minh.
Vài cuốn sổ tàng, sao cả thông thư thất chính,
Bút lông thỏ nhọn, sắc bén tựa dao,
Màu mực mới nguyên, như sơn đặc sánh.

Chu Ân ngồi một lúc, uống xong chén trà, cầm guốc đứng dậy cáo từ. Vừa bước ra khỏi cửa, thấy tấm biển, bèn dừng lại nói:
– Tôi quên khuấy đi mất, không nhờ ông một việc.
– Quên việc gì, – Công Tế nói, – bây giờ nói cũng không muộn.
– Không giấu gì ông, – Chu Ân nói, – cuộc sống của tôi hiện nay thật khó khăn. Tôi định ngày mai đi buôn chút hàng lặt vặt không biết có tốt không, bởi thế muốn phiền ông xem giúp.
– Thế thì mời ông nán lại đây, – Công Tế nói, – tôi dở cuốn Thông thư ra xem là biết ngay.
Công Tế lấy cuốn lịch ra xem, rồi nói:
– Ngày mai không phải là ngày thượng cát, chờ hai, ba hôm nữa hãy đi. Ngày mười bảy là ngày rất tốt, đi đâu cũng có lợi.
Chu Ân được chỉ bảo, cảm ơn ra về.
Hai ngày trôi qua, chẳng có gì đáng nói. Ngày tốt đã đến, hôm đó, Chu Ân dậy sớm đun nước uống, sửa soạn quang gánh đi mua hàng. Khi đi, Chu Ân không quên dặn Phù thị đóng cửa. Lúc Chu Ân tất tưởi bước ra khỏi nhà thì trên trời trăng vẫn sáng. Vừa đi tới cửa nhà Xương Bá, ngẩng lên chợt nhìn thấy một người đang đứng dựa sát vào cửa nhà ông, Chu Ân chợt nghĩ: “Chắc đây là tên ăn trộm, trời vẫn chưa sáng, nên hắn vẫn còn lởn vởn ở đây”. Chu Ân lên tiếng quát hỏi, vẫn không thấy động tĩnh gì, anh đánh liều chạy tới tóm lấy người ấy bỗng người anh run lên, mồm cứng ra không nói được. Nguyên là:
Đầu lâu chạm sao, sờ vào như kéo ngói,
Gót chân, trên đống gạch duỗi ra vẫn chửa tới bùn.
Kinh hãi như bay khỏi đất bằng,
Chẳng khác nào đang đi tới mây xanh.
Vốn không là đạo sĩ sao biết vén mây cưỡi gió,
Chẳng phải là giai nhân sao biết chơi đu.
Đáng kinh, đáng sợ, muốn biết việc này sao lại thế?
Là quỷ, là người, sẽ rõ tại đoạn sau.

Khi Chu Ân lôi thì thấy người ấy xoay tròn, nhìn kỹ thì ra một người thắt cổ tự tử. Chu Ân sờ vào thấy người lạnh toát không biết chết từ bao giờ. Anh vô cùng kinh sợ, nghĩ: “Xương Bá là người tốt như thế, không biết có nỗi oan ức gì mà người ta lại đến tận nhà để hại ông”. Định báo cho Xương Bá biết, nhưng sợ gõ cửa làm kinh động xóm làng, muốn bỏ đi để tránh chuyện liên quan, song lại không nỡ. Chu Ân nghĩ: “Ông ấy đã cứu giúp mình, sao mình lại không cứu giúp ông ấy” Rồi lại nghĩ: “Chỉ có kéo xác chết này đi chỗ khác, thì ông mới tránh khỏi điều tiếng”. Nghĩ xong anh bèn đứng lên đống gạch, cởi xác chết ra, cũng chẳng cần biết anh ta thế nào, rồi cõng xác chết đi. Đi chừng nửa dặm tới một chiếc cầu, anh đặt chiếc xác xuống, cởi chiếc thừng trên cổ ra, buộc hòn đá vào xác chết, rồi nhẹ nhàng thả xuống nước. Sau đó quay trở lại bỏ gạch đá vào quang gánh đi. Có bài thơ làm chứng:
Mang nặng công ơn cứu đói nghèo,
Trộm tuy bắt được vẫn cho thêm.
Cứu người chẳng khác mình tự cứu,
Việc thiện trên đời thật khó thay.

 

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 5 (B)

Vốn là đối diện với nhà Xương Bá có một gã tên là Điêu Tinh, tự là Đức Phủ, chuyên thói bốc lửa bỏ tay không, lừa người lấy tiền của. Từ lâu thấy Xương Bá giàu có. Điêu Tinh muốn kiếm chác nhưng chưa tìm ra mưu kế. Đúng hôm Chu Ân tới nhà, Xương Bá cho gọi mọi người dậy. Bà lão giúp việc năm nay đã hơn bảy mươi tuổi cũng chạy ra. Không ngờ tuổi cao, vừa kinh sợ, lại gặp gió độc bị cảm lạnh, đầu đau, sốt cao, chỉ trong vài hôm đã qua đời. Vì không có người thân thích, Xương Bá đã mua quan tài nhập liệm. Nghĩ bà ở nhà ông đã lâu, lại là người hiền lành, chịu khó, không nỡ hỏa táng bà, ông đã đưa bà tới chỗ đất trống tại nghĩa địa tổ tiên, an táng bà tại đó. Ông mua sắm vàng hương cúng, báo đền công lao của bà. Biết được điều ấy, Điêu Tinh mừng thầm, ngấm ngầm tính kế kiếm tiền. Chỉ chờ có người đến tìm bà, thì mới đặt ra mưu kế kiếm lợi. Song nếu không có người tiên phong làm quân sư mà mình tự xông vào sẽ không thành. Đắn đo mãi mà chưa tìm được người đảm đương việc nặng nề này. Phải tìm một người bạn thân thiết để bàn bạc.
Vừa ra khỏi cửa, thấy anh hàng gà người nhà quê đi qua. Hắn gọi lại mua, mặc cả xong, hắn mang luôn gà vào trong Nhà. Nào ngờ, gà đã mang đi, mà tiền thì không trả. Chờ mãi không thấy tăm hơi người mua gà đâu, anh ta sốt ruột, đành vào đòi tiền. Gọi hai ba tiếng mới thấy người ra tiếp. Song tiền vẫn không trả, mà người mua cũng không ra. Cứ thoái thác rằng bận việc, bảo anh nán lại chờ một chút. Mãi tới lúc lên đèn, Điêu Tinh mới ra, luôn mồm xin lỗi. Hắn ta ân cần mời anh hàng gà ở lại, nói:
– Tôi chắc anh không phải là người trong thành. Anh quê ở đâu?
– Ở ngoài Lâu Môn. – Người ấy nói.
– Thế thì về nhà không kịp, – Điêu Tinh nói, – anh hãy ở đây sáng sớm mai về có được không?
– Sao lại thế? – Điêu Tinh nói. – Tôi đã làm lỡ anh, nếu như không giữ anh lại thì không đành lòng. Mà về không kịp, có phải thiệt cả đôi đằng không. Thế thì ở đây là tốt nhất.

Người ấy thấy hắn tha thiết, không dám phụ lòng, mà bây giờ về thì cũng đã muộn, bèn cảm ơn anh ta, yên tâm ở lại. Thấy anh ta chịu ở lại, Điêu Tinh mời vào phòng xép ngồi, gọi đứa ở thắp đèn, lấy tiền ra trả, nói:
– Tiền gà của anh đây, không thiếu một xu.
Người ấy dở ra xem, thấy đủ, bèn cất vào túi. Đang định hỏi mình ngủ chỗ nào thì thấy người nhà bưng cơm rượu ra, mâm cơm lại rất thịnh soạn. Điêu Tinh vừa tiếp rượu cho người ấy vừa nói chuyện dông dài:
– Anh tên gì nhỉ?
– Tôi là Ngu Tín Chi. – Người ấy đáp.
– Anh làm gì? – Điêu Tinh hỏi.
– Chỉ cấy năm sáu mẫu ruộng, – Tín Chi đáp, – ngoài ra chẳng làm gì khác. Nay tiền thuế gấp quá phải mang gà đi bán để nộp.
– Năm sáu mẫu ruộng cũng chẳng phải kho bạc cây tiền, sao chẳng đói khát! – Điêu Tinh nói. – Hôm nay có gà bán còn khá, ngày mai không có gà thì anh bán gì. Cuối cùng thấy nhà anh không có gà, thì quan lấy thóc chứ lấy gì nữa.
Tín Chi thấy anh ta nói thế rất buồn, im lặng không trả lời. Điêu Tinh nghĩ, bây giờ có thể dùng lợi để lay động anh ta, bèn nói:
– Anh không cần phải lo, hiện tôi có một món tiền cho anh. Anh có cần không?
Tín Chi cho rằng anh ta nói đùa, vừa cười vừa hỏi:
– Xin đa tạ tấm lòng tốt của tướng công, song cho tôi bao nhiêu?
– Tôi nói thực đấy, – Điêu Tinh nói, – chứ không phải đùa anh đâu. Đây là cái lộc mà chẳng tốn công phí sức, không phải anh lấy nó ở chỗ tôi, mà cũng phải xem anh có cơ duyên nhiều hay ít.
– Vô cùng cảm ơn tướng công đã hết lòng nâng đỡ. – Tín Chi nói. – Chỉ có điều tôi là người quê mùa cục mịch, chẳng làm được trò trống gì.
– Chẳng cần anh phải làm gì nặng nhọc, chỉ cần anh nói mấy câu là tiền sẽ đến tay. – Điêu Tinh nói.
Rồi Điêu Tinh thuật lại tỉ mỉ về cái chết của già Trương và vạch ra cho anh ta một số câu đối đáp. Điêu Tinh nói:
– Anh đến nhà họ Trương nhận là người thân thích của bà cụ, sau đó làm rùm beng lên, tôi sẽ nói thêm vào, nhất định sẽ kiếm được món hời, đấy chẳng phải là một món tiền kếch xù mà anh tha hồ tiêu ư?
Tín Chi nghe anh ta bàn dày bàn mỏng một hồi, lòng tham tự nhiên bùng lên, chẳng kịp tính toán chi li, anh ta mừng rỡ nghe theo.
Sáng hôm sau, theo Điêu Tinh chỉ bảo, Tín Chi sang nhà Xương Bá. Thấy anh tới, Xương Bá hỏi anh đến có việc gì. Tín Chi nói:
– Tôi có bà cô làm thuê ở đây, phải đi làm ăn xa, không đến thăm được. Hôm nay tôi đến thăm cô tôi.

Xương Bá thấy khả nghi, ông nghĩ: “Bà ấy ở nhà mình đã hơn hai mươi năm, chẳng hề thấy một người thân nào lai vãng tới. Nhưng sao vừa mới chết, đột nhiên lại có người tới nhận là thân thích, chẳng biết thật giả thế nào?”. Xương Bá nảy ra một kế, truy hỏi tỉ mỉ người ấy về tuổi tác bà cụ. Tín Chi ấp úng không nói được, và cảm thấy sượng sùng. Xương Bá thấy vậy đoán rằng đây là cách nói giở giọng, nên cũng chẳng chấp làm gì. Những người trong nhà, kẻ hỏi câu này, người hỏi câu khác làm Tín Chi không sao trả lời được. Tín Chi thấy đây là người không dễ gì lừa dối, liền bỏ đi. Anh ta nghĩ: “Mình không nghĩ kỹ, sao mình lại đi nghe những lời nói vu vơ, đến nỗi ê cả mặt. Tiền của bất nghĩa, vốn không phải là thứ mình dễ dàng chiếm đoạt được”. Anh cũng không quay lại nhà Điêu Tinh nữa, mà vội vã ra về. Ai ngờ Điêu Tinh đứng sẵn trước cửa nhà Xương Bá nghe ngóng tình hình, thấy Tín Chi đi qua bèn gọi lại, hỏi duyên do. Tín Chi đáp:
– Món bạc ấy không dễ gì lấy được. Chỉ vì việc ấy người ta đã té tát vào mặt, từ nay tôi cũng không đám đi lại phố này nữa.
– Họ nói gì mà ghê gớm vậy? – Điêu Tinh nói. – Anh hãy kể tỉ mỉ cho tôi nghe, tôi sẽ nghĩ cách cho anh.
Tín Chi cũng chẳng giấu giếm, kể lại tỉ mỉ nhũng lời họ truy hỏi. Điêu Tinh nói:
– Anh đần thật, người ta chỉ hỏi có mấy câu mà cũng sợ. thôi thì cũng không cần vội vàng gì, tôi còn có chuyện muốn bàn với anh.
Điêu Tinh kéo Tín Chi về nhà, không cho anh về. Tối đến vẫn mang rượu thịt ra, nhưng còn thịnh soạn hơn cả tối hôm trước. Tín Chi rất áy náy, cảm ơn Điêu Tinh mãi. Điêu Tinh nói:
– Có đáng gì đâu, lần này tôi quyết giúp anh để khỏi uổng công người bạn tương tri.
Hai người ăn uống hồi lâu, Điêu Tinh nói:
– Nhà Trương mắng anh một trận, hôm nay anh có nghĩ ra kế gì không?
– Đây là chuyện gây rối vô lý, sao có thể làm được, chỉ có đòi bừa thôi. – Tín Chi nói.
– Anh là loại người được nâng đít mà không trèo được cây. – Điêu Tinh cười nói. – Hiện ta có một kế rất hay, cứ làm theo chắc chắn sẽ được, song phải thận trọng.
– Việc ấy khó đến nỗi tướng công phải hao tâm tổn trí, – Tín Chi nói, – mà vẫn chưa tìm ra cách gì?
– Không còn cách nào khác, – Điêu Tinh nói, – đêm nay anh phải chết trước cửa nhà lão ta mới có thể được.
– Tướng công đừng đùa tôi! – Tín Chi kinh ngạc nói. – Tôi làm thế nào được?
– Không phải tôi đùa đâu. – Điêu Tinh nói. – Tôi nói thực đấy. Ấy là tôi bảo anh chết giả thôi, chứ không phải chết thật. Chết giả như thế nào? Hôm nay anh sẽ đến cửa nhà lão ta, làm ra vẻ mình treo cổ, ta sẽ chạy ra ngay, một mặt cởi cứu anh, một mặt gọi mọi người, thì nhất định lão ta phải thòi tiền ra cho anh. Chỉ cách ấy mới có thể được.
Đang lúc bốc hơi men, Tín Chi thấy thế nghĩ rằng Điêu Tinh nhất định sẽ là người đứng ra cứu anh, nên cũng chẳng đắn đo, xin Điêu Tinh một sợi thừng, đi một mạch tới nhà họ Trương.
Lúc ấy đã là canh ba, trăng vẫn còn sáng. Tín Chi tìm được một chỗ buộc thừng, thắt thòng lọng, trèo lên. Chỉ khoảng mươi mười lăm phút, đã đi chầu Diêm vương.
Thương thay, vợ con không từ biệt,
Hóa thành gió tham khóc suốt đêm.
Tuyền đài, từ nay thêm nỗi hận,
Bao giờ sống lại kiếp bán gà.

Lừa được Tín Chi, Điêu Tinh đứng thật xa theo dõi, sau đó đóng cửa đi vào, nói cho vợ là Thủy thị biết, việc đã xong, Thủy thị nói:
– Tốt thì tốt rồi, nhưng chỉ nghĩ ngợi về người bán gà.
– Đời nay, – Điêu Tinh nói, – nếu như thương người khác thì mình chẳng được lợi lộc gì. Lúc nào ta cũng nghĩ phải khoắng của nhà Xương Bá, không ngờ đến nay lại mượn tính mệnh của gã bán gà mới được toại nguyện. Nếu không có trời dung rủi, sao ta nghĩ ra diệu kế này. Ngay lúc ấy gã lại tính toán đến việc dọa nạt lừa dối, xếp đặt sẵn những lời nói để ngày mai thực thi kế moi tiền. Mọi việc sắp đặt xong, hắn mới cởi áo lên giường ngủ lấy sức ngày mai đối chọi với nhà họ Trương. Ai ngờ do quá mệt mỏi vì phải tính kế, hắn ngủ thiếp đi, trời sáng bảnh mắt mà hắn vẫn chưa dậy.
Thủy thị gọi, hắn choàng tỉnh lao ra cửa. Hắn tưởng rằng có người tiên phong, thì quân sư có thể ngồi chễm chệ nơi màn trướng. Ai ngờ ra thăm dò thấy vẫn im ắng, chẳng có động tĩnh gì. Cửa hàng nhà Xương Bá vẫn cứ đông đúc ồn ào. Ngay những nhà bên cạnh cũng chẳng thấy ai nói đến. Hắn thấy rất lạ lùng: “Tại sao lại không thấy tin tức gì? Thật là kỳ quái, hay nhà họ Trương phát hiện ra mà giấu đi. Chỉ có mình biết chuyện ấy nhưng khó mà hỏi người khác được”. Hắn hối tiếc và uất ức mà không dám lên tiếng, đến nỗi để tuột khỏi tay một món tiền kếch xù, mà lại còn lỗ mất hai bữa rượu. Từ đó lòng dạ Điêu Tinh không yên, tìm mọi cách thăm dò cho ra sự thực, lúc đó sẽ khoác thêm cho Xương Bá tội mang xác chết đi chôn. Mấy hôm sau vẫn không thấy động tĩnh, Điêu Tinh tuy nôn nóng, nhưng chẳng biết làm thế nào, chỉ một mình bồn chồn lo lắng mà thôi.
Từ ngày được Xương Bá tha và cho tiền, Chu Ân buôn bán lặt vặt cũng đủ chi dùng hàng ngày, không lúc nào anh quên ơn Xương Bá. Một hôm làm xong việc, trời vẫn còn sớm, Chu Ân muốn đến thăm Xương Bá. Một là, anh áy náy về việc xác chết, không biết sau khi thả xuống sông sẽ ra sao, và cũng muốn báo cho Xương Bá biết tin này. Đương nhiên không phải Chu Ân muốn kể công với Xương Bá, và cũng không đòi ông ấy phải đền ơn.

Vừa mới đi tới đầu cầu, thấy người ta đứng vòng trong vòng ngoài bàn tán. Chu Ân bước tới thấy một xác chết đầu oặt ra. Đúng là xác chết anh dìm xuống đêm trước, đã được vớt lên bờ. Lúc ấy bụng Chu Ân hơi run, chỉ sợ liên lụy đến mình, nhỡ ra bất chợt họ ghép mình vào tội tự ý di dời xác chết, kết hợp với tội ăn trộm thì chống sao nổi. Chu Ân tới nơi xem, càng kinh hãi. Chẳng phải ai khác mà đó chính là Ngu Tín Chi, người anh con bà cô. Cha Tín Chi là Ngu Bá Cần. Xưa kia ông tổ họ Ngu là một người giàu có trong làng. Đời Bá Cần do không biết kinh doanh, rồi lại phải đóng thuế má sai dịch, cửa nhà sa sút dần. Đến đời Tín Chi thì cửa nhà đã khốn đốn sa sút. Chu Ân thường hay đi lại với anh, từ khi hai nhà lâm vào cảnh túng quẫn hiu hắt, nên ít qua lại. Chu Ân thấy thế không sao cầm nổi nỗi thương tâm, tự nhiên gào lên khóc. Những người xem quanh đấy thấy anh là thân nhân của người chết, không thể không hỏi, người ấy tên gì, ở đâu.
Chu Ân chưa trả lời xong, thì thấy một người trong đám đông vội kéo tay anh, nói:
– Hãy đến nhà tôi, tôi sẽ bàn với anh.
Chu Ân quay đầu lại chỉ thấy:
Trán ngang ba ngấn, chau lại thành tên độc ác
Thao láo mắt tròn, nhắm nghiền thấy được mưu gian
Sợ mình nghèo, sinh lòng oán hận.
Lo người giàu, đòi phải chia đều.
Đất bằng gió mưa,
Trời xanh sấm sét.
Kế độc đã thành, chẳng kể làng xóm gần xa,
Đơn từ bịa đặt, đâu biết phủ quan liêm chính.
Thị phi điên đảo,
Thay trắng đổi đen.
Quả là miệng cười, giấu dao, nói năng ráo hoảnh,
Đúng là trong bụng có kiếm, óc tim toàn nghĩ giết người.

Chu Ân theo người ấy đến nhà, người ấy nói: “Tôi họ Điêu, tự là Đức Phủ. Năm nay, tới phiên tôi cai quản vùng này. Xác chết vừa vớt được, chưa tìm được người thân tới nhận, anh đến rất kịp thời, ta cần phải làm đơn trình báo phủ quan. Anh đã biết vì sao anh anh chết, nay anh nghĩ thế nào cứ nói, tôi sẽ thay anh làm việc này”.
– Hôm trước, người nhà anh ấy đến hỏi, – Chu Ân nói, – anh ấy đã đi năm sáu hôm mà không thấy về. Tôi cũng không để ý tới, song nào có ngờ đâu anh ấy chết ở đây.
– Anh anh bị người ta giết chết. – Điêu Tinh giả vờ kinh ngạc nói. – Tôi biết anh không hay biết chuyện này, song hung thủ chính là Trương Bá, người mở cửa hàng vải ngay đối diện nhà tôi. Lão ta cậy thế giàu có, không biết họ cãi nhau về chuyện gì mà chửi anh anh vô cùng tàn tệ. Nay bỗng nhiên anh anh chết, dù không phải bị chết do đánh, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng lão ta không thể trốn tránh được trách nhiệm.
– Xem ra không phải là chết đuối, – Điêu Tinh nói tiếp, – mà chết do thắt cổ. Theo tôi, anh phải đi cáo giác, nhất định lão ta phải lo chôn cất. Đây là tấm lòng của tôi khi gặp nỗi bất bình, nhưng việc đó cũng phải do anh định đoạt.

Nghĩ lại việc xảy ra hôm trước, Chu Ân thấy anh ta nói đúng. Song đã chịu ơn Xương Bá, Chu Ân không thể vong ơn bội nghĩa ngay được. Hơn nữa, về việc này, nhà họ Ngô không còn ai, thì anh phải đứng ra. Nếu chẳng may gặp Xương Bá, ông sẽ nói ra chuyện xấu xa của mình thì việc sẽ rắc rối to. Chu Ân do dự không quyết, đành trả lời lấp lửng rằng:
– Tôi không đứng tên được, phải tìm chị tôi để chị ấy đứng tên, thế mới thỏa đáng. Bây giờ đã muộn, ngày mai chúng ta bàn tiếp.
Điêu Tinh nghĩ: “Nếu được đàn bà đứng tên thì càng dễ bưng bít”. Rồi hắn nói với Chu Ân rằng:
– Anh nói có lí, sáng mai anh chị đến cả đây, ta sẽ nghĩ kế, ra tay trị lão ta trước. Nếu đến muộn thì lão Trương giở trò khó mà lật lại được. Chẳng may phủ quan biết, hỏi vì sao không khai báo, thì lúc ấy càng tốn công, lại khó xoay xở.
Trở về, Chu Ân nói hết mọi chuyện với mẹ là Khâu thị, rồi hỏi:
– Sự việc xảy ra như thế, mẹ nghĩ nên làm thế nào cho phải?
Nghe xong chuyện, Khâu thị khóc nói:
– Không ngờ anh Ngu lại chết khổ như thế? Nhưng con cũng không nên vội vàng, phải tìm ra sự thực. Tính mệnh nhà mình là nhờ vào họ Trương tha thứ. Nếu như đêm hôm ấy ông giải con lên quan trị tội, thì không phải một mình con, mà cả nhà đều chết đói. Hôm đó không những ông chỉ tha con, mà còn cho thêm vốn liếng làm ăn. Hiện nay mình sống được là nhờ ơn ông sao con không lo đền ơn đáp nghĩa, mà lại đứng ra kiện cáo. Làm thế lương tâm chúng ta không cho phép. Theo mẹ, một người tốt như thế thì không thể là kẻ giết người. Anh Ngu xưa nay cũng là một người yên phận, song lại tự nhiên liều lĩnh lừa dối người, chắc rằng có duyên cớ gì đây.
Nghe xong, Chu Ân mới hiểu ra. Anh vội tìm gặp Xương Bá. Anh cám ơn Xương Bá đã giúp đỡ mình, sau lại hỏi cặn kẽ về việc Tín Chi, Xương Bá không hề hay biết. Ông cho biết, có người đến nhà mình, nhưng không nói rõ họ tên, nên đã không cho anh ta một xu. Nghĩ một lát, chợt nhớ ra, ông nói:
– Đúng rồi, nhất định là người ấy.
Xương Bá thuật lại tỉ mỉ cho anh nghe chuyện Tín Chi đến nhà, nhận bà già là người thân, bị truy hỏi, anh ta ê mặt bỏ đi. Xương Bá nói:
– Thực ra hôm anh tới nhà tôi, bà già rất sợ, lại gặp gió, cảm lạnh bị chết. Bà ấy ở nhà tôi đã hơn hai mươi năm nay, không thấy một người thân thích nào đến thăm. Chẳng hiểu sao nay lại thấy có người đột ngột đến?
– Không biết anh tôi bị người nào xúi bẩy, – Chu Ân nói, mà lại liều lĩnh chết một cách vô ích như thế.
– Anh nói sao? – Xương Bá kinh ngạc nói.

Chu Ân kể lại việc mình thấy Tín Chi thắt cổ ở cửa nhà ông rồi mang chiếc xác ấy đi, nay Điêu Tinh lại xúi anh tố cáo ông giết người, anh không nghe. Xương Bá nghe xong, dựng tóc gáy không nói lên được, mãi sau ông nói:
– Một người xưa nay những hề quen biết, sao lại lừa dối để hại ông, cứ hư hư thực thực không sao hiểu nổi.
– Đời nay thật giả lẫn lộn, – Chu Ân nói, – đến khi tìm ra thật giả thì gia tài khánh kiệt. Tướng công đã giúp đỡ tôi thì đương nhiên tôi phải lo chu tất, việc này ông không phải bận tâm.
Xương Bá cảm ơn Chu Ân. Trên đường trở về, vừa đi Chu Ân vừa nghĩ: “Tín Chi có người thân thích nào làm công cho Xương Bá đâu. Vậy việc này chẳng liên quan gì đến nhà họ Trương. Tại sao Tín Chi không phân biệt thật giả, lại bị hắn lừa gạt, coi rẻ cả tính mệnh mình?”. Anh lại nghĩ tiếp: “Sự việc có thể là giả, nhưng cãi nhau, cuối cùng dẫn đến cái chết lại là thực. Thế thì chết tại cửa nhà Xương Bá cũng là giả ư? Tín Chi đã chết, Xương Bá chẳng qua hết lòng báo ơn mình, vậy thì việc lo ma chay cho anh ấy biết trông cậy vào đâu?”. Càng nghĩ, Chu Ân càng thấy thương tâm. Đi được nửa đường, anh nẩy ra ý định: “Mình không nghĩ ra cách gì, Lạc Công Tế là người hiểu biết, sao ta không đến bàn với ông ấy xem sao?”. Thế rồi anh đến nhà Công Tế.

Chương 5 (C)

Chu Ân tới nhà Công Tế thì nhà đã lên đèn. Chẳng cần khách sáo, Chu Ân kể lại tỉ mỉ cho Lạc Công Tế nghe về cái chết của Tín Chi, và những lời nói của Điêu Tinh, mong ông tìm ra cách giải quyết. Công Tế nói:
– Việc này đúng là do Điêu Tinh gây nên. Ngày mai phải cáo giác Điêu Tinh, thì lúc đó sẽ biết rõ mọi chuyện.
– Sao ông lại biết chắc chắn là do Điêu Tinh? – Chu Ân nói.
– Vớt thi thể từ dưới nước lên, – Lạc Công Tế nói, – trong lúc vội vã như thế, vì sao anh ta lại biết được chết là do thắt cổ, mà trong khi đó mọi người đều không biết. Căn cứ vào chi tiết ấy biết ngay đó là do Điêu Tinh lừa đảo.
Lúc đó Chu Ân mới hiểu ra, nói:
– Ông nói có lí, thế mà tôi không nghĩ ra. Nhưng ta phải tố cáo hắn thế nào?
– Tôi đã biết Điêu Tinh xưa nay là một thằng vô lại. – Lạc Tế Công nói. – Hắn chuyên lừa dối để hãm hại người lương thiện. Nay ta phải tố cáo hắn về tội xúi bẩy người khác giết người, hãm hại dân thường. Nếu đưa đơn kiện, nhất định hắn phải đền mệnh. Hãy nói cho tôi biết anh anh có con trai không, và vợ anh ấy họ gì?
– Anh ấy không có con, – Chu Ân nói, – vợ anh ấy họ Ngải.
– Ngày mai anh đưa chị ấy đến đây, – Công Tế nói, – tôi sẽ chỉ cho cách gặp quan. Tôi sẽ đi trước đưa đơn kiện, để hắn không kịp đề phòng, ấy mới là thượng sách.

Chu Ân nghe theo, rồi cáo từ ra về.
Hôm sau, Điêu Tinh chờ Chu Ân đến bàn việc hệ trọng, nhưng chờ mãi hắn không thấy Chu Ân đâu cả, hắn nghĩ: “Bọn này thật là ngu xuẩn, chúng không đến thì mình là người địa phương phải báo quan, xem Xương Bá có phải nhận tội không?”. Đang định viết đơn thì hắn thấy công sai(1) đến đòi. Điêu Tinh giật mình, không biết là chuyện gì, đến khi xem trát, thì lại chính là việc Tín Chi. Nguyên cáo là Ngải thị, người báo là Chu Ân. Điêu Tinh nhìn qua, tức giận nói với công sai rằng:
– Tôi không phải là hung thủ, không phải là phạm nhân, sao phủ quan lại cho đòi tới xét hỏi. Hắn cáo giác ta không biết có chủ ý gì đây.
(1) Công sai: người đưa giấy tờ ngày xưa.

– Chúng tôi chỉ là người theo lệnh quan đến tìm anh. – Công sai nói. – Anh là hung thủ hay không, chúng tôi không biết, anh đến quan mà biện bạch rõ trắng đen. Chúng tôi chỉ là người thừa hành công vụ. Hãy trả công chúng tôi mang giấy tới để chúng tôi uống rượu, sau này anh còn phải nhờ vả chúng tôi nhiều đấy.
– Khoản tiền này sẽ có người đưa, – Điêu Tinh nói, – tôi không thể trả thay dược. Ngày mai tôi tố cáo ra hung thủ, hắn là phú ông, lúc đó sẽ đưa cho các ông, thế có được không?
– Anh nói mới hay chứ, – công sai nói, – tên trong giấy là tên anh. Chúng tôi chẳng biết phú ông là ai. Nhận được lệnh là chúng tôi hộc tốc đi ngay không dám trái lệnh.
– Các ông đến đây là theo lệnh bắt người, – Điêu Tinh nói, – chứ không phải đến đòi tiền.
Công sai đùng đùng nổi giận, nói:
– Chúng tôi đã sai, anh đừng trách móc chúng tôi nữa. Thôi mời anh đi cho. Nếu đến quan xét xử, anh tố cáo ra hung thủ thì chúng tôi không dám đến cửa nhà anh nữa.
Công sai bắt hắn giải đi. Điêu Tinh cười nói:
– Nỗi oan đều có đầu mối, nợ phải có người trả. Đã biết kẻ nào phải đền mệnh đâu, đi thì đi sợ gì!
Điêu Tinh theo công sai lên huyện. Hắn xem giấy, biết ngày mai mới xét xử, định xin quay về viết đơn trình báo, nhưng công sai thấy anh ta không chịu đưa tiền, nên không cho hắn về bắt giam vào phòng ở của một người sai dịch: Vì sao mọi người lại ra sức giúp Chu Ân như thế? Điều ấy là do Công Tế căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài mà suy ra, lại là người quen biết hầu hết những người trong nha môn. Phàm là việc gì ông cũng hết sức chu đáo, chỗ nào cần tiền đút lót thì ông đưa, nên nói gì họ cũng nghe theo.

Đồng Vân Tiêu lúc đó là tri huyện Trường Châu, xuất thân từ khoa bảng. Là người thanh liêm chính trực, Đồng Vân Tiêu được người đời kính trọng. Các vụ kiện tụng ông xét xử đều rất công bằng, hợp tình hợp lí. Ngày hôm sau Đồng Vân Tiêu đưa vụ án ra xét xử. Ông cho gọi tất cả các phạm nhân có liên quan, đầu tiên là Ngải thị, ông hỏi:
– Sao ngươi biết chồng mình bị Điêu Tinh mưu hại? Thường ngày có thù oán gì nhau không?
– Chồng con là Ngu Tín Chi, – Ngải thị nói, – vì thiếu tiền thuế nên đã phải đi bán gà lấy tiền nộp thuế. Đến nay đã hơn hai mươi ngày mà không thấy về. Hôm kia Chu Ân báo rằng Điêu Tinh mưu hại. Con là đàn bà gặp phải tai họa, nên đã làm đơn trình lên quan xét xử. Quả thực thường ngày chúng con không thù hận gì nhau.
Quan huyện bảo chị quỳ xuống một bên, rồi gọi Chu Ân ra, quát hỏi:
– Ngươi căn cứ vào đâu để biết người ta mưu hại? Đã biết mưu hại sao khi ấy không lập tức báo quan, mãi cho đến hôm nay mới đưa đơn kiện? Ngươi đã lừa dối quan, vu tội cho người khác.
– Con và Điêu Tinh không hề quen biết nhau, – Chu Ân nói, – cớ gì con lại vu cho anh ta. Hôm kia, ngẫu nhiên đi qua cầu con thấy một xác chết ngật đầu, vớt từ dưới nước lên. Nhìn kĩ thì đó lại là anh con. Lúc ấy ở đó rất đông người, không ai biết anh ấy chết là do treo cổ, thế mà chỉ có mình Điêu Tinh biết, và nói là người chết do treo cổ rồi bị vứt xuống sông. Vì thế mà con nghi cho anh ta.
Quan huyện lại bảo anh quỳ xuống một bên, rồi gọi Điêu Tinh hỏi:
– Vì sao lại mưu hại Ngu Tín Chi? Ngươi phải khai rõ sự thực.
– Bẩm quan lớn, – Điêu Tinh nói, – thật là oan cho con quá. Nếu con mưu giết anh ta để lấy của thì anh ta là người nghèo. Bảo giết anh ta để báo thù thì con và anh ta chẳng có hiềm khích gì nhau. Vậy thì vì sao tự dưng con lại giết người? Chỉ có một nguyên nhân, đó là, mấy hôm trước con thấy anh ta cãi nhau với Trương xương Bá, bị Xương Bá đánh đau. Con đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh ta không nghe. Bởi thế Tín Chi phẫn uất mà chết. Họ trách con là người cai quản địa phương, không cứu anh ta, nên đã vu cáo cho con.
– Sẩy chân mà chết đuối là việc thường tình. – Quan huyện nói. – Sao ngươi biết là anh ta thắt cổ?
– Con thấy có ngấn ở cổ anh ta. – Điêu Tinh nói. – Con biết đó là dấu vết thắt cổ.
Quan huyện lại viết lệnh bắt Xương Bá tới xét hỏi, đồng thời sai người nhà phạm nhân kiểm tra lại thi thể, gọi ngay vụ tác nhân(1) tới ngay cầu xem xác chết có thương tích gì không. Khám nghiệm tử thi xong, người ấy về báo rằng:
(l) Vụ tác nhân: người khám nghiệm tử thi.

– Không thấy có thương tích gì, chỉ có một vết ngấn ở cổ.
Lúc ấy quan huyện đã có phần nghi Điêu Tinh xúi bẩy, song cũng có phần nghi cho Xương Bá gây ra thù oán, vậy phải cho gọi Xương Bá đến thì mới có thể kết luận được. Đúng lúc ấy Xương Bá đến quỳ trước công đường. Quan huyện hỏi:
– Người là Xương Bá có phải không?
– Thưa ngài, con đúng là Xương Bá. – Xương Bá nói.
– Ngu Tín Chi cãi nhau với ngươi, – quan huyện hỏi, – bức hắn chết lúc nào? Hãy khai ngay.
– Con buôn bán làm ăn, cũng có chút ít của cải, – Xương Bá nói, – con cũng là người biết luật pháp, sao con lại bức hại người ta chết vô cớ?
– Hôm kia anh cãi nhau với anh ấy, – Điêu Tinh nói chen vào, thấy anh có tiền của, có thế lực, không thể địch nổi nên phẫn uất quá mà anh ấy thắt cổ chết. Con thực tình không dám lừa dối quan lớn.
Quan huyện quát Điêu Tinh không được lắm lời. Rồi hỏi Xương Bá:
– Vì sao mà anh ta lại cãi nhau với người ấy?
Xương Bá thuật lại việc sau khi bà giúp việc chết, nói rằng Tín Chi có đến nhà ông nhận là người thân của bà cụ nhưng khi hỏi quan hệ của anh ấy thế nào với bà cụ, thì anh ấy không trả lời được. Sau thấy ngượng quá Tín Chi bỏ đi. Nghe xong quan huyện lại hỏi Điêu Tinh:
– Khi họ cãi nhau, ngươi không ở đấy, sao lại nói là trông thấy?
– Dù không thấy, – Điêu Tinh nói, – song sự thực đúng là như thế.
– Ngươi là người địa phương, – quan huyện hỏi, – thấy anh ta chết phải báo quan ngay, tại sao ngươi lại chờ đến hôm nay có người kiện, anh mới cáo giác.
– Lẽ ra con phải báo ngay với quan, – Điêu Tinh nói, – nhưng Xương Bá đã giấu thi thể, con không biết tìm đâu. Không có chứng cứ thực, thì con không dám báo liều. Chỉ khi tự dời xác chết đi mới có tội danh.
– Nói bậy. – Quan huyện quát. – Ngươi nói người ta mang xác chết giấu đi, ngươi biết thì phải giữ lại, không cho phép mang đi chứ.
– Nó mang đi giấu, – Điêu Tinh nói, – thì con biết sao được.
– Mày là thằng gian manh, – quan huyện quát, – trước mặt quan huyện mày còn dám nói những lời xảo trá. Đã không biết sao lại đi vu cáo cho người?
Điêu Tinh ấp úng, không dám mở miệng. Quan huyện biết hắn gian dối, gọi lính hầu kẹp hắn lại. Hai lính hầu đang căm tức hắn không chịu đưa tiền, bèn kẹp hắn thật đau. Điêu Tinh tuy là một tên liều lĩnh, song chưa từng bị hình phạt bao giờ, không chịu được buộc phải khai hết sự thực từ khi gặp anh hàng gà. Lúc ấy quan huyện mới cho tháo kẹp, ghi hết lại lời khai của hắn. Quan huyện hỏi tiếp:
– Đúng thì đúng rồi, nhưng vì sao lại di dời thi thể ấy đi, có phải làm thế để ghép thêm tội di dời thi thể nữa không?
– Con làm thế, lúc đầu chẳng qua chỉ dựa vào đó để được mấy lạng bạc, chứ chẳng có thù hận gì mà đòi ông ấy phải đền mệnh. Đã làm người ta chết rồi thì sao lại chịu di dời đi, xin ngài xoi xét cho.
Quan huyện bèn gọi Xương Bá, hỏi:
– Đây là kế ngươi tránh tội, nếu không dùng hình phạt thì sao ngươi chịu khai ra.
Nói xong quan huyện sai lính hầu kẹp Xương Bá. Chu Ân thấy thế vội bẩm rằng:
– Đấy là do con không muốn làm hại người dân lương thiện.
– Vì sao lại do ngươi? – Quan huyện hỏi.
Chu Ân không dám giấu, nói hết việc xấu xa của mình cho quan huyện nghe, rồi anh lại kể việc Xương Bá cho tiền, và từ đó đã hối cải làm ăn. Anh làm thế để báo đền ân đức của ông. Lúc đầu vì không biết là anh mình, nên đã mang xác chết đi. Quan huyện thấy anh thật thà, khẳng khái nhận tội, nên không truy cứu chỉ trách anh qua loa để kết thúc vụ án. Trương Xương Bá tuy không truy bức đến nỗi làm cho Tín Chi phải chết, song vì ông là đầu mối gây họa, phải đền hai mươi lạng bạc cho Ngải thị mai táng và nuôi thân. Điêu Tinh lòng dạ xấu xa, lừa dối người vào chỗ chết phải tử hình chờ xử trảm. Quan huyện cho Ngải thị và Chu Ân trở về.

Lạc Công Tế đã đón họ ngoài cửa, gặp cả Xương Bá. Chu Ân nói:
– Đây là Lạc Tướng công, hiệu là Công Tế. Việc hôm nay nhờ ông chỉ bảo mới giải quyết được rõ ràng.
Ngải thị, Xương Bá vô cùng biết ơn. Mọi người ra về.
Còn Điêu Tinh bị giam, sau chết trong ngục. Vợ là Thủy thị đi lấy chồng. Thế mới biết lẽ trời sáng tỏ, không dung tha kẻ xấu xa. Có thơ rằng:
Vốn chỉ tham tài mà gian dối,
Ai ngờ thật giả lại đảo điên.
Mưu mô quỷ quyệt thành vô dụng,
Vợ sống cô đơn, tự giết mình.

Vụ kiện này khiến Chu Ân chịu thiệt. Xương Bá tuy mất hai ba chục lạng bạc, song không đến nỗi khổ sở vì nhà tan cửa nát. Ông vô cùng cảm động, chuẩn bị hai mâm rượu, mời Chu Ân và Lạc Công Tế đến khoản đãi, dốc hết bầu tâm sự. Rượu ngà ngà say, Xương Bá vội lấy từ trong tay áo ra ba mươi lạng bạc biếu Chu Ân. Ông nói:
– Anh cầm số bạc này về làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ cũng có thể sống được, không cần phải gánh hàng rong suốt ngày trên đường cho khổ.
Sau đó ông lại rút ra hai mươi lạng biếu Công Tế. Công Tế từ chối, nhưng cuối cùng cũng phải nhận. Chu Ân ra sức từ chối, nói:
– Vụ kiện này ông được minh oan, vì ông là người phúc đức nên trời phù hộ; hai là, quan phủ thanh liêm, lại được Lạc tướng công chỉ bảo, chứ tôi có công lao gì mà nhận thưởng!
– Cung kính không gì bằng theo lệnh. – Công Tế nói. – Các ông quen biết nhau từ lâu rồi, đây không phải báo đức hay là nhận, mà là hai người giúp nhau sống yên vui.
Thấy thế Chu Ân không dám chối từ, bèn thay áo ngồi vào ăn uống hết sức vui vẻ cởi mở.
Từ đó Chu Ân vẫn theo nghề buôn bán, và trở nên giàu có Công Tế vì đã giúp đỡ hai người, sau lại thông gia với Xương Bá, đời này đến đời khác vẫn quan hệ thân thiết. Cho tới nay tình thân ái càng thêm khăng khít mặn nồng.

Câu chuyện này luôn luôn khuyên người ta làm việc thiện. Nó giáo dục con người không nên tham lam tiền của. Ngay như Tín Chi, vừa mới nẩy lòng tham đã bị chết; Điêu Tinh vì sẵn có lòng tham, đến nỗi cửa nhà tan nát. Không những không lấy được của người khác, mà ngay của nhà mình cũng phải đội nón ra đi. Tiền bạc là cái tác oai tác quái, nếu các bạn khao khát nó thì các bạn hãy dập tắt ngay những ý nghĩ ấy đi, đừng quá coi trọng. Song không thể quá tham lam tiền tài, cũng không thể không yêu quý nó. Vì sao vậy? Nếu như khinh tiền của mà tiêu hoang phí, đến nỗi áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, cũng không phải là mĩ đức. Nếu một đồng cũng không tiêu, hai đồng cũng không hoang phí, tuy không gây nên họa làm nên tội song cuối cùng có tụ phải có tán, thì tội gì phải giữ tiền của mà không dám ăn. Loại người này gọi là loại người kiết xỉ chứ không phải là người quý tiền của. Được mười thì phải tiêu một, được trăm phải tiêu mười, ai ai cũng cảm kích và biết ơn. Mình không phí nhiều, mà người chịu ơn cũng không ít. Thế chẳng phải người ta thì lãng phí đến cùng cực, mà mình thì không phải là lãng phí. Như vậy mới gọi là biết yêu quý của cải. Giả thử lúc ấy Xương Bá tiếc ba lạng bạc, thì Chu Ân làm sao lại chịu bảo vệ ông. Chu Ân nếu không có ba lạng bạc làm sao khôi phục lại được nghề nghiệp. Tiền bạc quả là một thứ ma mãnh. Các bạn thân mến, nếu bạn tiêu tiền không đúng chỗ thì xin bạn hãy dừng lại, dùng cho đúng chỗ, đừng quá coi thường nó. Mấy lời tôi nói không nhũng khuyên cho đời tốt, mà còn là một cuốn sách khiến người ta trở nên giàu có.


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 7.609
  • 142
  • 11.913
  • 134
  • 7.749.864
  • 891.724