Thần tiên Việt Nam

Truyện Thần Tiên Cát Hồng 3 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Sĩ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

LÃ THƯỢNG (KHƯƠNG TỬ NHA)

Lã Thượng là người Kỳ Châu, ông là người đại trí có thể biết được còn hay mất.Vì tránh sự bại chính của Trụ Vương nhà Thương, ẩn cư ở Liêu Đông đến năm 30. Sau đó lại ẩn cư ở Nam Sơn, ngày thường thích đến khe suối thả câu không có lưỡi cho nên 3 năm cũng chẳng câu được con cá nào. Mọi người đều khuyên ông không nên câu nữa, ông ta lại đáp: “nguyện giả thương câu” (người có nguyện vọng mới câu) đồng thời biểu thị đạo lý rất thâm sâu trong đó, người thường không hiểu nổi. Quả nhiên, không bao lâu sau ông câu được con cá chép lớn, trong bụng có có chứa binh thư rất cao sâu. Trong bảng Phong thần nói ông ta nhân đây được Châu Văn Vương dùng lễ mời làm Tể tướng của nhà Châu, dùng chiến thuật, chiến lược không lường trước được cạn sâu, để bàn chuyện bình định Thiên hạ, phò tá Vũ Vương, xây dựng triều Châu to lớn.

Người đời sau gọi ông là Khương Thái Công. Đương nhiên, cuối cùng ông cũng thành tiên, nhưng sự tích nổi tiếng của ông vẫn là triết học:”Khương Thái Công lâu ngư nguyện giả thương câu”. Cho đến hơn 80 ông mới gặp Văn Vương ở bến sông Vị. Tài cao thành đạt muộn cho nên người đời sau khích lệ rất lớn. Trương Nhạc Quân tiên sinh nói: “Nhân sinh thất thập tài khai thỉ” (đời người 70 tuổi mới trổ tài). Trang Chí Nha Hoài và Thái Công co cái (diệu) khéo khúc điệu khác nhau mà diễn như nhau.
 
LƯU VIỆT
Thời nhà Châu có Khang tiên sinh tên Tục, tu ở Nam Chương Sơn. Trong thời ông tu tập, thường có một thiếu niên đến thăm ông, lời lẽ kỳ vĩ, tiên sinh rất ngạc nhiên, bèn hỏi cậu bé rằng: “Trông phong thái cậu tốt như thế, dám hỏi tên họ là chi, phủ ở nơi nào?”.

Thiếu niên đó đáp: “Tôi họ Lưu, tên Việt, ở phía bên trái ngọn núi này, dưới núi có hòn đá cao hơn hai trượng, ngài gõ nó tôi liền mở cửa, ngài có rãnh xin mời đến!”.

Có một bữa Khang tiên sinh y như lời hẹn hôm trước, gõ hòn đá, quả nhiên tự động hai cánh cửa mở ra, một tiểu a hoàn đi ra tiếp đón ông, phía sau còn có hai thanh niên trẻ cầm bảo trướng màu hồng làm tiền đạo. Dần dần ông trông thấy một dãy dinh lầu cao thấp không đồng, vàng ngọc sáng chói, còn có cả chim quý thú lạ, cây cỏ cũng khác bên ngoài động.

Trong đó có một vị tiên nhân đội mũ ngọc, mặc hồng bào tới nghinh tiếp ông.

Trong lòng Khanh tiên sinh rất muốn ở lại lâu, mới khởi niệm đã bị tiên nhân phát giác liền. Lúc đó, tiên nhân bảo ông rằng: “Âm đức của ngài chưa tròn đầy,sau này mới có cơ hội gặp mặt, ngày khác gặp nhau cũng không muộn nha!”.

Tiên nhân mời Khang tiên sinh uống ba ly rượu ngọc, ngoài ra còn một bát thuốc hộ mạng kéo dài tuổi thọ, sau đó tiễn ông đi về, Khang tiên sinh ngoái đầu nhìn lại, hòn đá ông gõ vẫn nguyên như cũ. Qua mấy ngày sau ông lại đến gõ cửa động thăm hỏi, rốt cuộc không có phản ứng gì mãi cho đến sau này nghe nói hòn đá ấy vẫn còn trên núi, trên hòn đá có hai chữ lớn: “Lưu Tiên”.
 
CÁT DO
Cát Do là người Tây Khương, thời Chu Thành Vương ông làm nghề khắc cây dương để sống. Có một hôm ông cưỡi dê đi Tứ Xuyên, người Vương Hầu Quý của Tứ Xuyên theo ông mãi cho đến Dao Sơn. Dao Sơn ở phía tây nam núi Nga My, đỉnh cao ngất trời.

Người theo ông đều không thấy quay trở lại, nghe nói họ cùng Cát Do đắc đạo thành tiên. nhân đây, lời tục nói: “Nếu được nhìn thấy Dao Sơn, tuy không thành tiên cũng thành bậc hào kiệt.”.

Trong văn tự Trung Quốc, tiên là chữ Sơn và chữ Nhân hợp lại thành do là họ vừa ở trong núi phần nhiều tu tiên. Ngày xưa, người dân đối với núi trong lòng kính sợ, lại thêm thần cách hóa do đó chữ tiên, chữ sơn dính lại không tách ra. Có thể thấy rằng, đây không phải là ngẫu nhiên. Qua núi còn trời, đây là trung gian bao hàm một thứ “tín ngưỡng hướng lên”.
 
BÀNH TÔNG
Bành Tông tự Pháp Tiên, người Bành Thành, năm 20 tuổi học đạo với Đỗ Xung, từng theo thầy hái thuốc, không cẩn thận té xuống hang sâu, lại không bị tổn thương chút nào. Thầy bảo ông đi hái thuốc bị rắn cắn cũng không để ý.

Đỗ Xung thương xót ông, bèn truyền cho ông Đơn Kinh diệu đạo. Bành Tông nỗ lực tu hành, tiến bộ rất nhanh, thường có đèn thần chiếu soi, lại có mây ngũ sắc vây quanh phòng của ông. Ông có thể ba ngày một đêm liền đổi giọng nói, cũng có thể nằm dưới đáy nước cả ngày mới lên.

Có khi cao hứng ông ngủ một giấc cả năm tròn, người ta cho ông là chết rồi, nhưng đợi ông tỉnh lại, khi sắc trái ngược lại còn tươi tắn hơn nữa. Có một thợ săn từng định nhục mạ ông, ngược lại bị ông dùng khí chặn đứng lại, không thể nhúc nhích.

Bành Tông lại còn triệu u linh đến phạt anh ta, người xung quanh không thấy hình, chỉ nghe tiếng roi da đánh, đợi thợ săn ăn năn mởi thả ra. Bành Tông lúc 150 tuổi hơn, tháng giêng năm đó Thái Thượng Lão Quân phái tiên quan xuống Phàm nghinh đón ông và phong ông làm Thái Thanh Chân Nhân.
 
VƯƠNG TỬ KIỀU
Vương Tử Kiều là thái tử của Châu Linh Vương, tên tự là Tố Tuấn, ông rất thích thổi kèn, thổi nhạc thật hay, phát ra âm thanh lảnh lót rất giống tiếng phụng kêu. Ông từng đến Y Lạc một nơi vui chơi. Đạo nhân Phù Khưu Công đón ông lên núi rất cao.

Hơn 30 năm sau, ông gặp Bách Lương bèn bảo với người bạn thân này rằng: “Có thể cho người nhà tôi biết, ngày 7 tháng 7 đi đến đầu núi Câu đợi tôi”. Đến ngày đó, Vương Tử Kiều quả nhiên cưỡi hạc trắng xuất hiện giữa các đỉnh núi, có thể trông mà không có thể tiếp xúc đến, ông chỉ ở tại không trung hướng người nhà gật đầu liên tiếp thăm hỏi mà thôi. Hình bóng này liên tục mấy ngày mới đi, người đời sau vì ông mà lập một ngôi miếu tại Câu Thị Sơn để kỷ niệm.

Vương Tử Kiều là một tiên nhân rất nổi tiếng của thời cổ đại. Kèn ông thổi và cưỡi hạc trắng đều là “đạo cụ” của tiên khí, đó là điều mà thi nhân rất thích miêu tả ông. Trong “Cổ thi tập cửu thủ” của triều Hán có một bài thơ rất nổi tiếng đề cập đến ông, bài thơ rằng:

“Sinh bình bất mãn bách, thường hoài thiên tuế ưu, trú đoản khổ dạ trường, hà bất bình chúc du, vi lạc đương cập thời hà năng đãi lai từ. Ngu giả ái tích phi, đãn vi hậu thế xi, tiên nhân Vương Tử Kiều, nan khả dĩ đằng kỳ”.

Bài thơ này than thở đời người ngắn ngủi, lo lắng nhiều, ngày ngắn đêm dài, nên kịp thời tìm vui. Nhưng người ngủ không buông bỏ hưởng lạc được, chỉ đợi người đời sau tới chê cười, muốn biết bao như Vương Tử Kiều, là tiên nhân bất tử đó, rất khó hy vọng đạt hơn!

Đời người khổ nhiều vui ít mà còn ngắn ngủi vô thường, do đó rất dễ hứng khởi những tư tưởng hưởng lạc, đương nhiên là không lành mạnh, bởi vì vui quá sinh ra buồn, cuối cùng rốt cuộc tiêu tan (huyển diệt). Vì vậy, bèn hâm mộ trường sinh của tiên nhân, rất nhiều truyền thuyết thần tiên là thứ sản vật của tâm lý.Nhưng thi luận thì, đây chính là bài kiệt tác chưa từng có, đặc biệt là bốn câu trước sớm đã thành gia dụ hộ hiểu, cách ngôn truyền tụng muôn đời.
 
THẨM NGHĨA
Thẩm Nghĩa là người Ngô Quận, ở Tứ Xuyên học đạo, tinh thông y thuật, một lòng chỉ muốn cứu người, tâm thiện của ông cảm động trên trời.

Châu Noãn Vương thứ mười, Thái Thượng Lão Quân sai sứ giả đến mời ông lên trời, và ban cho vợ con ông cùng đi, phong ông làm Bích Lạc Thị Lang, lúc đó ông ở giữa ban ngày bay thẳng lên trời. Ngày hôm đó ông còn đang cày ruộng, mọi người đều trông thấy bỗng nhiên có một trận sương mù lớn, sau khi sương mù tan Thẩm Nghĩa cũng không thấy đâu nữa, chỉ còn con trâu thường ngày ông dắt ra đồng đang ăn cỏ.

Hán Thương Đế niên hiệu Dương Bình năm đầu, cách thời điểm Thẩm Nghĩa thành tiên 412 năm, ông mới trở về quê, tìm được mười đời con cháu của mình, tên là Hoài Hỉ. Hoài Hỉ nhớ phảng phất nghe tổ tiên đời trước nói về một vị tổ tiên xa xưa lên trời.

Thẩm Nghĩa nghe ra rất mừng bèn bảo Hoài Hỉ đầu năm nay lúc lên trời không gặp Thượng Đế, chỉ bái Thái Thượng Lão Quân, Lão Quân ở hướng đông, cung điện đẹp đẽ, mây ngũ sắc mờ mịt, trong sân đến nơi nào cũng là cây châu ngọc, người hầu có hơn 100, nam ít nữ nhiều, bốn vách bày đầy Đạo Kinh.

Thái Thượng Lão Quân thân cao mấy trượng, thân thể có ánh sáng không thể nhìn thẳng. Lão Quân sai ngọc nữ cầm án vàng ly ngọc, thuốc khỏe ban cho Thẩm Nghĩa nói: “Đây là thần đơn, uống rồi có thể không chết”. Vợ chồng Thẩm Nghĩa mỗi người uống một ly.

Lão Quân lại ban cho hai quả táo lớn như trứng gà. Ngoài ra còn tặng tiễn ông một sợi bùa thần và phương hướng tiên, để họ về nhân gian cứu người bệnh khổ, nếu như muốn trở lên trời, thì lấy bùa thần tới đón. Lão Quân nói xong Thẩm Nghĩa ngủ liền, không bao lâu tỉnh lại đã thấy thân nằm trên đất.

Nghe nói Đậu Thái hậu từng mời ông khám bệnh, thời An Đế còn thấy ông ở nhân gian, cuối cùng Thẩm Nghĩa vẫn đi lên trời thành tiên.
Phần trước đã đề cập đến điều kiện tất yếu của việc làm lành tích đức là thành tiên đắc đạo, từ chuyện Thẩm Nghĩa lại có được một cơ hội chứng minh.
 
CHÂU LƯỢNG
Châu Lượng tự là Thái Trịnh, người Thái Nguyên, mẹ của ông mỗi tối lúc ngủ thất mây ngũ sắc bao trùm trên trần nhà, do đây cảm ứng mà mang thai, trải qua 15 tháng mới sinh ra Châu Lượng.

Châu Lượng lớn lên sau đó bái Diêu Thần làm thấy, học võ đạo thuật của Bát Tổ chân kinh, có thể sai khiến ma quái hiện thành hình. Vương Tử Kiều nghe đại danh của ông, bèn mời ông tương kiến, ban cho ông Cửu Quang thất minh chi. Châu Lượng ăn xong đầy đủ thần thông biến hóa. Ông có thể biến thành ông già răng rụng tóc bạc, một chút lại biến thành trẻ con, có dáng vóc như hoa. Có kẻ xấu đến làm nhục ông, lại không ngờ tự trói mình lại, còn đánh khảo mình đổ máu, cho đến khi van xin mới được Châu Lượng thả ra.

Châu Lượng hơn 190 tuổi, lúc ấy thời Châu Uy Liệt Vương thứ 24, Thượng Đế sai thiên quan xuống rước về và phong ông làm Thái Long Chân Nhân.

Khổng Tử nói: “Nhân giả vô địch”, xem ra tiên nhân cũng là người vô địch, mà phương thức vô địch càng thú vị.
 
CANG THƯƠNG TỬ

Cang Thương Tử họ Cang Tang, tên Sở, người nước Tần. Ông có thể lĩnh ngộ diệu đạo của Lão Tử, ẩn cư trên ngọn núi Côn Lăng Mạnh, ông đã nói một lời rất chí lý:

“Luyện gân cốt thì được bảo toàn thân thể, khắc chế tình dục thì năng bảo toàn tinh thần, ít nói chuyện thì năng bảo toàn phước khí.”

Đương nhiên, cuối cùng ông cũng đắc đạo lên trời.

Trang Tử thường đề cập đến người này, cũng cho ông là có đạo thuật. Xác thật, ở trong mắt một số người tiên đạo thần kỳ không lường do Cang Thương Tử nói ra lại rất bình dị gần gũi. Luyện tập thân thể, khắc chế tình dục, ít nói chuyện, mấy việc này ai làm không được? Chỉ đáng tiếc chúng ta đều không để ý, nếu như mọi người theo đây tìm cầu tự ngã, mỗi ngày tiến bộ, thành đạo thành tiên cũng không phải hoàn toàn không thể được!
 
CẦM CAO

Cầm Cao người nước Triệu, sở trường trống và đàn cầm, ông tu tập đạo thuật có thể đi trên mặt nước.

Có một hôm ông muốn đến Trúc Thủy đi bắt rồng và có hẹn với đệ tử, một ngày nào đó trở về. Các đệ tử của ông trai giới tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị phẩm vật tế lễ đợi ở bên bờ sông. Đến ngày hẹn hôm đó Cầm Cao quả nhiên cưỡi cá chép trở về, một lúc người ta đổ xô tới náo nhiệt có hơn một vạn người. Cầm Cao ở nán lại một tuần lễ, sau đó lại trở về trong nước.

Trong chuyện Đạo Giáo, thần tiên thường cùng thú chạp chim bay, cho đến cá rồng trong nước phân biệt không ra, đây là một phương diện biểu hiện của thần tiên.
 
PHỤ CỤC TIÊN SINH
Phụ Cục tiên sinh khấu âm giống người khoảng thời đại nhà Yên, ông bình thường làm nghề mài gương, mỗi lần mài gương đều hỏi chủ nhân có bệnh hay không, nếu có thì cho tủ hoàn hồng dược viên uống xong liền hết bệnh. Có một lần ở một xứ bệnh dịch lan rộng, Phụ Cục tiên sinh phải cho thuốc lần lượt từng nhà.

Sau đó Phụ Cục tiên sinh đi đến sườn dốc núi đường cùng để ở, đời đời tặng biếu thuốc cho người. Ông nói: “Tôi định về Phùng Lai Sơn, vì quý vị ở đầu bến khai một dòng Thần thủy (nước thần).

Có một hôm hòn đá đầu dốc chảy ra một dòng nước trắng, người bị bệnh uống vào lập tức khỏe mạnh, người ở thôn đó vì Phụ Cục tiên sinh lập ra một miếu thờ để thờ phụng ông.
 
                                                                            TRANG TỬ

Trang Tử tên là Chu, từng làm quan Tất Viên Lai (sơn vườn) ông là người cùng thời đại với Long Huệ Vương và Tề Tuyên Vương.
Sở Uy Vương ngưỡng mộ tài học của ông phái sứ thần mang hậu lễ mời ông làm quan tể tướng.
Trang Tử cười đáp: “Tôi nghe nói người nước Sở có con rùa thần, đã chết ba ngàn năm rồi, vua lấy hoàn gỗ bao lại để trong miếu. Thử hỏi con rùa này thà chết mà hưởng vinh hoa còn hơn thà sống làm kẻ kéo lên đuôi dưới sình lầy chăng?”.
Sứ giả trả lời: “Đương nhiên là thà chịu kéo lê đuôi dưới sình”.
Trang Tử nói: “Về đi, ta cũng muốn kéo lê đuôi dưới sình”.
Sau đó, Sở Vương lại mời ông lần thứ 2, Trang Tử đáp: “Ngài xem, con trâu làm vật hy sinh, mặc áo hoa ăn cỏ ngon, một ngày nọ lôi vào thái miếu giết, ngay cả con trâu đất đều không thể được”.
Trang Tử cả đời không làm quan, cuối cùng nghe nói cũng thành tiên, có một bộ sách Trang Tử lưu truyền ở đời.

 


Ai đang trực tuyến

  • 2
  • 2.147
  • 103
  • 4.980
  • 143
  • 5.674.136
  • 836.366