Thần tiên Việt Nam

Truyện Thần Tiên Cát Hồng 2 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Sĩ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

THƯỢNG NGUYÊN PHU NHÂN
Hán Vũ Đế năm hiệu Nguyên Phong ngày mùng 7 tháng 7 năm đầu, Vương Mẫu Nương Nương cưỡi mây tía xa giá (lân vằn ngũ sắc) con lăn có vằn năm màu giáng lâm ở trong cung. Vũ Đế quỳ lạy hỏi thăm, Vương Mẫu lệnh cho vua ngồi, sau đó sai thị nữ nghinh đón Thượng Nguyên Phu Nhân, có truyền thoại nói:
“Lưu Triệt (tên vua Vũ Đế) ham thích đạo thuật, tôi vừa tới thăm ngài, phu nhân không mời mà đến có được chăng?”
Thị nữ trở về nói Thượng Nguyên Phu Nhân vui vẻ nhận lời và đã lên đường. Không bao lâu cách xa Ngân Hà, xuất hiện một vị tiên nữ đoan trang,dung nhan dáng người ước chừng 50 tuổi.
Vũ Đế hỏi Thượng Nguyên Phu Nhân là thần thánh phương nào.Vương Mẫu Nương Nương bảo vua Bà là mẹ của Tam Thiên Chân Hoàng, thống quản sách sổ tiên đang có (nguyên quán của tiên đang có).
Không bao lâu, Thượng Nguyên Phu Nhân đã cưỡi kỳ lân giáng lâm. Bà mặc áo bào màu sương xanh, trên đầu chải thành ba búi tóc, tóc dư còn thả xuống tới lưng eo.Vũ Đế thấy bà nghiêng mình lễ bái, Thượng Nguyên Phu Nhân mở lời hỏi Vũ Đế:
“Ngài muốn cầu đạo chăng? Tánh ngài rất thô bạo, rất tham dâm, quá xa xỉ, quá tàn bạo, quá hiểm trá, năm cái hại này thường ở trong ngũ tạng của ngài,dù cho ham thích đạo thuật, cầu trường sanh,cũng chỉ cực nhọc uổng công.”
Thượng Nguyên Phu Nhân không khách sáo phê bình xong rồi, sau đó đem mười hai điều giới luật khuyến tu truyền cho Vũ Đế, hy vọng ông ta có thể sửa đổi chuyển làm lành. Vũ Đế cung kính vâng lời dạy, sau đó bằng mắt tiễn đưa vị Thánh Mẫu chầm chậm bay đi.
Nếu như có chuyện “Vương Mẫu chúc thọ” là do nịnh thần biên soạn, chuyện “Thượng Nguyên huấn đế” có ra là từ ngọn bút của trung thần. Đế vương thời cổ đại (quyền sinh quyền sát, chí cao vô thượng) quyền sinh sát rất cao. Nhân đây muốn phê bình một vị đế vương, mọi việc chỉ có thể mượn lời thần tiên. Đạo gia cho là: “Đạo tỷ thế tôn” đây là trong hoàn cảnh chính trị chuyên chế độc quyền ít nhiều phát huy một vài tác dụng của chế độ nhận định (so sánh)
 
XÍCH TÙNG TỬ

Xích Tùng Tử là Vũ Sư của thời Thần Nông. Ông từng dạy Thần Nông phép thuật vào lửa không cháy. Sau đó ông đến núi Côn Lôn thường ở trong nhà đá (thạch thất) của Tây Vương Mẫu, đồng thời thích rong chơi trong mưa gió. Con gái nhỏ của Viêm Đế theo ông ta cũng tu thành tiên.

Hai người họ tuy đã tu thành tiên nhưng lại thường đến nhân gian để rong chơi. Mưu sĩ Trương Lương của triều Hán Lưu Bang, lúc phụ tá Cao Tổ bình định thiên hạ xong rồi bèn để lại một bức thư nói là theo Xích Tùng Tử vân du bốn biển học hỏi đạo lý tu tập.
 
HỒNG NHAI TIÊN SINH
Hồng Nhai tiên sinh nghe nói là quan nhạc Linh Luân của Hoàng Đế, sau đó tu đắc đạo thành tiên. Có người nói ông vào thời đại nhà Nghiêu đã ba ngàn tuổi rồi. Vệ Thúc Khanh là tiên nhơn của triều Hán, từng ở trên đỉnh núi rất cao và mấy người cùng nhau đánh cờ. Con trai của ông hỏi ông ta rằng: “Người cùng cha đánh cờ là ai vây?” Thúc Khanh đáp rằng: “Là Hồng Nhai tiên sinh đấy!”.


Xích Tùng Tử và Hồng Nhai tiên sinh đều là tiên nhân nổi tiếng, thông thường xuất hiện trong thi văn các triều đại. Ví dụ như trong thơ Du tiên của Quách Phác triều Tấn nói: “Bên trái chào tay áo Phù Khưu, bên phải vỗ nhẹ vai Hồng Nhai”. Trong thơ Lý Bạch cũng đề cập đến ông. Đại khái thi nhân so ra điều thoát tục, giàu ở sức tưởng tượng, do đó trên tinh thần, cùng tiên nhân đặc biệt thân thiết, hy vọng cùng họ vượt ra ngoài thế giới, rong chơi bốn phương
 
MÃ SƯ HOÀNG

Mã Sư Hoàng là Hoàng đế thú y, chuyên môn sở trường về trị bệnh ngựa, hiểu biết rất nhanh về sinh lý và bệnh lý của ngựa, một khi trị tức liền hết bệnh.

Một hôm ông thấy một con rồng từ trên không trung xuống, hướng về ông ta rũ tai xuống há mồm ra. Sư Hoàng liền hiểu rõ, thì ra con rồng bị bệnh, đến nhờ ông chữa trị nó. Lúc ấy ông dùng phép châm cứu chích vào miệng con rồng, còn lấy cam thảo thuốc thang cho nó uống, không bao lâu thì con rồng quả nhiên được trị lành.
Vì muốn báo đáp ân của Sư Hoàng trị bệnh, rồng cuốn vị thần y này thành tiên bay đi.

Đương nhiên không ai thấy Mã Sư Hoàng đi đâu nhưng chuyện này ngược lại nói rõ về văn hóa Trung Quốc có tư tưởng đặc biệt “thiên nhân hợp nhân” . Con người không những đối với đồng loại nên hòa hảo sống với nhau, cho đến còn ra ăn ở với khác loại. Đây cũng là ý nghĩa chân thật (dân ngô đồng bào, vật ngô dữ dã!) dân là đồng bào ta, vật cùng với ta vậy!

Ngoài ý thuật của Sư Hoàng ra cũng có thể phát hiện Trung Quốc ở thời đại Hoàng Đế y học đã phát đạt rồi. Hiện nay một số người nói châm cứu là từ Trung Đông truyền vào Trung Quốc, sự thật có nhiều sách ghi chép bao gồm kinh điển của Đạo giáo đều có thể chứng minh lịch sử của châm cứu ít nhất có trên hai ngàn năm, lúc đó Trung Đông vẫn chưa thành vùng văn hóa. Do đó thuyết châm cứu xác thật là tinh túy quốc gia Trung Quốc.
 
VỤ QUANG

Vu Quang người triều Hạ, lỗ tai của ông dài đến bảy tấc, thường ngày thích ăn rau hẹ, hương bồ.

Vua Thang nhà Thương thảo phạt vua Kiệt nhà Hạ thành công rồi, sau đó định nhường thiên hạ cho Vụ Quang. Vụ Quang từ chối không nhận, ông nói với vua Thang:

“Đoạt ngôi vua người ta là bất nghĩa, giết người là bất nhân, Người ta mạo hiểm gặp khó khăn mà tôi ngồi hưởng thụ thành công đó là không liêm khiết. Tôi làm sao có thể tiếp nhận ngôi vị vua của ngài!”.

Nói xong, ông liền ôm cục đá to nhảy xuống sông Thẩm mình.

Nhưng nói cũng kỹ lạ, hơn 400 năm sau, đến thời nhà Đinh vua Vũ ông lại xuất hiện ở nhân gian. Nhà Đinh Vũ định mời ông làm Tể Tướng. Ông lại cự tuyệt kheó léo. Sau đó nghe nói ông đi đến Thượng Phụ Sơn du lịch, từ đây về sau không còn thấy ra khỏi núi.

Trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều vị ẩn sĩ cao khiết, khi thay đổi triều đại thà chết cũng không chịu ra làm quan. Còn có một số người thậm chí lúc thái bình cũng muốn ẩn cư không chịu tìm công danh lợi lộc.Vụ Quang là một vị rất điển hình trong số đó, người đời sau nói ông thành tiên rồi, hoặc chính vì yêu mến nhân phẩm cao thượng của ông, không chấp nhận ông chết ở dưới ngọn sóng lớn chăng?! Ở đây giống như Tết Đoan ngọ tế Khuất Nguyên không khác.
 
MẠNH KỲ

Mạnh Kỳ người Thanh Hà, ông vì cầu thầy học đạo mà không quản gian nan hiểm trở. Thời Hán Vũ Đế nghe ông bàn về việc năm đầu của triều Chu rõ ràng như trước mắt. Ông từng nói thấy Chu Công ôm Thành Vương ở trong Châu miếu sáng sớm. Mạnh Kỳ lúc ấp đang hầu Chu Công trên đàn, từng lấy tay sờ thân của Thành Vương. Chu Công liền lấy một cái hốt cho Mạnh Kỳ. Mạnh Kỳ rất yêu quí cái hốt này, thường dùng nó phủi tay áo, do đó đến thời Vũ Đế cái hốt này chóng gãy.

Mạnh Kỳ thường ngày ở dưới triền Hoa Âm Sơn hái thuốc, ông nghe nói Hán Vũ Đế ham thích thần tiên bèn khoác áo cỏ lê lại hiện ở nhân gian.

Mạnh Kỳ cầm cái hốt là một cảnh rất thú vị trong bức quốc họa.Tiên nhân đều thành tiên vì sao còn cầm hốt? Là tâm phàm chưa diệt hết hay quyến luyến công danh chăng? Đương nhiên không đúng bởi vì cái hốt này là do Chu Công ban tặng mà Chu Công lại là bậc thánh nhân vĩ đại. Tiên nhân cầm hốt chính là một thứ nhớ nhung đối với tiên vương cổ thánh, và lại ám chỉ thần tiên tuy xuất thế gian nhưng hoàn toàn không phủ nhận giá trị của lễ, nhạc, mà việc làm của tiên là tiên, ắt cần phải bắt đầu tu dưỡng từ thánh hiền. Chuyện tiên nhân cầm hốt là khéo léo nói rõ (“Tiên thánh hiền hậu thế thần tiên”) một trình độ thứ tự tu học của mà còn chỉ bảo người đời, tu học đạo không phải chạy trốn mà vượt qua.
 
KHƯƠNG DŨ

Khương Dũ là người triều đại Châu Vũ Vương, ông có tất cả bảy anh em, mỗi người đều có đạo thuật, cùng làm nhà trong núi. Sau đó đều thành tiên, chỉ bỏ lại một cái nhà cỏ trống không, Nhân đây người đời sau gọi đó là Lô Sơn. Hán Vũ Đế còn đặc biệt phong Khương Dũ là Lô Sơn Quán.

Lô Sơn giống như nhiều danh sơn của Trung Quốc, nó trở thành đối tượng của người đời sau ngâm vịnh, hội họa, một mặt cố nhiên vì phong cảnh đẹp, còn một mặt cũng vì trong đó có một ít tô điểm chuyện thần tiên. Cái gọi là: “Nhân kiệt địa linh”, “Hữu tiên tắc danh”, người Trung Quốc thích một địa phương, tuyệt đối không xem nó là cảnh quan tự nhiên, còn muốn nói bao hàm văn hóa của nó, đây cũng là một thứ biểu hiện “Thiên Nhân Hợp Nhât”.
 
THANH ĐIỂU CÔNG

Thanh Điểu Công là đệ tử của Bành Tổ, ông được chân truyền của Bành Tổ, vì muốn nghiên cứu tinh thâm tiên đạo bèn đến trong Hoa Âm sơn chuyên tâm tu học. Ông học mãi 471 năm trải qua 10 lần thí nghiệm, có 3 lần chưa được thông qua, sau đó uống vàng nước (kim dịch) mới được bay lên trời. Thái Cực Đạo Quân, bởi vì ông có ba lần ghi chép thất bại, chỉ gọi ông là tiên nhân, chẳng gọi ông là chân nhân.

Tuy đạo hạnh của Thanh Điểu Công chưa đạt đến cảnh giới tối cao, nhưng ông có hệ thống học vấn ảnh hưởng đời sau rất lớn, đó là thuật địa lý phong thủy. Người Trung Quốc cho là phong thủy của mồ mả tổ tiên sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh đời sau của con cháu, quan niệm này nghe nói được truyền từ Thanh Điểu Công. Do đó chúng ta có thể nói Thanh Điểu Công là một tiên sinh địa lý đệ nhất của Trung Quốc. Các tiên sinh địa lý đời sau đều thờ ông là Tổ Sư, thuật phong thủy nhân đây được gọi là Thuật Thanh Ô.
 
 

 


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 5.286
  • 177
  • 9.180
  • 165
  • 5.491.567
  • 831.052