Thần tiên Việt Nam

Truyện Thần Tiên Cát Hồng 6 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Sĩ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

CÂU TIÊN CÔ
 

Câu Tiên Cô là người Trường Sa, tu ở Hoành Sơn, 80 tuổi vẫn cô đơn một mình. Kế bên bà ở là tiên đàn của Nam Nhạc Ngụy phu nhân. Một hôm, bỗng nhiên từ ngoài trời bay tới một con gà màu xanh, con gà này lại còn biết nói chuyện, nó nói: “Tôi là sứ giả của Nam Nhạc Phu nhân, bởi vì thấy bà tu hành kham khổi, cho nên ra lệnh tôi đến đây làm bạn với bà”.

Sau này, mỗi khi có người tới núi chơi, gà xanh đều có thể đoán được tên người du sơn. Có một hôm nó bảo Tiên Cô: “Hôm nay có bạo khách tới, nhưng không nên sợ”. Kết quả có một đám hòa thượng, họ cầm đuốc, đao trượng giơ cao định hại Tiên Cô, nhưng Tiên Cô cứ ngồi yên trên giường mà các hòa thượng không trông thấy bà. Cuối cùng các hòa thượng chỉ có cách đi, không ngờ mới ra khỏi cửa chưa bao lâu thì bị cọp bắt ăn.

Câu Tiên Cô sau đó về Hồ Nam ở, gà xanh cũng theo bà đi, sau đó lại nghe nói bà dời đi về Cưu Nghi Sơn, rồi không ai biết bà đi đâu nữa.
 

KIM THẦN
Kim Thần là người Lệ Thành, từ nhỏ đã thông minh hơn người, mà lại thích giả bộ làm khùng làm ngu. Ông đã từng gặp một người lạ dạy cho pháp thuật “Thái Âm luyện hình”. Kim Thần luyện thành công rồi sau đó có thê mình trần nằm trên băng tuyết, ông còn có thể tiên đoán thủy tai, hạn tai, tốt xấu và thọ yểu nữa.

Kim Thần chết rồi, sau khi an táng hơn 100 ngày, có một đêm bỗng nhiên lôi sấm nổ ầm ầm, sau đó sáng ra mới thấy ngôi mộ của ông bị đánh nứt ra mấy tấc, trong mộ chỉ để lại một đôi giày và một cái quạt, người ta vẫn không biết ông đi đâu.

Đạo thuật riêng từng phương diện mà nhìn, đem tiềm năng của từng người giải thích cặn kẽ, nằm trên băng là một công phu không lạnh. Phật giáo Mật tông ở phương diện này tu luyện rất nổi tiếng, còn có nhiều người Yoga có thể hiển thị thể năng và lực lượng tinh thần siêu phàm. Ví như trên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn, mình trần nằm trên tuyết, làm tuyết tan ra, đây chỉ là bước đầu của công phu mà thôi. Có thể thấy tiềm năng con người vô cùng, chỉ cái tầm nhìn của chúng ra không khai phát hết được.
 

TÔ ĐAM

Tô Đam là người huyện Sâm, ông rất hiếu thuận với cha mẹ, ông đã gặp người lạ truyền cho tiên thuật.

Tô Đam mỗi ngày tự tay hầu hạ cơm nước cho mẫu thân, có một hôm mẹ ông bỗng nhiên muốn ăn cá Xạ. Tô Đam liền đi mua cá Xạ mang về. Mẹ ông hỏi mua cá ở đâu ông nói mua ở Tiên huyện. Mẹ ông rất kinh ngạc bởi vì Tiên huyện cách xa huyện Sâm có hơn 100 dặm.

Lại có một hôm bỗng nhiên ông dùng rượu quét rửa nhà mình, bà mẹ hỏi có duyên cớ gì mà làm như thế, Tô Đam nói ông đã thành tiên, Thượng Đế muốn gọi ông về trời. Bà mẹ nói: “Con đi mẹ phải làm sao?”. Tô Đam để lại một cái tủ nói: “Mẹ cần thứ gì trong đó có thứ ấy!”. Lại nói: “Sang năm bệnh dịch lan rộng, mẹ có thể hái lá quýt trước miệng giếng ở sân nhà mà cứu người”.

Tô Đam lên trời, sau đó quả nhiên không bao lâu ôn dịch hoành hành, mẹ của ông đã dùng cách đó cứu sống được hơn 100 người.

Qua một thời gian, Tô Đam hóa thân làm một con hạc trắng đậu trên lầu Quận thành đông bắc, có người muốn dùng cung bắn ông, lại làm gì bắn cũng không trúng. Bạch Hạc dùng móng viết chữ trên lầu:

“Thành quách thị, nhân dân phi. Tam bách giáp tý nhất lai quy, ngô thị Tô Đam, đàn ngã hà vi!”.

Ý của ông nói thành quách không thay đổi mà nhân dân lại đổi mấy triều đại, ông ngàn năm mới về quê một lần, các người không nhận ra ta là Tô Đam thì thôi, vì sao lại dùng cung bắn ta hở!”.
 

ĐÔNG PHƯƠNG SÓC

Đông Phương Sóc tự là Mạn Sảnh, thuộc người Bình Nguyên.

Có một lần ông ta ra khỏi cửa, khoảng một năm mới trở về nhà. Anh của ông hỏi vì sao ông đi lâu thế, Đông Phương Sóc nói rằng: “Tôi đến bờ biển rong chơi, biển có chỗ nước màu tím làm dơ y phục của tôi, tôi chỉ có cách chạy đến Ngô Uyên để rửa sạch. Tôi buổi sáng ra khỏi cửa, trưa lại trở về, vì sao anh nói tôi đi mất một năm?”.

Sự thật, Ngô Uyên cách biển ít nhất một vạn dặm đường.

Thời Hán Vũ Đế, Đông Phương Sóc dâng thư tự cử Mao Toại, ông viết: “Thần là Sóc, từ nhỏ mất cha mẹ được anh và chị dâu nuôi dưỡng.

Năm mười hai tuổi đi học, ba năm hiểu rành văn sử vận dụng rành mạch. Mười lăm tuổi học kiếm, mười sáu tuổi học Thi thư, có thể thuộc hai mươi vạn chữ, năm mười chín tuổi học binh pháp Tôn Tử, tất cả chiến thuật đều thông suốt. Năm nay tôi hai mươi hai tuổi, người cao chín thước ba, môi đỏ như son, răng đều như bắp, dũng mãnh lanh lẹ, thanh liêm và uy tín, nhân tài giống y như tôi, giới thiệu cho ngài Mao Toại không có vấn đề gì”.

Ngữ khí của Đông Vương Sóc không có một chút gì khiêm tốn, và còn có thổi phồng mình nữa, nhưng bậc anh tài đại lược như Hán Vũ Đế dĩ nhiên có măt sáng nhận biết được anh hùng, xem biết người này không phải là một thiếu niên bình thường. Đồng thời lập tức phong ông làm quan, muốn ông ở Kim Mã Môn hầu Hán Vũ Đế, phong và thưởng ban ông rất ưu đãi.

Đông Phương Sóc dùng tiền vua ban thưởng cưới một thiếu phụ ở Trường An, cứ y như vậy, mỗi lần được vua ban thưởng ông đều mang về tặng cho vợ con. Người ta đều cười ông là ngu ngốc, Đông Phương Sóc vội nói: “Ta tránh thế gian làm người trong triều đình”. Có lúc ông uống rượu say ngồi trên đất ca hát, lời ca đại ý là: “Người đời thường nhơ nhớp, do đó ta muốn ẩn cư trong Kim Mã Môn, cung điện có thể bảo tồn tính mạng, đâu cần đi vào trong rừng sâu mà trốn”.

Đông Phương Sóc trước khi chết đối với các bạn đồng liêu nói: “Thiên hạ chưa ai biết được lai lịch của ta, người biết ta chỉ có một người là Đại Ngũ Công!”.

Đông Phương Sóc chết rồi, sau đó Há Vũ Đế biết việc này , bèn triệu Đại Ngũ Công đến hỏi, Đại Ngũ Công thề thốt không nhận, ông nói không biết Đông Phương Sóc là thần thánh cõi nào. Hán Vũ Đế hỏi các tinh tú trên trời phải không? Đại Ngũ Công nói đúng vậy, các tinh tú đều đầy đủ, chỉ có Tuế Tinh không biết 40 năm nay không biết đi đâu, không ngờ ngày gần đây lại xuất hiện. Vũ Đế ngước lên trời thở dài than rằng: “Đông Phương Sóc sống bên ta mười tám năm, mà không biêt ông ta là Tuế Tinh”.

Đông Phương Sóc bay lên trời, nhưng ông để lại cho người đời sau rất nhiều văn chương, văn bút của ông tung hoành thoải mái, du dương Thẩm bổng, và phong phú u mặc, ông dùng thứ văn bút này ám chỉ Hán Vũ Đế phải theo thiện bỏ ấc, Do ở bộ óc khôi hài của ông, không những được Vũ Đế tin yêu, mà còn được nhã hiệu là “Hoạt kê chi hùng” (người hùng có tài châm chọc người tài).

 

HOÀNG AN

 

Hoàng An là người Đại Quận, ước chùng hơn một vạn tuổi. Ông lớn lên gương mặt hồng đẹp như da em bé, do ông thường ăn Châu Sa, toàn thân ông đều hồng. Ngày thường cũng không mặc y phục, ngồi trên lưng con rùa thần. Rùa thần dài ba thước, thời đó có người hỏi Hoàng An tuổi tác của rùa thần, ông đap: “Con rùa này ba ngàn năm mới ló đầu một lần, từ khi tôi gặp được nó đến nay đã ló đầu được năm lần rồi”. Người đời do đây mới biết Hoàng An đã có hơn một vạn tuổi.

 

Hán Vũ Đế ham mộ danh ông, từng mời ông luận đạo, đối với ông rất tôn kính. Lúc Vũ Đế muốn đi tế Kỵ Thái Sơn, mời Hoàng An cùng Đồng Cát, Lý Sung, Mạnh Chi, Quách Quỳnh cả thảy năm người cùng lên xe đi, người ta gọi là “Ngũ tiên thần”. Sau khi Vũ Đế băng hà, Hoàng An rời khỏi kinh thành mãi mãi không biết đi về đâu.

 

Người dân thường gọi vua là “Vạn Tuế”, thực tế ở trên đời có ông vua nào một vạn tuổi không?
 

QUÁCH QUỲNH

Quách Quỳnh là người Đông Phương Quận, tướng cao xấu xí vô cùng, nhưng tấm lòng thì vô cùng rộng rãi. Lúc nhàn rỗi ông thường chống gậy dạo chơi, mệt thì tá túc tại nhà người ta, nhờ chủ nhà cho củi đốt để lấy ánh sáng mà đọc sách. Sách vở đồ thư quí báu bí mật ở trong tủ của chủ nhân, niêm phong rất cẩn mật, mà Quách Quỳnh có thể đoán nội dung trong đó rõ ràng như đồ ở trong nhà mình, nói rõ không sai, nhân đấy cả nhà đều thán phục. Nhưng cũng chính vì lẽ đó, người trong làng vừa nghe Quách Quỳnh xin ta túc, họ đều vội vàng đóng của lại, sợ ông biết chuyện riêng tư giấu kín trong nhà.

Quách Quỳnh không vì lẽ đó mà bỏ qua việc làm của mình, ngược lại mỗi lần ông đên nhà người ta, liền từ trong tay áo móc ra một bàn kính, để trên đầu gối, lấy tay tùy ý rút, thì có thể tính ra nhà nào có chuyện kín riêng tư. Quách Quỳnh hiểu rõ đến chân tơ kẽ tóc, lúc ngủ cũng không nhắm mắt, đến nơi nào có loạn, thì ông mặc áo bày ngực lưng ra giống như người khùng.

“Chân Nhân bất lộ tướng” nhưng ở đây ngược lại lộ chân tướng khác người. Quách Quỳnh thuộc loại người này.
 

QUYỀN PHU NHÂN

Quyền Phu Nhân là phi của Hán Vũ Đế. Có một lần Hán Vũ Đế tuần thú qua sông trông thấy một làn khí màu xanh tía từ mặt đất vọt thẳng lên trời, một đại thần biết xem khí nói đó chắc chắn sẽ có một kỳ nữ, mà cô ta nhất định là điềm lành cho thiên tử. Vũ Đế lúc đó đi theo nơi có làn khí tìm kiếm, không bao lâu trông thấy một người con gái nằm trong quan tài trên không, rất là mỹ miều, hai tay đang nắm lại. Vũ Đế ra lệnh thuộc hạ mở nắm tay cô ta, kết quả thử mấy trăm lần vẫn không ra. Lúc đó Vũ Đế đích thân tời mở cửa, không ngờ vừa mới đụng đến tay người con gái đó hai nắm tay liền mở ra, mà đôi mắt cũng mở ra luôn. Vũ Đế liền đem cô ta về trong cung, cho nên gọi là Quyền Phu Nhân.

Quyền Phu Nhân không những dung mạo đoan trang diễm lệ, đẹp như thiên nga, mà còn thông hiểu đạo thuật.Sau này cô mang thai mười bốn tháng sinh ra Hán Chiêu Đế. Do ngày trước Đường, Nghêu cũng mười bốn tháng sỉnh ra, do đây Vũ Đế gọi cung môn của Quyền Phu Nhân là “Nghiêu ngẫu môn”.
 

TRÌNH VĨ THÊ

Thời đại nhà Hán, Hoàng môn Lan Trình vì thích luyện đan thuật, lấy vợ là Phương Thị. Do Trình Vĩ thường đi hầu Hoàng đế tả hữu y phục không đồng dạng, lúc đó vợ ông biến ra hai cây lụa.Trình Vĩ dựa theo trong sách “Chẩm trung Hần tân” do Phương Tử ghi mà luyện kim, không may luyện mãi cũng không thành, ngược lại vợ ông dùng tay rưới thuốc trong lò đan của Trình Vĩ trong khoảng khắc luyện ra vàng.

Trình Vĩ vừa thấy giật mình kinh ngạc hỏi: “Thì ra nàng cũng thông đạo thuật, sao không sớm chỉ bảo ta?”. Vợ ông trả lời rằng: “Học đạo ẳt cần có mệnh”. Trình Vĩ lúc ấy không kể ngày đêm dụ cô ta nói, và còn mua ruộng vườn nhà cửa, thức ăn ngon, quần áo đẹp cho cô, nhưng vợ ông cũng khăng khăng không chịu chỉ dạy. Trình Vĩ hết kế, chỉ còn cùng bạn bè bày kế, dùng đao trượng ép cô nói.

Vợ ông sớm đã biết rõ tâm tư của ông, về nói: “Đạo nên truyền cho bậc chính nhân quân tử, nếu quả thật có số trời, thì kẻ ở ngoài đường cũng truyền cho, bằng ngược thì thà chết cũng không truyền”. Lúc đó bèn giả khùng rồi trốn đi, không biết đi về đâu.
 

TRANG QUÂN BÌNH

Triều Hán có một đạo sỹ từng cùng một ông lão ở chung nhà, được khoảng chuừng một năm, ông lão bảo ông ta: “Tôi là Trang Quân Bình”, và tặng ông một bộ sách. Sáng hôm sau lão bèn đi. Đạo sĩ mở thư ra xem, đều là đạo lý tu thân đạo đức, trong thư có một câu rằng: “Sự nghiệp và công danh không giá trị bằng một ly nước”.

 


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 42
  • 12
  • 4.110
  • 121
  • 6.262.202
  • 851.008