Thần tiên Việt Nam

Truyện Thần Tiên Cát Hồng 7 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Sĩ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

KẾ TỬ HUẤN
Kế Tử Huấn là một người đắc đạo rất cao. Ông đi chơi trong kinh thành, công danh, vương hầu đều nhiệt liệt chào đón ông, và vì ông bày tiệc, ban ngày cho đển ban đêm chiêu đãi ông thật long trọng.
Ông rời bỏ kinh thành sau đó mất luôn tung tích. Mọi người chỉ thấy lúc ông đi, mười mấy nơi đều thấy từng đóa mây trắng bay lên. Không bao lâu, có người ở trên đường phố kinh thành Trường An thấy ông đang cùng một ông già, hai người nắm tay nhau đang sờ mặt người đồng vừa sờ vừa ngước lên trời nói: “Mới vừa trông thấy Vũ Đế đúc người đồng, làm gì mới có một phút mà đã mất 500 năm rồi”.
Có người nhận ra dung mạo của ông, bèn đến trước bắt tay với ông nói: “Kế tiên sinh! Xin đợi một chút chúng tôi cùng đi chung đường”. Kế Tử Huấn gật đầu đồng ý và đi chầm chậm lại từng bước, mặc dù tuy chậm như thế, nhưng tốc độ của ông ngay cả ngựa chạy cũng không kịp,
 
ÂM TRƯỜNG SINH

Âm Trường Sinh là người Tân Dã, làng Tằng Tổ Phụ của Hán Hoàng Đế. Ông không ham thích vinh hoa chỉ chuyên tâm tu đạo, ngưỡng mộ cao danh của Mã Minh Sinh, bèn đi khắp các danh sơn để tìm thầy học đạo, cuối cùng ở núi Nam Dương Thái Hòa gặp được Mã Minh Sinh, liền bái ông ta làm thầy.

Nhưng Mã Minh Sinh không dạy ông bất cứ đạo thuật nào, chỉ cùng ông mỗi ngày bàn chuyện thời sự, tất cả hơn mười năm, mà Âm Trường Sinh không một chút mỏi mệt. Đồng thời với ông có hơn mười hai người bái kiến Mã Minh Sinh làm thầy đều oán trách mà bỏ đi hết, chỉ còn lại Âm Trường Sinh đối với ông càng thêm kính trọng. Như vậy hơn mười hai năm.

Mã Minh Sinh mới tin ông là thật sự cầu đạo, bèn dẫn ông vào Thanh Thành Sơn, nấu Hoàng Thổ thành vàng, và dạy ông các thứ đạo thuật.

Sau đó, Âm Trường Sinh ở trong thạch thất Vũ Đương Sơn ăn uống một nửa là thần đan, nhưng cũng không thể bay lên trời. Lúc đó ông lại luyện mấy vạn cân vàng ròng để cứu giúp thiên hạ nghèo khổ, bố thí xong rồi lại uống một nửa tiên đan, quả nhiên thành nguyện vọng, giữa ban ngày ông bay lên trời.
 
LOAN BA

Loan Ba là người Thành Đô, sau khi đắc đạo được phong làm Thượng Thư. Có một năm nọ, sáng sớm ngày 13 tháng giêng, lúc thượng triều Hoàng Đế ban rượu cho ông, ông lặng lẽ không uống lại ngậm rượu trong miệng, quay qua hướng Tây Nam phun ra, Nhân đây ông bị đàn hặc thành tội bất kính. Loan Ba phun rượu xong thảnh nhiên nói: “Nhà tiểu thần trong Thành Đô đang bị hỏa tai, do đó tôi mới dùng rượu phun tưới để cứu hỏa”.
Qua mấy ngày trong Thành Đô quả nhiên tâu lên nói đang lúc một trận lửa cháy dữ dội, may thay có một trận mưa từ phương đông rơi xuống mới dập tắt được lửa, thật kỹ quáí, trận mưa đó nồng nặc mùi rượu.
 
MAO BÁ ĐẠO VÀ LƯU ĐẠO CUNG

Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung, Tạ Nhã Khiên và Trương Triệu Kỳ đều là người của thời Đông Hán, họ cùng vào Vương Ốc Sơn học đạo hơn bốn mươi năm, hợp tác luyện thành thần đơn.

Mao Bá Đạo uống trước, không ngờ vừa uống vào chết liền, Lưu Đạo Cung cũng ăn lại chết luôn. Ba người còn lại thấy hiện tượng như thế nên không dám uống, lúc đó bèn bỏ đan dược chuẩn bị về nhà. Không ngờ vừa ra khỏi Vương Ốc Sơn thì xa xa trông thấy Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung cưỡi con nai trắng ở trên núi rong chơi, phía sau lưng còn có tiên nhân cầm trướng theo hầu bên cạnh.

Nhã Kiên và Triệu Kỳ không ngớt hối tiếc, may thay Lưu Đạo cung dạy họ uống phục linh, hai người lòng tin không vững mới miễn cưỡng nghe theo cũng tu thành tiên. Tu đạo vốn không là việc bình thường, cần nhất thiết phải có cái tâm phi thường. Người tham sống sợ chết ngay cả nghiệp lớn ở đời còn chưa thành tựu , huống là Đại đạo xuất thế gian? Học đạo phải chịu thử thách là các điều Tôn giáo đều có, mà thử thách lớn nhất là chấp sinh mệnh, nhà Phật gọi là “Sinh Tử quan” (ải sinh tử) có vị cao tăng là Hoa Sinh ngồi xoay mặt vào vách, thì gọi là “Tọa Sanh tử quan”.
 
TRIỆU BÍNH

Triệu Bính là người Đông Dương, thời Hậu Hán, thích đi các nơi rong chơi, mỗi lần gặp bạn thân thì rót nước làm rượu để uống và còn tùy tiện cắt một vật gì biến thành thịt, cứ như thế khiến cho mọi người rượu mồi no đủ,chủ khách tàn tiệc vui.

Có một lần ông ở trên bờ không đợi được thuyền, liền quăng chiếc chiếu xuống nước, dẫm lên trên chiếu mà vượt qua con sông lớn.

Trong sử gọi Đạt Ma Tổ Sư là “Nhất Vĩ Độ Giang”. Triệu Bính giống như vậy, nhưng so ra ông học được pháp thuật này sớm hơn.
 
TRANG BÁ VI

Trang Bá Vi lúc còn trẻ rất ham thích đạo thuật, nhưng ông không biết nên tu như thế nào, lúc đó mỗi ngày khi mặt trời vừa lặn, ông hướng về hướng Tây tĩnh tọa, chuyên tâm định ý tưởng tượng hình núi Côn Lôn.

Núi Côn Lôn là thánh sơn của Trung Quốc, trên núi đều là thần tiên và thánh hiền ở, có các cầm thú quí hiếm,và hoa thơm cỏ lạ, dưới chân núi có một dòng nhược thủy, chất nước rất yếu ngay cả lông chim cũng không trôi được, người phàm càng đừng nên qua, trừ khi là thành tiên thành thánh. Ở trên đỉnh núi Côn Lôn có một cấy kêu là bất tử, nó cao chọc trời che cả đất, phủ khắp muôn dân, mà Vương Mẫu Nương Nương ở trong vườn hoa trên đỉnh núi ấy, giữ tòa Kim hỏa lập lòe, để thần tiên trường tồn mãi mãi.

Trang Bá Vi định tưởng như thế ba năm, Cuối cùng một hôm trông thấy núi Côn Lôn. Tiên nhân ở trên núi chỉ điểm xuống, ông cũng được thành đạo và lên núi Côn Lôn.

Tịnh độ tông của Phật giáo có một pháp môn quán tưởng Phật và cõi Tây phương cực lạc quán tưởng thành thục rồi sau đó có thể vãng sanh tịnh độ được thấy Phật Di Dà (muốn hiểu rõ điều này hãy xem kinh “Quán Vô Lượng Thọ”).

Trang Bá Vi hầu như cũng tu theo pháp môn náy, về phuơng diện Phật đạo có thể có chỗ tương thông cũng chưa biết được.
 
GIANG PHI NHỊ NỮ

Giang Phi Nhị Nữ không biết người thời đại nào. Thời đó có một người thanh niên tên là Trịnh Giao Phụ đi đến bến Hán Thủy dạo chơi, bỗng trông thấy hai thiếu nữ tyệt đẹp trên áo còn đính hai viên minh châu ánh sáng rực rỡ chói mắt.Trịnh Giao Phụ rất đông tâm, không cầm được sự ngăn cách dòng sông dài dằng dặc, bèn ngâm lên bài thơ tỏ ý ái mộ. Ông vừa ngâm xong, không ngờ hai người con gái cũng ngâm tặng lại một bài thơ, tiếng ngâm du dương Thẩm bổng trong cảnh mấy nước bồng bềnh dường như đang ở trong cảnh thần tiên.

Trịnh Giang Phụ ở bên dòng nước không muốn đi, nhưng trời dần dần tối, ông chỉ còn cách tạm rời hai thiếu nữ này. Trước khi lên đường hai thiếu nữ gỡ viên minh châu trên áo tặng cho ông làm kỷ niệm. Trịnh Giao Phụ cầm viên minh châu đi được vài bước quay đầu lại xem thì hai thiếu nữ đâu mất. Cúi đầu nhìn hạt minh châu trong lòng bàn tay cũng không thấy nữa, ông mới sực tình mình đã gặp tiên nữ trên sông.

Người và thần tiên mến yêu nhau, đã tự thành một loại hình trong văn học nghệ thuật Trưng Quốc, như Tào Thực và Mặc Phi, cũng là một trong những chuyện ái tình lạc thần. Còn chuyện Trinh Giao Phụ cho đến chuyện Sở Vương và U Sơn Thần Nữ cũng lưu truyền ngàn đời như nhau, trở thành điển cố người đời thường gọi, không ngừng xuất hiện trong thi, văn, đề, vịnh. Thí dụ như thơ Đường: “Khúc chung nhân bất kiến, giang thượng số phong thanh” là một câu nổi tiếng.Ngoài ra trong Cửu ca của Sở Từ cũng có rất nhiều tình tiết luyến ái giữa người và thủy tiên.
 
LƯU CĂN

Lưu Căn người ở Trường An, thời Hán Thành Đế đi lên núi cao học đạo, bỗng được một vị thần truyền cho bí quyếp, lúc đó ông đã tu thành tiên. Bình thường, ông hay dùng đạo thuật cứu người, mà Thái Thú Sử Kỳ Dĩnh Xuyên lại cho ông làm yêu thuật, muốn giết ông. Ông ta đem Lưu Căn giải về phủ, nói với ông rằng: “Nếu như người triệu tập quỷ đến đây thì ta mới thả ra, nếu không, ngươi sẽ mang tội chết”.Lưu Căn ung dung đáp: “Việc này rất đơn giản, chỉ cần cho tôi mượn cây bút vẽ một lá bùa thì xong”. Chưa được bao lâu thì có thân binh giải hai con quỷ tới.Thái Thú xem kỹ càng mới phát hiện chính là cha mẹ mình, đã chết từ lâu, bất giác thất kinh biến sắc, quỳ xuống than khóc thảm thiết. Quỷ trách móc Thái Thú đã làm gì đắc tội với thần tiên mà phải liên lụy đến cha mẹ. Thái Thú vội vàng cúi đầu nhận tội, Lưu Căn mới thả hai con quỷ ra, còn mọi người bỗng nhiên cũng không thấy Lưu Căn đâu cả.
 
MAI PHÚC

Mai Phúc tự là Tử Chân, từng làm Nam Xương Úy thời Đông Hán.Ông thấy Vương Bôn chuyên chính, không chịu nổi than rằng: “Sinh mạng hình phạt ta, hình thể khiến ta chịu nhục, tri thức là họa hoạn của ta, thể xác là công cụ hành hình của ta”. Lúc đó, bỏ nhà đi cầu tiên, đi khắp các núi Mạc Đăng Sơn và Mẫn Nan Sơn.Sau đó, ông đến Tiên Hà Sơn gặp được Không Động Tiên Quân, học rành nội ngoại đan pháp. Ông lại đến Kê Long Sơn, kết quả tu luyện không thành, lại dời vào Kiếm Cang Tây Lĩnh, lại gặp Không Động Tiên Quân trong mấy trắng đáp xuống nói với ông rằng: “Mai Phúc, duyên phần của ngươi ở Phi Hồng Sơn”. Mai Phúc lập tức đi đến Phi Hồng Sơn,dựng nhà tranh chuyên tâm tu luyện,quả nhiên thành công. Lúc đó, ông thu xếp hành trang về nhà mừng xuân. Có một hôm mây tía xuất hiện trên bầu trời, trong mấy trắng có Kim Đồng, Ngọc Nữ cưỡi loan bay xuống. Mai Phúc từ biệt thân quyến,cưỡi thanh loan bay lên trời.

Ngụy Bá Dương

Ngụy Bá Dương người nước Ngô, tính tình thích đạo, không chịu làm quan.Ông vào núi luyện đan có dẫn ba người đệ tử theo hầu. Ông có hai đứa đệ tử lòng tin không vững, lúc đó đan đã luyện thành, hôm ấy đem thử họ nói: “Kim đan tuy thành, nên cho chó nếm trước, chó uống không chết sau đó mới yên tâm dùng”.Nói xong, cho chó uống một viên, chó tức khắc chết liền.

Ngụy Bá Dương trông thấy không cầm được than rằng: “Đây cũng là ý trời”. Đệ tử của ông nói: “Sư phụ! Ngài uống hay không uống?”. Ngụy Bá Dương trả lời: “Ta bỏ nhà cửa quê hương mà tu thất bại, còn mặt mũi nào mà trở về? Sự sống chết vốn không giống nhau, ta quyết định thử xem sao!”.

Nói xong nuốt đan vào mà chết. Trong lúc đó một đệ tử nghĩ thầy vốn bậc phi phàm, dùng đan mà chết chắc có thâm ý gì, cũng uống đan mà chết. Còn hai người đệ tử kia trông thấy như thế bình luận: “Luyện đan là mong cầu trường sinh, mà nay uống tiên đan phản ứng rồi chết, chi bằng không uống, trở về nhà cũng có thể sống thêm mấy mươi năm!”.Lúc đó, quyết định không uống, cùng xuống núi mua quan tài cho Ngụy Bá Dương và vị đệ tử kia.

Không ngờ hai người này vừa xoay lưng đi, Ngụy Bá Dương từ đất đứng dậy.Ông cầm một viên diệu đan vừa luyện xong nhét vào miệng đệ tử và cũng nhét vào một viên đan vào miệng con chó chết, chốc lát cả người và chó đều sống lại. Ngụy Bá Dương liền dẫn người đệ tử họ Ngu và con chó trắng cùng đi du tiên. Sau đó, họ gặp một ông tiều phu đốn củi, Ngụy Bá Dương viết thư nhờ ông chuyển cho hai người đệ tử, họ nhận được thư hối tiếc vô cùng, hối hận vì ban đầu không chịu làm theo.

Ngụy Bá Dương đã viết quyển “Tham Đồng Khế” là đạo lý của Kinh Dịch để ám chỉ phương pháp luyện đan, là một quyển Kinh trọng yếu của Đạo Giáo, Nam Tống Châu chú giải quyển sách này.
 
 Vương Lão

Vương Lão chỉ ham thích người hàng xóm tu đạo. Có một hôm, một đạo sỹ đến hỏi thăm ông, còn ở lại nhà ông hơn một tháng. Bỗng nhiên Đạo Sỹ phát sinh ra ghẻ độc đầy mình, ông nói với Vương Lão, ông cần mấy ang rượu để tẩm ngâm thì ghẻ mới lành. Vương Lão theo lời ông mua về mấy ang rượu đầy, đạo sỹ ngồi trong ang rượu, trải qua ba ngày ba đêm mới bò ra, chỉ trông thấy ông râu tóc biến thành đen, dung mạo biến già thành trẻ. Đạo Sỹ nói vời Vương Lão: “Nếu ngài có thể uống hết ang rượu này thì có thể thành tiên”.

Vương Lão không chút do dự, ông ra lệnh mọi người trong nhà đem ang rượu Đạo Sỹ rửa ghẻ ra uống hết, chốc lát đều say té. Họ vừa uống vừa say, bỗng nhiên trên trời nổi lên mây gió, cả nhà đều bay bổng lên trời.
Nhà Phật nói: “Phá chấp trước”, không nên dùng mắt trâu dê mà nhìn người, cũng không nên dùng mắt chó mà xem thấp người ta. Lão Đạo Sỹ giống Tế Công, ông vừa có ý thử thách, vừa muốn phá trừ tâm thế lợi của Vương Lão, chúng ta không thể người người khám phá được hồng trần, nhưng ngược lại nên ra sức bài trừ tính thế lực, lợi dưỡng. Tự do bình đẳng không chỉ là chính trị, lý luận, mà nó càng là sự tu dưỡng của Đạo đức.
 
LƯU THẦN

Lưu Thần là người huyện Diệm, cuối đời nhà Hán cùng Nguyễn Triệu đi vào núi Thiên Thai, hái thuốc, lạc đường về, kẹt lại trong núi 30 ngày. Họ vừa đói vừa khát, bỗng nhiên gặp trên núi có cây đào, trái quằn nhánh, hai người bèn hái mà ăn, không bao lâu phục hồi lại sức khỏe. Lúc đó vội vàng xuống núi,ở bên khe suối uống nước, đang uống bỗng nhiên nổi lên trên mặt nước một cái ly, trong ly còn có cơm gạo Hồ. Hai người rất mừng, thầm nghĩ gần đây chắc chắn có người dân ở, liền nhanh chóng leo qua núi, qua một con sông, bờ sông có hai người con gái rất đẹp, trông thấy họ cầm cái ly, liền cười nói: “Lưu, Nguyễn tiên sinh, mời hai vị mang ly đến đây”.

Lưu Thần và Nguyễn Triệu nghe đến rất kinh ngạc, họ ngớ ngẩn nhìn nhau, không nói được. Hai thiếu nữ vui vẻ dường như bạn thân của họ: “Các vị vì sao đến muộn thế?”, rồi mời họ về nhà.

Nhà của nữ lang rât hào hoa, bốn bức tường đều treo trướng lưới, góc trước buộc cái linh vàng, trân châu, bảo ngọc để cho cái trướng không phất lên. Họ còn dùng rất nhiều tỳ nữ, mỗi người làm món ăn khác nhau, bên trong đầy các thứ cơm gạo Hồ, thịt sơn dương khô, thịt bò, v.v… mùi vị rất thơm ngon. Vừa ăn xong lại bưng đào lại, và còn đồng thanh hướng về Nhị Nữ Lang chúc mừng họ được chàng rể đẹp. Sau đó, lại uống rượu vui vầy, mãi cho đến khuya. Các Tỳ nữ đưa Lưu, Nguyễn lên giường, hai người thiếu nữ cũng e thẹn đi vào.

Thử rươu nồng, gái đẹp, ca hát mê say hơn mười mấy ngày, Nguyễn Lưu hai người muốn trở về nhà, lại bị thiếu nữ cầm ở lại nửa năm. Khí hậu ở đây cỏ cây luôn là mùa xuân, chim kêu khiến họ càng nhớ nhà. Thiếu nữ mời họ ở lại không được, chỉ còn tiễn họ đi, trước khi đi thiếu nữ than rằng: “Các vị là người trần tội nghiệp, sau này sẽ hối tiếc”. Lúc đó, chỉ đường đi thả họ về nhà.

Nguyễn Triệu và Lưu Thần về đến quê hương mới phát hiện nhà cửa đường sá đều thay đổi, thân bằng quyến thuộc xưa không còn người nào.Hỏi ra mới biết trong khoảng thời gian đó, nhân gian đã trải qua bảy đời,họ vừa kinh ngạc vừa cảm khái, không biết làm thế nào, chỉ còn cách lên núi lại, nhưng họ cũng không tìm được chỗ ở của thiếu nữ ấy.

Văn nhân đời sau vì kỷ niệm chuyện du sơn lãng mạn, đặc biệt chế ra Từ Bia, đề mục là: “Nguyễn Lang qui”. còn điển cổ của Lưu Nguyễn cũng ở lại trong thi từ lưu luyến mãi đến ngày nay. Trong bài thi “Vô đề” của Lý Trương Ẩn nói: “Lưu lang dĩ hận Phùng Sơn viễn, cách cách Phùng Sơn nhất vạn trùng”. Có thể dùng điển cổ này, sự thật một điển cổ đẹp đẽ là do nhiều thi nhân từ khách yêu thích.

 


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 3.903
  • 118
  • 6.358
  • 118
  • 6.261.953
  • 850.993