Thần tiên Việt Nam

Truyện Thần Tiên Cát Hồng 5 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Sĩ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

QUỶ CỐC TỬ
Quỷ Cốc Tử là người thời Xuân Thu triều đại vua Tấn Bình Công, họ Vương, tên Hử, ông từng đi vào Vân Mộng Sơn hái thuốc và đác đạo, dung nhan hồng hào giống như một đứa trẻ.

Ông ở tại Thanh Khê trong Quỷ Cốc, Tô Tần và Trương Nghi đều đến học đạo với ông, họ tập ba năm mới đi. Trong thư của Quỷ Cốc từng tặng họ mấy câu nói: “Hai vị tướng công đều có công danh hiển hách, nhưng hoa mùa xuân đến mùa thu cũng tàn héo, hai vị ngược lại thích cái vinh hoa không thật của sương mai, mà quyên đi sanh mạng (trường tồn) vĩnh hằng, xem thường sự lâu dài của tùng bách mà mê luyến danh lợi chốc thời. Nên biết tình cảm ham muốn đều không lâu dài, thật đáng buồn thay!”.

Quỷ Cốc sống ở nhân gian có mấy trăm tuổi, sau đó không biết mất lúc nào.
Ông để lại hai bộ sách Âm Phù Kinh và Quỷ Cốc Tử, vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay, một số người còn cho ông đáng là Tổ sư của Tung Hoành Gia, ngược lại không biết ông chân chánh tìm cầu đó là Đạo vĩnh hằng, mà Tô Tấn, Trương Nghi quả nhiên lên bái tướng, vinh hoa phú quý, nhưng cuối cùng hạ trường không tránh khỏi bi thảm.
MAO MÔNG

Mao Mông tự là Sở Thành, người Hàm Dương, học rộng trí lớn, ông đoán biết triều Châu sắp suy, do đó không ra làm quan và còn than thở đời người ngắn ngủi như điện xẹt, làm sao không nhận ra cõi hồng trần là tạm bợ.Lúc ấy bèn bái Quỷ Cốc làm thấy, học tập thuật trường sinh, đi vào Hoa Sơn tu luyện.

Tần Thủy Hoảng thứ 30, tháng 9 năm Canh Tý, Mao Mông cưỡi rồng ban ngày bay lên trời. Trước đó không lâu, người ở thôn lưu hành một bài ca dao, nói Mao Mông đã thành tiên, ông sẽ cưỡi rồng bay lên trời, nếu như đế vương học tập với ông thiên hạ sẽ thái bình. Bài hát dân gian này còn lưu truyền đến tai Tần Thủy Hoàng, ông bèn sửa niêu hiệu thành “Gia Bình” (bởi vì trong bài hát có hai chữ Gia Bình).
Mao Mông sau khi bay lên trời, ba đứa cháu gái của ông cũng đắc đạo thành tiên, cùng ở núi Mao, người ta gọi là Tam Mao Quân.
Muốn “Đế vương học đạo” kỳ thật là muốn Đế vương không nên sử dụng quyền lực mê tín áp bức nhân dân, nhưng đáng tiếc quyền lực khiến người ta (hủ hóa) hỗn loạn. Đế vương không muốn học đạo chỉ vì muốn trường sinh, chỉ muốn quyền lực và dục vọng vô hạn “Đạo” đã biến chất. Đế vương chưa được lợi ích của nó thì trước đã bị cái hại của nó, để cái độc cho trăm họ, thì không nên hỏi đạo.
TIÊU SỬ

Tiêu Sử lúc trẻ đã đắc đạo, ông ngồi thổi tiêu, Trần Mục Công đem con gái là Lộng Ngọc gả cho ông. Lễ cưới xong sau này ông dạy Lộng Ngọc thổi tiêu âm thanh giống như phụng kêu, hai người vừa hát vừa hòa, thật là một đôi bạn thần tiên (“Sắc cầm hảo hoà”).

Lộng Ngọc sức lĩnh ngộ rất cao, tiếng tiêu của cô ngày càng giống thật tiếng phụng kêu. Không bao lâu, quả nhiên có một con phượng hoàng bay đến đậu trên cung điện của họ. Tần Mục Công rất vui mừng kinh ngạc, bèn vì hai người này xây một ngôi đài Hỷ. Mỗi đêm khi trăng sáng gió mát, Tiêu Sử va Lộng Ngọc ở trên phụng đài hòa tấu, tiếng tiêu sang sảng lúc Thẩm lúc bổng, uyển chuyển trong đêm khuya, giống như một cặp phụng hoàng đang cũng nhau kêu.

Mấy năm sau, hai người vì thổi sáo mà thành tiên. Có một hôm Tiêu Sử Cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phụng, hai người điều khiển bềnh bồng bay lên trời mà đi.
THÁI NỮ TIÊN


Thái Nữ tiên vốn là người Nhượng Dương, giỏi về thêu thùa. Một hôm bỗng nhiên từ bên ngoài cửa có một ông già tới nhờ cô thêu cho một đôi phượng hoàng, nhưng đợi khi thêu xong ông mới đích thân tới chỉ chỗ điểm nhãn.


Qua mấy ngày, một cặp phượng hoàng màu sắc rực rỡ thêu xong, ông lão đó quả nhiên lại xuất hiện. Ở chỗ chỉ của ông, Thái Nữ thêu mắt phượng lên. Không ngờ mới vừa thêu xong, con phượng sặc sỡ đó đã nhảy ra ngoài, và còn đứng trước mặt họ nhảy múa. Lúc bấy giờ Thái Nữ cũng bỗng nhiên hiểu được, bèn nhảy lên lưng phượng hoàng theo ông lão, mỗi người cưỡi một con phượng bay lên trời mà đi.


Cổ nhân nói: “Họa long điểm tinh”, “vẽ rồng điểm nhãn” sự thật vẽ rồng cũng cần điểm nhãn. Long phụng cũng là đều tượng trưng cho một thứ tính thần siêu việt, rồng đại diện cho dương tính, phượng đại diện cho âm tính. Nhưng đây chỉ là cách tượng trưng thần tiên đâu có nam nữ mà có thể luận bàn.
BẠCH THẠCH SINH

Bạch Thạch Sinh nghe nói ở đời Bành Tổ đã hơn 2000 năm tuổi. Ông không tu tập thuật bay cao, có chí cầu trường sinh bất lão, vẫn có khoái lạc của nhân gian là đầy đủ rồi.

Dù gia cảnh thanh bần, Bạch Thạch Sinh không mua nổi tài liệu thuốc quý, lúc đó chỉ chăn nuôi heo dê, mười mấy năm sau được số tiền rất lớn, ông đem hết tài sản bán đi, mua tài liệu, thuốc nghiên cứu để mong cầu thành tiên.
Bạch Thạch Sinh có một thói quen rất kỳ lạ, ông thường nấu đá trắng để ăn, vì ông chọn một cây Bạch Thạch Sơn để ẩn cư, từ đó đổi tên là Bạch Thạch Sinh.

Dung mạo ông giống như tiên nhân. Tuổi tác tuy cao nhưng dung mạo chừng khoảng 30 tuổi. Có người hỏi ông vì sao không lên trời? Ông trả lời rất hay: “Trên trời chưa chắc đã vui hơn nhân gian, vả lại còn phải hầu hạ nhiều bậc tôn thần, ông sợ mắc phải tội lười biếng.
THIỆP CHÍNH

Thiệp Chính tự là Huyền Chân, người Ấp Đông. Ông tuy sinh ra cuối triều Hán, nhưng bàn về Tần Thủy Hoàng rõ ràng như vẽ.

Thiệp Chính bình thường luôn nhắm mắt, đi đường cũng không mở mắt. Các đệ tử của ông theo ông hai mươi năm cũng chưa thấy ông mở mắt. Có một đệ tử thắc mắc sự kỳ lạ ấy bèn bạo gan thỉnh cầu ông mở mắt. Thiệp Chính chấp nhận nhưng ông vừa mở mắt liền nghe một tiếng sét một vạch màu sáng giống như điện bắn ra, các đệ tử lập tức sợ hãi quỳ xuống đất qua một chút mới dám bò dậy. Từ đó về sau không ai dám muốn Thiệp Chính mở mắt.
Thiệp Chính sau này thành tiên, thời ấy có một tiên nhân Lý Bát Bách cùng ông rất thân, ông gọi Thiệp Chính là: “Bé trai 45 tuổi”.

Mạnh Tử thường nói: “Quan kỳ mâu tử liễu yên”, người chánh tà xem tròng mắt, mắt thần tiên càng sáng trong thêm, thiêu đốt bức người. Nhưng Lão Tử nói: “Sáng mà không chiếu soi! Âm ấm mà chứa ánh sáng mới là người chí cực tu dưỡng”.
AN KỲ SINH

An Kỳ Sinh người thôn Lang Đa, ông trước kia vốn bán thuốc ở bờ biển, người đương thời gọi ông là “Thiên Tuế Công”.

Tần Thủy Hoàng ngưỡng mộ đại danh của ông, từng mời ông vào trong cung gặp nhau, cùng ông bàn luận ba đêm và ban cho ông vàng bạc gấm vóc vô số. Nhưng An Kỳ Sinh không có một chút có ý cầu của cải, giàu sang, lúc ông rời thôn ấp đem tất cả của cải vàng bạc gấm vóc cho người trong thôn. Ông để lại một bức thư và một cặp hài ngọc màu đỏ.

Trước khi đi ông nói với người chung quanh, 1000 năm sau có thể đến Phùng Lai Sơn tìm tôi. Tần Thủy Hoàng biết được phái nhiều sứ giả lên biển tìm kiếm ông, nhưng không tìm được Phùng Lai Sơn mà gặp phải gió lớn, chỉ uổng công rồi trở lại.

Trần Thủy Hoàng thất vọng thương cảm ông, chỉ lập miếu thờ An Kỳ Sinh tại Phụ Hương Đình.
TU DƯƠNG CÔNG

Tu Dương Công là người nước Ngụy, ông ở trong hang Hoa Âm Sơn treo một cái giường đá, tự mình nằm trên giường đá, cục đá thấu qua ông cũng không nhúc nhích. Ông bình thường dùng Hoàng Tinh để ăn. Hán Cảnh Đế từng mời ông vào trong cung, qua một thời gian rất lâu cũng không học được pháp thuật của ông. Cảnh Đế rất vội vã hỏi ngày nào mới chuẩn bị mở lời. Tu Dương Công vừa nghe hỏi một câu đã biến thành con dê trắng, giống như châu ngọc và còn chấp tay nói: “Tu Dương Công cảm ơn Thiên tử”. Cảnh Đế chỉ có cách mang con dê lên đài Linh Thông, không bao lâu con dê trắng này biết nói chuyện rồi không thấy nữa.

Tu Dương Công vì sao chầm chậm không mở lời? Chắc là ông muốn dò xét tâm đạo của Cảnh Đế có thành tâm hay không, và muốn hàng phục sự tôn quí đế vương của ông. Nam Diện làm vua tuy cực quí một thời, nhưng mặt trước của đạo vĩnh hằng, là nhún nhường không đủ, vi tế không đủ đạo.
TƯ MÃ QUÝ CHỦ

Tư Mã Quý Chủ là người Sở, vốn trước kia ở Trường An làm thấy toán số, sau đó lại đến An Vũ Sơn ẩn cư, luyện thành pháp thuật tàng hình. Sau khi đắc đạo dung mạo tươi đẹp như thiếu nữ, râu dài ba thước đen bóng.

Tư Mã Quý Chủ dắt một người đệ tử là Phạm Linh Tử một mạch vào trung sơn thạch thất, trong thất có cái giường bằng đá. Một hôm Tư Mã Quý Chủ muốn đi ra ngoài chơi, kêu Phạm Linh Tử trông coi tủ đá, và dặn anh ta không nên mở ra.

Ông đi rồi, sau đó Phạm Linh Tử vì nhớ nhà muốn mở trộm cũi đá, kết quả anh phát hiện cha mẹ anh em đều ở trong đó, lúc đó anh rất buồn.

Qua mấy năm, Tư Mã Quý Chủ kêu anh giữ cái cũi đồng, kết quả anh lại phạm luật ngăn cấm, và lại gặp cha mẹ anh em lần nữa trong cũi đồng, cuối cùng từ đấy tu thành tiên mà đắc đạo.

Tư Mã Quý Chủ thành tiên, sau đó chỉ để lại một chiếc giường bằng đá.
Y TRỪNG


Y Trừng tự là Sơ Mạc, sau sửa lại tên là Lâm, người Phần Dương. Có một hôm ông qua núi Thái Sơn, thấy trên hòn đá dính một nhánh Thanh Chi, ban đêm phát ra ánh sáng, lúc đó Y Trừng đem nó về làm thức để ăn, từ đó ông có thể đi mỗi ngày sáu bảy trăm dặm đường.


Không bao lâu, Y Trừng đến núi Nga Mi gặp được tiên nhân Tống Quân, Tống Quân dạy cho ông kinh điển thời đại Tam Hoàng và Cửu Đan bí quyết. Y Trừng nỗ lực tu luyện, cuối cùng thành công. Pháp thuật của ông rất nhiều , ví như quẳng thần phù nước đổi sóng liền đổi ngược dòng. Ông lại có thể khiến sóng to trở lại yên lặng. Người chết có thể khiến cho sống lại, thậm chí ông còn có thể mệnh lệnh quỷ quái tự trói buộc mình nhận tội.


Y Trừng sống ở thế gian hơn 340 tuổi. Hán Chiêu Đế niên hiệu Nguyên Thủy năm đầu, Thái Vị Đế Quân sai tiên quan tới đón tiếp ông, phong ông làm Thái Vi Chân Nhân
LƯU AN

Lưu An là cháu Hứa Cao Tổ, nhưng làm Hoài Nam Vương, ông thích nho thuật, chiêu hiền đãi sĩ, từng cùng họ hạ lệnh tân khách biên trước thành sách, người đời sau gọi là “Hoài Nam Tử” hay là “Hoài Nam Vương Thư”. Ông lại trước tác hai quyển Hồng Bảo Vạn Niên, chuyên môn thảo luận về đạo lý biến hóa.

Có một hôm không biết từ nơi nào tới tám ông già (Bát Công) lên cửa cầu kiến Hoài Nam Vương, tiểu sứ giữ cửa định gây khó khăn họ, bèn nói: “
Đại Vương muốn cần ba điều kiện, thứ nhất là muốn trường sinh bất lão, thứ hai là muốn nhà nho học rộng nghe nhiều, thứ ba hy vọng được trai có sức khỏe võ thuật, dũng cảm hùng mạnh mà các ông già thế này, dù không thể trước tác sách, cũng không có võ thuật, ba điều hy vọng của đại vương các ông một điều cũng không đạt thành, tôi không dám dẫn các ông đi bái kiến
”.
Bát Công nghe xong không nhịn cười được, họ trả lời: “Chúng tôi nghe nói Hoài Nam Vương chiêu hiền đãi sỹ, chỉ cần chút tài năng, không chỉ chẳng được làm quan thượng khách. Chúng tôi đây có mấy thứ tài năng, tuy không hợp với yêu cầu nhưng bái kiến Đại vương cũng không hại gì. Anh vì sao làm khó chúng tôi, nêu như Đại vương cho rằng thiếu niên mới là đạo sỹ, già không có khả năng, sợ e chưa tránh khỏi bị lầm hình tướng bên ngoài”.

Bát Công nói xong, liền cùng biến thành đứa tre 15 tuổi, đầu tóc đen bóng mặt hồng như trái đào. Người giữ cửa vừa trông thấy kinh ngạc thất sắc, vội vàng chạy đi thông báo. Hoài Nam Vương vội vã chưa kịp mang giày, đi chân không ra ngoài nghinh đón, ông mời Bát Công thiết trí tư tiên đãi, giường ngà voi, dùng hương rất thơm và bàn ghế bằng vàng ngọc để chiêu đãi họ, tự mình mặc phục trang làm đệ tử, hướng về Bát Công chấp tay hành lễ. Bát Công lúc đó hiện nguyên hình người giá, họ thấy Hoài Nam Vương thành tâm mới hỏi rằng:

“Chúng tôi nghe nói Đại vương ham thích đạo thuật, do đó đến bái kiến thăm hỏi, không rõ Đại vương hy vọng những gì? Chúng tôi một người có thẻ kêu mưa hú gió, chế tạo mấy mù, vẽ đát làm sông hồ, rưới đất thành núi.

Một người có thể dời non lấp biển, ra lệnh cho hỏ báo rồng rắn, sai khiến quỷ thần.
Một người có thể phân thân biến hình, lẩn trốn trong ba quân, một tay che mặt trời.
Một người khác có thể vào lửa không cháy, vào nước không ướt, đao chém không đứt, tên bắn không lủng, mùa đông không lạnh, mùa hạ không nóng,
Một người có thể thiên biến vạn hóa, muốn gì được nấy, có thể biến ra bất kể cầm thú,,cây cổ gì, dời núi lấp sông. Một người có thể phòng tránh tai họa điều xấu ác, tránh tà trừ họa, kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất lão.
Một người có thể luyện bùn thành vàng, luyện chì thành bạc, cưỡi rồng cưỡi mấy, rong chơi trên hư không. Tám pháp thuật này tùy Đại vương lựa chọn”.

Lưu An nghe xong thán phục không ngớt, bèn đích thân dâng rượu, trái cây, đối với họ bái cầu chỉ dạy, mong được mỗi vị thử tài, kết quả Bát Công đều hiện thần thông, quả thật tiếng đồn không sai. Lưu An lúc đó học đan kinh với họ và các thứ đạo thuật khác.

Đơn dược của Lưu An không bao lâu luyện xong, ông vẫn chưa dùng, còn con trai của ông là Lưu Thiên ham thích kiếm thuật. Lang Trung Lôi được cùng anh ta so kiếm, không cẩn thận đâm trúng Lưu Thiên, Lôi sợ bị giết bèn dâng sớ vu Lưu An định tạo phản, thiên tử phái người đến trị tội Lưu An. Bát Công lúc đó bảo ông rằng: “Anh nên đi, đây là trời cho anh cơ hội, không nên chần chừ”.

Lưu An chấp nhận kiến nghị của họ, chọn ngày tốt giờ hoàng đạo lên núi mà đi, đem vàng chôn dưới đất, ông bèn leo lên núi ban ngày bay lên trời luôn. Bát Công và Lưu An đi qua nơi nào ngay cả hòn đá cũng đều rớt xuống, đến ngày nay vẫn còn dấu chân của người ngựa. Chỗ ông để cái vạc nấu thuốc, gà chó liếm cũng đều bay lên trời, một chốc chỉ nghe trong mấy có tiếng gà gáy, trên trời có tiếng chó kêu, thật náo nhiệt. Cho đến ngày nay chúng ta lưu truyền câu thành ngữ:”gà, chó bay lên trời” là có từ chuyện Hoài Nam Vương Lưu An mà ra.

Tiên thuật của Hoài Nam Vương không có cách nào giải thích, nhưng ông đã chủ trì biên cuốn “Hoài Nam Tử” lại là tổng hợp lại tư tưởng Hán Tần, không những có giá trị về học thuật, có tài về văn chương, nó cống hiến cho đời sau tiên thuật rất sấu xa, rất nhiều.

 


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 5.236
  • 175
  • 9.180
  • 165
  • 5.491.517
  • 831.050