Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Kẻ Buôn Vải Minh Oan Cho Bạn – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Tập 1 – Chương 1 (A)

Kẻ Buôn Vải Minh Oan Cho Bạn
Tên Giết Người Vợ Khó Bao Che

Chỉ bởi hoa cười miệng mới cười.
Hoàng oanh thánh thót hót đôi hồi
Trên quầy sẵn rượu say vài chén
Thiên hạ núi sông thay dạo chơi.
Hãy mắt ra nhìn thế cuộc.
Giãi tấm lòng ta đón sự đời.
Lắng nghe câu chuyên còn tươi rói.
Khuây khoa lòng buồn cũng phải nguôi.

Tôi làm bừa mấy câu thơ, không phải khuyên người ta sống phóng đãng, nghe chuyện cười để sống qua ngày, mà khuyên người ta mở rộng tấm lòng, đừng gian ác, xảo trá. Không nên lúc nào cũng tất bật, vội vã, ngay bữa ăn cũng nhấp nha nhấp nhổm, đêm nằm nghĩ ngợi không yên giấc. Sao lại căng thẳng đến như thế? Vì họ không tin “tất cả là do mệnh, chỉ một chút do người”. Cho nên, cả đời lầm lỡ, đến khi sắp từ giã cõi đời mới biết là sai. Tôi với bạn đều là những người mắt sáng tai lành, ấy cũng là do đời trước tu nhân tích đúc. Nếu biết sống yên phận, giữ mình nghe theo lời người tốt, thì nhất định không đến nỗi đói rét. Còn một số người mù lòa tàn tật, đáng thương, phần lớn là do may rủi.
Chuyện kể rằng, thời Gia Tĩnh, thành Nam Kinh, có một người mù, ban ngày xem bói, ban đêm lại đi đánh bạc. Đã ở tuổi trung niên nhưng Dương Liễu Tiên vẫn là người chưa vợ. Anh ta thường ân hận rằng, kiếp trước do mình không tu nhân tích đức nên kiếp này phải chịu nỗi mù lòa. Anh không dám mơ tưởng tới cuộc sống giàu có, mà chỉ cam lòng sống dựa vào người cậu. Một hôm vào buổi tối, mấy người bạn kéo anh đến nhà đãi rượu, chơi tới mãi tận nửa đêm mới về. Đi được nửa chừng, ba người bạn rẽ sang lối khác, còn Liễu Tiên lọc cọc chống gậy lần đường về nhà. Anh nghĩ, hôm nay ăn quá no, đêm mình phải đánh một giấc cho đã mắt. Đang men theo đường về nhà bỗng nhiên vấp phải vật gì làm anh suýt ngã. Liễu Tiên cúi xuống sờ, thì đó là một chiếc bao. Anh ngồi lên bao đợi một lúc lâu, song vẫn không thấy tiếng người đi tới. Liễu Tiên mang chiếc bao ấy về nhà. Thằng nhỏ ra mở cửa, trời tối quáng mắt, nó chẳng nhìn thấy Liễu Tiên cầm gì. Đặt chiếc bao lên giường, Liễu Tiên cũng cởi áo đi ngủ luôn. Đến canh năm Liễu Tiên trở dậy lấy chiếc áo xanh bọc lấy bao, dùng dây buộc lại, rồi vội vàng mang ra khỏi nhà. Liễu Tiên rờ rẫm đi đến chỗ cũ, đặt bao xuống. Lúc ấy trời vẫn chưa sáng. Liễu Tiên ngồi lên chiếc bao không rời nửa bước.
Lát sau trời sáng dần, người qua lại mỗi lúc một đông. Liễu Tiên nghe thấy có tiếng kêu than: “Hôm qua, lúc chập choạng tối, tôi cùng đứa con trai mười tuổi tới đây thì trời tối mịt tôi muốn đi tiểu tiện nên bảo nó ngồi lên bao, khi nào cha đi xong thì mang bao cho cha. Ai ngờ khi đi xong tôi bảo nó: Bụng đói rồi, hãy mau mau tới cửa hàng ăn cơm . Tôi đi trước, nó đứng lên theo sau. Trời tối mịt, vì sợ lạc, nên nó vội bám theo tôi. Thấy nói đến cơm, bụng lại đói nên nó quên  khuấy mất bao. Tôi cũng lú lẫn chẳng nhắc nó một câu. Mãi đến khi tới cửa hàng ăn, mới biết nó để quên, thế là mất. Tôi đánh nó. Chủ nhà khuyên tôi: ‘Đường sá Nam Kinh người đi kẻ lại nườm nượp suốt ngày đêm, chẳng may mất rồi, đánh nó cũng chẳng tìm lại được. Hãy đợi đến sáng mai ra đường kêu, may ra có người nào nhặt được thì chia cho họ một nửa, hoặc nhờ trời gặp được người tốt thì chưa biết chừng họ sẽ trả lại hết cũng nên . Trong bao của tôi có mười bảy lạng bạc, ba tấm vừa lụa vừa vải và một gói đồ trang sức. Vì con gái sắp đi lấy chồng, tôi phải vào thành mua sắm cho nó. Đây là số tiền mới bán ruộng, nay mất sạch, lại cận ngày cưới, tôi biết làm sao bây giờ”. Rồi ông kêu khóc thảm thiết. Người đi đường, kẻ nói thế này, người nói thế khác cứ ầm ĩ cả lên. Dương Liễu Tiên ngồi trên chiếc bao nghe thấy hết, rồi khẽ nói với một người bên cạnh rằng:
– Anh bảo ông ta, hãy đến đây tôi đoán giúp. Tôi không lấy tiền đâu.
Người ấy vội chạy tới nói với Liễu Tiên rằng mình gặp nạn. Dương Liễu Tiên bảo mọi người lui ra, ghé vào tai người ấy nói mấy câu, rồi cầm chiếc bao đứng dậy. Người nhà quê kia theo ông về nhà. Liễu Tiên nói:
– Ông ạ, bao của ông ở trong này, vừa rồi tôi không tiện trả ông, sợ người ở đây nhìn thấy, nếu kẻ xấu hiếu sự, mở ra xem tất sẽ lấy cắp. Tuy tôi không cần trả ơn, nhưng những người ấy sẽ hạch sách, đòi trả công, rất phiền toái. Tôi có nhã ý bảo ông đến nhà trả lại, ông hãy để chiếc áo xanh lại cho tôi rồi mang bao về.
Người nhà quê ấy vội giở chiếc bao ra, thấy tất cả vẫn còn nguyên vẹn, cầm bao cười hể hả, nói:
– Quả là trời có mắt, nên tôi gặp được người tốt bụng, sau này biết lấy gì đền đáp.
Ông rối rít cảm ơn, rồi ra về.
Vẫn như mọi ngày, Liễu Tiên rửa mặt, khăn áo chỉnh tề, ra cửa hàng, ngồi trang nghiêm chờ khách tới xem bói. Liễu Tiên cần mẫn hành nghề, cuộc sống cũng tạm đủ. Một hôm có người ăn mày đến cửa hàng kêu với ông rằng:
– Ông ơi! Hãy nhón tay làm phúc, cho tôi đồng tiền bát gạo.
Liễu Tiên đưa cho người ăn mày ba đồng.
– Ông ơi! – Người ăn mày nói. – ông có biết, nếu thiên hạ có không thanh(1) thì chẳng còn ai mù nữa không?
– Làm gì mà có nhiều không thanh đến thế. – Liễu Tiên nói.
(1) Không thanh: tên khoáng vật, sản xuất tại hang núi ích Châu, nơi có mỏ đồng, giống quả dương mai mầu xanh, bên trong rỗng, chứa một loại dung dịch chữa mắt rất hiệu nghiệm.
– Đúng, đúng lắm! – Người ăn mày cười ha hả nói. – Ta nghe nói ông là người đức hạnh, hôm nay ta có ý định đến cứu ông hãy lại đây ta bảo.
Người ăn mày ghé sát vào tai Liễu Tiên nói mấy câu, rồi đưa cho ông một hạt không thanh và một bộ sách thuốc, nói:
– Tôi là Y Đầu Xù.
Rồi nhẹ nhàng cất bước ra đi.
Ngày hôm sau Liễu Tiên khăn áo chỉnh tề, hướng lên trời cao cầu khẩn, tra nước không thanh vào mắt. Như lột một lớp da, mắt tự nhiên bừng sáng. Liễu Tiên mù từ lúc lên ba, nay lại nhìn thấy, nói sao xiết, như một vị tiên, mang cuốn sách thuốc đi cứu giúp người đời…
Các bạn thân mến, trong thiên hạ, dù là người sáng hay mù, nếu làm ăn lương thiện thì pháp luật không bao giờ động đến. Song, có một tiên sinh mù thông minh, linh hoạt, có chí khí lại để tiếng xấu muôn đời, làm bia miệng thế gian, ai nghe thấy cũng phải rùng mình run sợ. Hắn ta người huyện Hải Ninh, phủ Hằng Châu, năm lên sáu tuổi bị đậu mùa, hai mắt mọc hai chiếc mụn, khi mụn khỏi thì hai mắt không còn nhìn thấy. Lúc nhỏ thường gọi là A Mỗ, sau học được nghề xem bói, rồi dọn đến thành Gia Hưng mở cửa hàng, đặt tên hiệu là Lý Tâm Sở. Tuy mù nhưng Lý Tâm Sở lại biết đánh bài mạt chược, cờ tướng. Khi chơi cờ, thường thì ai cũng phải chịu thua, nếu ai dám coi thường hắn, thì người đó quả là liều lĩnh. Lý Tâm Sở không những bắt người đó phải xin lỗi và bồi thường danh dự, mà còn đến tận nhà xé rách quần áo, cắn nát ngón tay. Về sau không ai dám chơi với hắn. Đến năm ba mươi tuổi, Lý Tâm Sở tích góp được hai ba chục lạng bạc, lấy một người góa chồng và nuôi thằng ở tên là A Long. Lý Tâm Sở là người xảo trá bạc ác, có vợ hắn như hổ mọc thêm cánh. Nhũng người láng giềng qua lại, hắn không cho phép bất cứ ai nói tới chữ “mù”, nếu ai đó lỡ mồm thì hắn chửi cho tàn tệ, đến những kẻ hàng tôm, cá cũng đành chịu thua. Vô phúc có ai cất gánh lên còn làu bàu chửi “lão mù độc ác” thì hắn đuổi theo đánh không tiếc tay. Những người qua đường thấy thế xúm lại khuyên can, nhưng khi thấy hắn xử sự như thế thì họ đều khinh bỉ bỏ đi. Cứ thế trong nhiều năm, sự độc ác của hắn không sao kể xiết. Đúng là, người không mù mà độc ác cũng có, song chưa thấy người nào mù mà độc ác như hắn.
Gã mù này đã gây ra cái chết oan khuất cho một người ở huyện Bình Hồ, tên là Ngụy Ngọc Phủ. Anh ta có vợ luôn ốm đau là Giang Thị và một đứa con trai lên bốn tuổi tên là Quan Thọ. Tuy là người buôn vải, song Ngọc Phủ cũng là kẻ chẳng ra gì. Một hôm mới canh năm anh ta đã trở dậy, đến phủ Gia Hưng kiện một người họ Trương là chủ hàng của anh ta để kiếm một món tiền. Hôm ấy cơm nước xong, trời vẫn còn tối, vừa bước ra cửa đã vấp ngã, nhưng anh ta không thấy đau, lồm cồm ngồi dậy, ra bến thuê thuyền đến huyện lị, trong lòng thắc thỏm lo sợ, không biết có lừa được người chủ này không. Tới huyện lị, anh ta mải miết đi. Từ xa có một tấm biển: “Lý Tâm Sở xem bói, biết được tiền vận, hậu vận”, bên cạnh có đề hai dòng chữ nhỏ: “Lòng thành xem họa phúc, phải thực sự báo đền”. Vừa tới cửa, anh ta sửa lại quần áo nhìn vào thấy:
Khói hương nghi ngút, nước thải tàn nhang.
Thần tượng oai nghiêm, dát vàng rục rỡ.
Mấy chiếc chõng tre, bút nghiên bày sẵn.
Giấy thơ mấy bút, đoán thật đúng thay.
Trên bài vị thờ Chu Văn, Khổng Tử.
Dưới bàn nước, ghi năm tháng ngày giờ.
Tiên sinh mù, ngồi trang nghiêm cung kính.
Tiếp đãi khách hàng, dáng bệ vệ oai nghiêm.

Cửa hàng Lý Tâm Sở, từ sáng sớm đã được quét dọn lau chùi sạch sẽ, chậu rửa tay đầy ắp nước trong. Trời thu mát mẻ, Tâm Sở mặc áo dài thâm mới cứng, đầu đội khăn vấn hình mỏ quạ. Hai mắt như hai con ốc nhồi lộn lên đảo xuống, vểnh tai nghe ngóng. Khách vào, hắn nịnh nọt một hồi, rồi mời khách xem bói. Nếu có người hỏi về bệnh tật, thì hắn bảo cúng bái các vì sao, lễ thổ thần, chiêng trống chập cheng, dặn dò thí chủ ầm ĩ một hồi. Ngẫm nghĩ trên trời dưới đất, tránh sao khỏi việc chẳng lành. Cổ nhân từng nói:
Dục vọng ở đời,
Khiến lòng rối loạn.
Người không có mắt,
Sáng sáng chiều chiều,
Tối đen như mực.
Mắt chẳng thấy gì.
Lòng nghĩ lung tung.
Ta chẳng lạ lùng.

Chỉ cần nghĩ một chút, ta thấy ngay Lý Tâm Sở là người không ngay thẳng, hắn nghĩ sao được điều đúng đắn. Xem bói xong lại đánh bạc, thì chẳng vị thần nào dám vào cửa nhà hắn.
Ngụy Ngọc Phủ bước vào, đứng như chôn chân trước cửa, đã vào thì không ra được, hắn nghĩ: “Nếu xem bói thì nên hỏi việc gì cho đúng với ý định của mình”. Rồi anh ta mạnh dạn bước vào nói:
– Xin nhờ tiên sinh xem cho một quẻ.
Ngọc Phủ rút ra một lá sớ, rì rầm khấn: “Họ Ngụy lòng thành dâng nhang đăng, kêu cầu một việc đó là: Vốn ta rất căm tức gã chủ họ X. nên hôm nay lên huyện kiện lão. Lão là người trung hậu nhưng vô dụng. Sau này, quan đòi gã tới xử, ta sẽ được rất nhiều tiền của. Xin thần cho một quẻ”. Ngụy Ngọc Phủ khấn xong rồi vái lạy, chuyển lá sớ cho Tâm Sở. Tâm Sở cầm lấy hỏi họ tên, khấn một hồi, lắc lắc ống thẻ rồi gieo quẻ ba lần, được quẻ Nội. Sau đó lại lắc, gieo một lần nữa mới xong đó chính là quẻ Trạch thủy khốn, rồi nói:
– Xin ông anh ngồi xuống để nghe tôi nói. Đây là quẻ Trạch thủy khốn. Có làm việc gì tốt không?
– Đòi chủ được nhiều tiền của, – Ngọc Phủ nói, – không biết có được không? Tiên sinh cứ nói thẳng.
– Quẻ này rất tốt. – Lý Tâm Sở nói. – Tên là quẻ Khốn, ngươi cầu tài không phải vất vả, ở nhà cũng có người đưa của đến. Vả lại hào thứ sáu động lung tung, ấy là điềm báo tiền của chảy vào nhà như nước. Hôm nay là ngày Trấn Huyền Vũ trông coi, giờ Thất Sát, Hoàng Phan canh giữ, lại có báo đuôi kéo thương, có rắn biết bay bày binh bố trận. Những loài đó sẽ đuổi hết tiền tài đến với ngài. Nhìn kĩ lại thấy sao Bắc Đẩu lấp đường, ngũ quỷ phá cầu, cóc nhái bò đầy đường. Những vị thần hung tợn nhỏ máu xin chúc mừng ngài tiền của đến như nước chảy.
Ngụy Ngọc Phủ là một kẻ tham tài lại ngu muội, sao biết được nghĩa lí trong Kinh Dịch. Nghe Lý Tâm Sở nói, Ngụy Ngọc Phủ cười tít mắt, tưởng mình đang ngồi trên đống của. Ngụy Ngọc Phủ rút ra một gói bạc, nhón lấy bảy tám đồng gói vào giấy đưa cho tiên sinh, gọi là chút thù lao, rồi cúi đầu đi ngay. Hắn ta nghĩ: “Nếu lần này thắng kiện, được bạc, ta sẽ tậu ruộng vườn, lợn, cừu và ba cô gái đẹp để nâng khăn sửa túi”.
Nhận được gói bạc của Ngụy Ngọc Phủ, Lý Tâm Sở sờ sờ nắn nắn, hắn sung sướng vứt ngay giấy cho tiền vào mồm nếm, biết là bạc tốt, hắn gọi ngay A Long tới bảo:
– A Long, mày hãy đuổi theo người vừa xem bói, bảo hắn quay lại ngay, tiên sinh còn có điều muốn nói thêm.
A Long, người tai mắt của Tâm Sở, kẻ ra người vào nó đều để ý. Thường là khi gặp phải bạc xấu hoặc giả cần phải đổi, nó đều đuổi theo như thế. Ngụy Ngọc Phủ vừa đi khỏi quán được mấy bước thì A Long túm áo, nói:
– Xin ngài quay lại, tiên sinh còn điều gì quan trọng muốn nói với ngài.
Thấy thế Ngọc Phủ vui mừng quay lại ngay. Lý Tâm Sở đã bàn trước với vợ. Quả là:
Không thực thi kế sâu vạn trượng
Sao bắt được rồng ngậm ngọc châu.

Ngụy Ngọc Phủ theo A Long quay lại, vừa tới cửa, Tâm Sở bước ra nói:
– Ngài Ngụy quay lại rồi đấy ư? Quẻ của ngài có mười hai phần tài lộc, tiểu đệ xin chúc mừng. Lần này gia đình ngài giàu có phát tài gấp bội. Đây là cuộc đổi đời, chẳng khác nào thay đổi xương cốt, thịt da. Tiểu đệ học được cách xem tướng, vì khách đông nên không dám xem, chỉ xem bói mà thôi. Nay gặp ngài, thuộc tướng giàu có nên tôi quyết định xem cho ngài thật kĩ. Ngài yên tâm, tôi không lấy tiền đâu, sau này giàu có, lúc đó ngài đến tạ ơn tôi là được.
Ngụy Ngọc Phủ đầu óc ngu tối, mê muội, tưởng mình sẽ thành ông chủ giàu có thật, đưa tay cho Tâm Sở xem. Tâm Sở nói:
– Nơi này người xem bói thường lui tới đông. Tôi sẽ tiếp ngài tại phòng nhỏ phía sau, ở đó tôi sẽ xem cho ông tỉ mỉ kĩ càng hơn.
A Long đã mở sẵn cửa ngách. Tâm Sở mời Ngọc Phủ đi trước rồi thong thả bước theo sau. Cũng lúc đó vợ hắn bảo A Long đóng cổng, hạ biển, chỉ để Ngụy Ngọc Phủ và Lý Tâm Sở ở phòng trong. Lão mù đứng, Ngọc Phủ ngồi, hai người quay mặt vào nhau. Tâm Sở nói:
– Phải sờ thì mới biết được.
Lý Tâm Sở vòng ra sau, sờ vào sống lưng, bên hông, thấy chiếc túi cồm cộm bên trong. Lý Tâm Sở lại sờ lên đầu và mặt, vừa sờ vừa nói, tốt, tốt lắm, rồi lại bảo Ngọc Phủ ngẩng đầu lên. Ngọc Phủ ngẩng đầu. Lý Tâm Sở sờ vào yết hầu, ngủi ngửi. Mùi hôi từ người Ngọc Phủ thộc vào mũi gã. Gã mù đột ngột cúi đầu ngoạm chặt lấy yết hầu Ngọc Phủ. Lão Ngụy đau quá không sao chịu nổi, giằng ra, vợ gã mù lẻn vào trói tay Ngụy Ngọc Phủ. Gã mù cắn vào yết hầu quá mạnh, ngập cả hàm răng như cắn vào đu đủ, đứt một miếng to bằng quả đào, nhổ toẹt xuống đất như một chiếc tổ ong đẫm máu. Ngọc Phủ ngất xỉu ngã vật xuống, cổ hầu máu tuôn ra như suối. Chân tay run lẩy bẩy không kêu lên được nữa. Chưa đầy nửa giờ, Ngọc Phủ không giãy giụa được nữa rồi chết hẳn. Đúng là:
Kiếp trước từng gây nên oan nghiệp.
Kiếp này lại gặp kẻ gian manh.

Ngụy Ngọc Phủ chết, hai vợ chồng gã mù vội vã bảo A Long đóng cổng thật chặt, lột quần áo, lấy hết của cải. Tâm Sở loạng quạng cầm cuốc, đào vội chiếc hố, chỗ đất trống sau nhà. A Long và Trâu Thị cũng cùng hắn ra sức đào, được hơn hai giờ thì hố sâu khoảng ba thước, chúng hất Ngọc Phủ xuống hố rồi lấp đất. Ba đứa vẫn cười nói như thường, không chút sợ hãi, hình như từ lâu chúng đã quen với ngón nghề này. Gã mù sờ vào gói bạc, mỉm cười, còn vợ hắn dọn sạch những vết máu trên đất. Suốt ngày hôm đó chúng không mở cửa hàng, đến tối ba đứa ăn uống phè phỡn, rồi cười ha hả với nhau. Hôm sau Lý Tâm Sở lại mở cửa hàng như thường lệ. Ngày thứ ba chúng không mở cửa hàng, lại mua thịt cá về ăn uống. Cứ như thế đến nửa tháng, không ai hay biết.
Thương thay, vợ Ngọc Phủ, là sản phụ, lại mắc bệnh bại liệt chỉ ăn mà không làm được việc gì. Con trai mới lên bốn tuổi, còn thơ dại. Mẹ con ở nhà mong ngóng, nghĩ: “Đã bỏ đi đâu lâu ngày như thế, không thiết đến nhà cửa, chắc rằng không về nữa”. Chỉ có một người gọi là Lão Tô, đã hơn bảy mươi tuổi, hằng ngày đến bế đứa trẻ đi lang thang khắp nơi, hỏi han tin tức Nhà vốn thu mua vải vụn, ngày ngày có người mang đến bán, song những người đó đều không hay biết gì về Ngọc Phủ. Vợ Ngọc Phủ mòn mỏi ngóng đợi tin chồng, cảnh ngộ thật là thê lương.
Ai ngờ đâu đống xương Vô Định,
Vẫn còn trong mộng gái phòng khuê.
Các bạn thử nghĩ xem, sự việc độc ác ấy bao giờ mới đưa ra ánh sáng, nỗi oan ấy bao giờ mới được báo thù. Cổ nhân có câu:
Chủ định trồng hoa, hoa không mọc
Chẳng màng cắm liễu, liễu xanh tươi.

May mà trước đây Ngụy Ngọc Phủ kết nghĩa anh em với Phó Tứ Quan, anh cũng là người thu mua vải vụn, vì tuổi ít hơn nên làm em. Một hôm anh mang bốn năm mươi tấm vải đến thành Gia Hưng bán. Đi khắp thành mà chỉ bán được sáu bảy tấm. Vừa tất tả đi qua cửa hàng Lý Tâm Sở thì thấy một người đàn bà xinh đẹp, đậm đà, ăn mặc gọn gàng, gọi mua vải. Phó Tứ Quan đưa vải tới, người đàn bà xem xong mua năm tấm. Phó Tứ Quan đòi lạng rưỡi bạc. Người ấy trả một lạng hai nhăm. Phó Tứ Quan nói:
– Cứ cân bạc xem đã, nếu là bạc hoa thì thiếu chút ít cũng được.
Người đàn bà quay vào cân bạc, rồi đưa ra, nói:
– Đây toàn là bạc hoa.
Phó Tứ Quan vốn là người thông minh, xem bạc xong, anh ta chột dạ: “Kỳ lạ thật, tại sao số bạc này lại ở đây?”, rồi đòi trả thêm mới bán. Khi ra khỏi cửa, anh nhìn đi nhìn lại tấm biển, suốt dọc đường cứ nghĩ miên man: “Số bạc hoa này là tiền vải của lão Ngảnh họ Chu trả cho Ngụy Ngọc Phủ. Nửa tháng trước đây chính tay anh cân, nặng chín hoa bảy li rưỡi. Xem đi xem lại, rồi cân thử, thì thấy không sai một li. Sao số bạc ấy lại ở cửa hàng gã xem bói này?”. Câu hỏi ấy cứ bám riết lấy anh: “Nếu như không chi dùng ở đây, thì vì sao người đàn bà này lại có số bạc đó”. Mấy người này Ngọc Phủ cũng không hề quen biết, đi đã hơn nửa tháng nay vẫn chưa về, mọi người đều mong mỏi. Hôm kia ta đến nhà trọ hỏi, Ngọc Phủ không hề tới đây. Thăm dò trong dinh quan huyện cũng không thấy ngọc Phủ đệ đơn kiện. Quả là trong đó có duyên cớ gì đây! Anh đặt bao vải xuống, lấy bạc ra xem đi xem lại, rồi cân thử một lần nữa, đưa quả cân tới chỗ chín hoa bảy li rưỡi, cán cân ngang bằng như mặt nước. Điều ấy khiến Phó Từ Quan càng thêm nghi ngờ.
Mấy hôm sau bán hết vải, trở về Bình Hồ, Phó Tứ Quan tới ngay nhà Ngụy Ngọc Phủ. Thấy vợ Ngụy Ngọc Phủ khóc than thảm thiết, còn đứa con trai cũng rầu rĩ. Anh nói:
– Đã lâu rồi mà anh Ngụy Ngọc Phủ vẫn chưa về. Tôi đã đến huyện hỏi dò, không thấy anh đưa đơn kiện, lại đến nhà trọ người ta bảo anh ấy không tới đây. Anh cũng không nói là đi đâu xa, chắc là anh đã mang số bạc mua vải của lão Ngảnh họ Chu đến xem bói ở phủ lị. Tôi đã bán vải cho nhà ấy, chính tay tôi cân bạc. Số bạc đó y như bạc lão Ngảnh trả, không sai một li. Tôi thấy rất đáng nghi, nên không dùng số bạc đó mua hàng. Nếu không dò hỏi được tung tích của anh, tôi sẽ đem số bạc này đến huyện cáo giác. Quan huyện sẽ phải hỏi lão thầy bói, thì chắc chắn sẽ biết được. Chừng nào anh ấy chưa về thì vẫn phải tiếp tục điều tra, nhất định sẽ tìm thấy!
Vợ Ngọc Phủ đau đớn, nghẹn ngào nói:
– Chú nói có lí. Tôi ngày đêm lo lắng, nhưng cũng chẳng biết làm gì, con thì còn nhỏ, tôi lại đau ốm, không ai lên huyện lo việc, tôi biết làm thế nào đây?
Phó Tứ Quan nói:
– Tôi đi làm chứng, còn chị hãy bảo lão Tô bế cháu Thọ đem số bạc đệ lên huyện cáo giác, việc này phải làm cho ra nhẽ.
– Không có người làm đơn kiện thì làm sao đây? – Vợ Ngụy Ngọc Phủ nói.
– Tôi sẽ đi mua giấy, – Phó Tứ Quan nói. – Cứ viết thẳng ra là được.
Phó Tứ Quan vội vàng đi mua giấy về, viết:
“Người làm đơn này là Ngụy Quan Thọ. Thưa về việc tìm cha. Cha tôi vào thành buôn bán đã hai mươi ngày rồi mà không thấy về. Tôi biết cha tôi đã mang bạc tới xem bói nhà Lý Tâm Sở. Vì cha tôi có người chú kết nghĩa anh em tên là Phó Tứ Quan đã bán vải cho nhà ông ta, và phát hiện ra số bạc người ta mua vải là của cha tôi. Nay đem số bạc trình lên ngài, khẩn thiết xin ngài điều tra tận gốc số bạc ấy từ đâu ra, lúc đó sẽ biết được cha tôi ở đâu. Mẹ con tôi vô cùng cực khổ. Xin dâng đơn lên ngài”.
Phó Tứ Quan đưa lá đơn không hợp quy cách, chỗ thì viết chân phương, chỗ thì viết ngoáy, cho vợ Ngụy Ngọc Phủ, rồi nói:
– Sáng sớm mai, chị bảo lão Tô bế Quan Thọ, cùng đi cáo giác, còn số bạc này hãy để ở nhà chị.
Sáng sớm hôm sau, Phó Tứ Quan đến, cùng lão Tô cõng Quan Thọ, mang số bạc tới huyện Bình Hồ. Quan huyện Thẩm Dao Chương là quan thanh liêm chính trực. Ông khoảng ba mươi tuổi, người phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông. Cha ông là một ông đồ, tuổi cao mới sinh được mình ông. Ngay từ khi còn nhỏ, Thẩm Dao Chương sống trong cảnh khổ cục, nghèo túng, nếm đủ mùi cay đắng, nên khi được làm quan ông luôn theo lời răn dạy của cha, làm tốt mọi công việc, xét xử công bằng, thưởng phạt nghiêm minh. Chính vì thế mà bọn nha lại rất sợ, không dám làm bậy, còn nhân dân coi ông như một vị Thành Hoàng. Hôm ấy, công đường vừa mở, Phó Tứ Quan, lão Tô bế Quan Thọ theo đám đông vào cáo giác. Vị Thành Hoàng nhận tất cả đơn từ xem xét tỉ mỉ từng lá một, và phê những ý kiến vào đó. Xem đến lá đơn của Ngụy Quan Thọ, ông gật gật đầu cười rồi phê vào hai chữ “truy nã”. Đến trưa thì ông xem xong tám mươi lá đơn, trong đó có đơn của Ngụy Quan Thọ. Hôm ấy chỉ có ba lá đơn tố giác, ông lần lượt gọi vào xét hỏi. Đến Ngụy Quan Thọ, thấy lão Tô bế Quan Thọ vào, miệng chỉ nói “bác bác”, dáng vẻ sợ hãi đáng thương. Sau đó ông gọi Phó Tứ Quan lại hỏi:
– Số bạc này ngươi lấy ở đâu ra?
Phó Tứ Quan khai rõ ràng, từ đầu tới cuối. Hỏi xong lần sơ thẩm về ba vụ án, ông kết thúc phiên tòa.
Thẩm Công trở về tư dinh hỏi người hầu rằng:
– Ta cần sai một người giáp thủ(1) thật thà chất phác, làm tốt công việc này, ngươi có thể cử giúp ta được không?
(l) Giáp thủ: người đứng đầu năm binh sĩ.
Người hầu không dám làm bậy, nghĩ ngay tới Tào Thăng, là người thật thà chất phác, không bao giờ dám nhận tiền đút lót để ăn uống rượu chè, rồi nói với Thẩm Công:
– Chỉ Tào Thăng mới làm được việc này.
Thẩm Công viết một tờ trát, sai Tào Thăng mang đi và dặn rằng:
– Ngươi hãy đi, nói với Lý Tâm Sở, người hành nghề thầy bói trong huyện, rằng chiều mai ta có việc phải hỏi ông ta, không được nói một câu nào khác, không được đòi ăn uống, nếu hắn tới ta sẽ thưởng cho bữa rượu.
Tào Thăng lĩnh trát, cúi chào rồi đi ngay.
Vào khoảng canh năm, Tào Thăng tới phủ lị, hỏi đến nhà Lý Tâm Sở, ôn tồn lễ phép đưa trát cho ông ta. Lý Tâm Sở rờ rờ tờ trát, chẳng chút kinh sợ, nói:
– Gọi ta về việc gì thế?
– Tôi không biết, – Tào Thăng nói. – Chưa biết chừng muốn nhờ ông tới xem bói cũng nên. Phải lập tức đi ngay, tiên sinh không nên chần chừ.
– Thưa ông, – Tâm Sở nói, – ông có biết trong huyện đường của ngài có ai sao không?
– Tôi cũng không biết nữa, – Tào Thăng nói. – Tiên sinh cứ đi hỏi ngài sẽ biết.
– Ông hãy ngồi nán lại, – Lý Tâm Sở nói. – Uống một chén rượu đã.
– Tôi không dám uống rượu, lấy tiền của ông. – Tào Thăng nói. – Không còn thời gian nữa, xin ông lên đường ngay.
Tâm Sở đành vào nhà trong, ăn vội bát cơm, giắt theo mấy lạng bạc. Sợ lên huyện Bình Hồ phải xem bói, nên ông ta mang theo cả ống thẻ. Ra tới cửa ông ta còn quay lại nói với vợ:
– Tôi đi rồi sẽ về ngay thôi.
Hai người ra khỏi cửa, ra bến sông gọi thuyền tới huyện Bình Hồ.
Tào Thăng dẫn Tâm Sở đến tư dinh hầu quan. Trời sắp tối thấy trong tư dinh đèn nến sáng choang. Thẩm Công đang ngồi trên ghế công đường, hỏi:
– Tào Thăng, hãy dẫn hắn vào.
Tào Thăng dẫn lão mù vào. Thẩm Công lấy từ trong tay áo ra một gói giấy, rồi nói:
– Tào Thăng, ngươi làm việc công thận trọng, ta thưởng cho năm đồng mua rượu.
Tào Thăng cúi đầu cảm ơn, rồi ra ngoài đang đợi. Lão mù quỳ trước bàn. Thẩm Công hỏi:
– Lý Tâm Sở, ngươi là một tên mù, làm được việc tốt! Chỉ thương thằng bé nhỏ dại ấy.
Nói xong ông giận dữ đập bàn. Gã mù kinh sợ nói:
– Thưa ngài, không liên can gì đến con, thằng nhỏ ấy vốn là một thằng trộm cắp, việc đã xảy ra ra lâu rồi, ngài hỏi con làm gì?
– Hãy khai lại từ đầu, một thằng bé khờ dại như thế thì trộm cắp sao được?
– Thưa ngài, – lão mù nói, – nó lấy trộm đồ trang sức bằng bạc, quần áo và các đồ đồng của nhà chủ, nó vốn không phải là người tốt, nên lần này con phải đuổi nó đi.
– Ngươi đuổi nó đi từ bao giờ?
Tháng tư năm ngoái, – lão mù nói, – thằng nhỏ ấy lấy trộm rất nhiều đồ vật gửi ở nhà con, rồi sau đó đến lấy đi. Vợ con trách mắng nó, lừa nó vào cửa, đánh nó một trận ngã dụi xuống, rồi dùng dây thắt cổ cho đến chết. Quả thực mắt con mù, việc làm ấy đều do vợ con gây ra.
Thế là mất một mệnh người, – Thẩm Công nói. – Thằng nhỏ ấy là con ai? Tên gì?
– Thằng nhỏ ấy tên là Ô Tam, – gã mù nói. – Con ông gù Từ Lang Trung.
Xác chết hiện ở đâu? – Thẩm Công hỏi.
– Ở sân sau, – gã mù nói.
– Hãy kẹp nó cho ta, – Thẩm Công nói.
Những người xung quanh lập tức kẹp ngay cái ấy của tên vô lại rồi hỏi tỉ mỉ. Gã tù nhân mù độc ác như hổ, chuyên hãm hại người tại nhà, đâu có biết phép vua như lò lửa, và sự ghê gớm của cửa quan, nên đến nay mới ra nông nỗi này, quả đúng là:
Phạm pháp mất hết quyền
Vận đen thi nhau đến.

Tên mù Lý Tâm Sở bị kẹp, hồn bay phách lạc, trời đất tối sầm lại. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa từng nếm mùi vị này, ngất đi lại tỉnh. Thẩm Công không giận dữ, không nóng vội, ông thong thả hỏi:
– Số bạc của người khách họ Ngụy, người dùng cũng khá đấy, đến nay thì nó đang ở chỗ ta, hãy trả lại người ấy cho ta!
– Thưa ngài, thưa ngài! – Gã tù nhân mù nói,-xác của người khách họ Ngụy cũng chôn tại chỗ Ô Tam.
– Người tham của giết người, – Thẩm Công lại hỏi, – phải khai rõ từ đầu đến cuối, ta sẽ tha chết cho người.
– Ngày mười chín tháng tám, – tên mù nói, – ông ấy đến xem bói, và trả công rất hậu. Con bèn bàn với vợ, vợ con nói: “Không thể buông tha được, vì ông ấy là người buôn bán giàu có. Phải gọi ông ấy lại giết đi, lấy bạc”. Con quả thực đáng tội chết. Con không biết giết người. Vợ con không biết dùng dao, giả vờ xem tướng, rồi nhè chỗ yết hầu cắn, làm ông ấy không kêu được. Con nói với vợ con, nếu làm không được con sẽ đến giúp và còn nói, nếu cổ cắn không chặt, tôi sẽ đánh nhừ đòn. Người xưa nói “mèo mù vồ gà, chết cũng không buông”, con dặn đi dặn lại vợ con mới dám ra tay. Chỉ lấy được tám chín lạng bạc, một bộ quần áo. Cầu mong ngài ra ân trời bể, tha cho chiếc thân tàn tật này, chỉ bắt vợ con và thằng A Long đền mệnh.
– Ngươi là một tên độc ác, mất hết tính người. – Thẩm Công nói.
Sau đó ông gọi tay chân đánh cho bốn mươi tay thước. Gã mù quằn quại đau đớn, khóc không thành tiếng. Thẩm Công gọi người tống hắn vào ngục, rồi ông viết trát, sai Tào Thăng ngày mai tới bắt Trâu Thị và A Long về xét xử, định tội. Tào Thăng nhận lệnh, Thẩm Công rời khỏi công đường.
Ngày hôm sau, Tào Thăng dậy từ canh năm tới nhà lão mù, hỏi:
– Có người trong nhà không?
– Ông Tào đấy à, – người đàn bà cười hi hí nói, – ông nhà tôi bao giờ về?
– Chưa được về! – Tào Thăng nói. – Ngài quan huyện cho gọi ngươi và A Long tới huyện.
– Tiên sinh biết xem bói thì quan mới gọi. Còn chúng tôi biết gì đâu mà quan gọi. – Người đàn bà nói.
– Hãy chuẩn bị lên huyện ngay.
– Thật sao? – Người đàn bà nói.
– Không thật thì đùa à? – Tào Thăng nói. – A Long đâu, phải đi cả hai người.
Người đàn bà vẫn cứ đứng đó. Tào Thăng lại nói:
– Ngài quan huyện gọi cả hai người. Chồng ngươi có việc cần bàn, không có thời gian về, đang mong mỏi các ngươi. Không được trì hoãn, nếu chậm sẽ liên lụy đến ta.
Người đàn bà nghe thấy nói có việc cần kíp, lúc ấy mới sắp cơm cho Tào Thăng ăn. Còn mình và A Long cũng ăn vội mấy bát, rồi chải đầu rửa mặt, mặc áo, mang theo bạc và tiền đồng. Nói khó với hai nhà bên:
– Nhờ ông bà trông nhà giúp, nếu ông ngoại tôi có đến thì nói giúp rằng, chúng tôi lên huyện Bình Hồ.
Sau đó khóa cửa, mặc chiếc áo xanh lên đường. Một người đàn ông lớn tuổi thốt lên:
Khuôn mặt xinh tươi
Mắt sáng long lanh
Tai to mũi nhọn
Lưỡng quyền nhô cao
Mi mắt cũng cao.

Người đàn bà này nói năng hoạt bát, vừa đi vừa nói luôn mồm. Tào Thăng chẳng nói chẳng rằng, đi một mạch đến Bình Hồ. Tới huyện đường, Tào Thăng vào thưa với Thẩm Công rằng:
– Vợ Lý Tâm Sở và A Long đã tới.
Thẩm Công ra lệnh tống giam, ngày mai xét hỏi.
Gã mù giam tại phòng giam nam, còn vợ giam tại phòng giam nữ, chúng không hề biết gì về nhau. Trong ngục, người đàn bà nghĩ, không biết đã xảy ra chuyện gì. Không có kẻ thù, lại chẳng thấy ai nói gì cả. Chưa biết chừng do bói sai mà nên cơ sự này. Hay là chồng mình bị liên lụy, hoặc do cậu mình mà xảy ra việc này. Trong nhà có hai việc, song chẳng ai nói ra. Suốt đêm lo lắng, trằn trọc, nước mắt rơi lã chã. Đó chẳng phải là:
Nhà tù lạnh lẽo, ma quỷ hiện,
Mơ thấy đường về thăm thẳm xa.

 

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 1 (B)

Kẻ Buôn Vải Minh Oan Cho Bạn
Tên Giết Người Vợ Khó Bao Che

Giữa lúc người đàn bà đang lo lắng, bỗng thấy có người điệu lên xét hỏi. Mấy hôm trong tù, lão mù như một con chó, mặt tái nhợt cắt không còn giọt máu. Người đàn bà thấy dữ nhiều lành ít không dám nói thẳng với chồng, nước mắt lưng tròng. Liếc nhìn người quỳ cạnh mình, nhận ra Phó Tứ Quan, người bán vải dạo nọ, thị giật mình, nhưng vẫn không biết duyên cớ gì. Chẳng lẽ số vải ấy là do hắn ăn cắp bán cho mình, bây giờ lại kiện vì bán rẻ chăng? Thị nghĩ bụng: “Thôi cứ để nhìn thấy vải hãy hay”.
Thẩm Công nói:
– Mụ kia, hãy khai rõ từ khi lớn lên và đi lấy chồng tới nay.
– Con là Trâu Thị, – người đàn bà nói, – chồng trước chết, sau đó về làm dâu nhà họ Lý.
– Ngươi chủ mưu giết người, – Thẩm Công nói, – hãy khai ngay, bạc mua vải hãy còn đây.
Người đàn bà ấp úng, nói quanh co. Thẩm Công gọi người giúp việc kẹp mụ lại. Người đàn bà bị kẹp, vừa khóc vừa nói:
– Không phải con chủ mưu, từ nhỏ con được cha dạy bảo.
– Nói bậy. – Thẩm Công nói.
Thế rồi ông lệnh kẹp chặt hơn, người đàn bà đau đớn, nói:
– Không phải do con, mà là cậu con dạy con.
– Mày tham của, giết người chôn tại nhà, – Thẩm Công giận dữ nói. – Còn đổ tội bừa cho người thân thích, còn gì hãy nói mau.
– Bẩm quan, – mụ đàn bà nói, – cậu con và cha con không biết lấy bao nhiêu của, giết bao nhiêu nhân mệnh. Xin quan hãy truy nã họ. Con chỉ là đàn bà, vì yêu quý người thân con mới làm như thế, xin ngài tha cho.
– Cha ngươi là ai, – Thẩm Công hỏi.
– Cha con là Trâu Đoản Hồ, – người đàn bà nói, – là tướng cướp nổi tiếng. Cậu con là Vưu Bảo Quan cũng là kẻ cầm đầu một bọn cướp khác. Hai toán cướp này đêm đêm thường tụ tập thành một toán để đi cướp, trong đó còn có một số tên trộm vặt không biết cướp của giết người. Xin ngài hãy tháo kẹp ra con xin khai rõ ràng, tỉ mỉ.
Gã tù nhân mù, thấy vợ nói thế rất mừng, không kìm nổi, chỉ chửi thầm:
– Đồ lừa dối xấu xa, nói in ít chứ, không khéo mà tuôn ra hết!
Thẩm Công nói:
– Hãy nới kẹp ra.
Rồi ông quát lớn :
– Chỉ còn thiếu một người, ngươi còn giấu ta, hãy đánh chết nó đi !
Nói xong ông cầm bút viết. Người đàn bà nói:
– Con xin khai hết sự thật, chỉ mong ngài tha đánh. Thưa ngài, cha con tên là Trâu Đoàn Hồ, chuyên giết người. Năm nay cuộc sống khó khăn, giết được mười sáu người. Ngươi giết trước đó thì không sao tính xuể. Nay đã năm mươi tám tuổi, trú tại chiếc lều phía bắc làng Hương Bích. Bọn tay chân gồm có: Dương Lạp Lê, Hồ Hỏa chuyên cầm gậy đi đầu, vào nhà cướp bóc, được bao nhiêu họ chia đôi; Bì Họa Mi, giỏi đào tường khoét ngạch, trước tiên bắt trộm chó, rồi sau mới ra tay trộm của cải. Hắn luôn giả chết để đánh lừa người. Lục Cửu Bá, có sức khỏe nâng ngàn cân, chuyên đốt nhà, buôn bán phụ nữ. Đào Tiểu Ngữ biết bay lên hiên, vọt qua tường, ngày đêm chỉ uống rượu; Cường Tao Ôn chuyên tụ tập cướp bóc; Man Đầu Lục đánh người không để lại dấu vết; Lạn Thoái Đinh chuyên đi cướp vàng bạc, không để sống sót một người nào; Võng Câu Quỷ, chuyên thiêu người, đánh đai sắt vào đầu; Quang Đả Quang, vốn là một hòa thượng, giỏi leo thang dây; Miết Kỳ Tôn, chột mắt, giỏi khoét gạch; Du Ngũ, người đen xạm, giả vờ đi bán dầu, chuyên dò la tin tức, cũng cần phải bắt. Ngoài ra còn có một số tên trộm vặt như Thố Toán, Vương Tam chuyên cắt túi người đi đường. Chương Hà Quải chuyên bắt trộm gà. Lại còn có Chu Thư Phu, Lý Thân Gia, Hồ Lục Quan, Giả Biểu Thúc phần lớn là anh em với cậu con. Cậu còn có bốn năm người hầu lúc nào cũng bên cạnh như Tào Giả Ty, Kê Nhi Hoàng, Nồng Bão, A Dậu, Thúc Hỏa Đồng. Những người này rất giỏi, đêm đêm lần mò giết người cướp của, không biết bao nhiêu mà kể.
Thẩm Công ghi xong, đọc đi đọc lại, đối chiếu từng dòng, lấy bút đánh dấu từng tên một. Quả nhiên không sai một chữ. Rồi hỏi:
– Ngươi làm sao mà nhớ được những tên này?
– Từ hồi nhỏ, – mụ đàn bà nói, – con ở nhà. Những lúc rỗi rãi, thường cùng mẹ đếm chơi, không thể nào quên được.
Sau đó gọi A Long tới hỏi:
– Người khách họ Ngụy bị giết như thế nào?
– Con ở ngoài canh cửa, – A Long khai, – không biết họ giết chết thế nào, con có giúp họ đào hố chôn người.
Thế rồi Thẩm Công cho tay chân lột hết quần áo đánh mỗi đứa bốn mươi gậy, giam vào ngục. Kiểm kê toàn bộ gia sản của tên mù, giao toàn bộ cho Ngụy Quan Thọ.
Thẩm Công rút ra một tờ trát, đưa cho Tào Thăng. Ngày hôm sau dẫn khổ chủ Ngụy Quan Thọ đến nhà Lý Tâm Sở đào xác. Xác Ngụy Ngọc Phủ vẫn còn nhận được mặt. Phó Tứ Quan khóc rống lên, rồi mua quan tài khâm liệm, chôn cất cúng bái.
Thẩm Công thương Quan Thọ còn bé, không thể xa mẹ, nên không cưỡng ép nó. Phó Tứ Quan rửa nỗi oan ức cho bạn, được quan trên ban thưởng. Gã mù họ Lý, Trâu Thị bị kết tội. A Long còn ít tuổi, nghe theo lệnh chủ, nên được Thẩm Công tha tội. Mặt khác lại cho người báo cho Từ Lang Trung đến nhận thi thể Ô Tam. Những tên cướp mà Trâu Thị khai ra, Thẩm Công sai tay chân chiếu theo danh sách bắt cho bằng hết, tra hỏi từng tên, rồi giải lên cấp trên. Thời ấy nạn trộm cắp bị quét sạch, dân chúng vô cùng cảm động. Có thơ rằng:
Nước an, lòng trời thuận.
Quan tốt, dân không oan.
Xin chớ làm điều ác.
Hãy ngẩng nhìn trời xanh.


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 287
  • 52
  • 5.406
  • 128
  • 6.031.005
  • 845.513