Thần tiên Việt Nam

Truyền kỳ Mạn Lục chương 7-8

Truyền kỳ mạn lục
Chương 7 Chuyện nghiệp oan của Đào Thị (*)
Ả danh kỹ ở Từ Sơn (1) là Đào Thị, tiểu tự Hàn Than, thông hiểu âm luật và chữ nghĩa. Niên hiệu Thiệu Phong (2) thứ năm (1345) đời nhà Trần, nàng được tuyển sung vào làm cung nhân, hằng ngày chầu vua ở tiệc rượu hay ở chiếu bạc. 
Một hôm vua thả thuyền chơi trên sông Nhị, rồi đi lần xuống tận bến Đông Bộ Đầu (3). Vua lãng ngâm rằng: 
Vụ ế chung thanh tiểu, 
Sa bình thụ ảnh trường. 
Nghĩa là: 
Mù tỏa tiếng chuông nhỏ, 
Cát phẳng bóng cây trường (dài). 
Các quan chưa ai nối được vần, nàng Đào liền ứng khẩu được ngay: 
Hàn than ngư hấp nguyệt, 
Cổ lũy nhạn minh sương. 
Nghĩa là: 
Bến lạnh cá đớp nguyệt, 
Lũy cổ nhạn kêu sương. 
Vua khen ngợi hồi lâu rồi nhân đó gọi là: “ả Hàn Than”. 
Vua Dụ Tôn mất, nàng phải thải ra ở ngoài phố, thường đi lại nhà quan Hành khiển là Ngụy Nhược Chân. Bà vợ quan Hành khiển không có con mà tính hay ghen, ngờ Hàn Than tư thông với chồng, bắt nàng đánh một trận rất là tàn nhẫn. Nàng tức tối vô cùng, bèn đem những trâm hoa bằng vàng ngọc bán đi để thuê thích khách vào nhà Nhược Chân trả thù. 
Nhưng thích khách đến, bị người nhà Nhược Chân bắt được, lúc đem tra khảo, hắn xưng ra Hàn Than. Hàn Than sợ, phải cạo trọc đầu và mặc đồ nâu sồng, trốn đến tu ở chùa Phật Tích (4), giảng kinh thuyết kệ, chỉ mấy tháng đã làu thông lắm. Nàng có dựng ra am gọi là am Cư Tĩnh, mời họp các văn nhân để xin một bài bảng văn. Bấy giờ trong làng có một cậu học trò tuổi độ 14, 15, cũng đến hội họp. Hàn Thanh khinh là còn ít tuổi, nói đùa rằng: 
– Anh bé con này cũng làm văn được à? Vậy thử làm cho tôi xem nào. 
Cậu học trò không tỏ vẻ giận gì cả, lui lại dò hỏi được gốc tích Hàn Than, rồi làm bài văn như sau: 
Cái văn: Phật bản từ bi, kỳ danh viết giác, 
Nhân năng thanh tịnh, tức ngụy thành chân. 
Năng tu pháp giới tân lương, 
Tiện thị tùng lâm tông chủ. 
Kính duy Phật Tích am sơn chủ Đào Thị 
Danh đào nhạc tịch, 
Đính lễ Phạm vương. 
Đào khẩu liễu yêu, trạo thiệt tế tài án duyệt Lương Châu kỷ khúc, 
Từ vân tuệ nhật, đài đầu gian dĩ quy y Đâu suất chư thiên. 
Quần phao tương thủy tằng tằng, 
Mấn lạc Sở vãn đoạn đoạn. 
Mộng lý vô đoan xúc cảnh, bán chẩm du tiên, 
Phong tiền hà xứ liêu nhân, sổ xoang đoản địch. 
Ca viện bất như tăng viện tĩnh, 
Nạp y tuyệt thắng vũ y lương. 
Thủy cúc Tào khê, do phân khuy kính ảnh, 
Dạ tuyên bối diệp, thượng tác nhiễu lương thanh. 
Tuy vân thiền định vong cơ, 
Phả nại cuồng tâm bị tửu. 
Túc bất hướng Tầm Dương tống khách, 
Thân khước lai Hàng Quận tham thiền. 
Ngũ Lăng nhi phao cẩm triền đầu, tuy tùy vị dĩ, 
Tam sinh khách kết Liên hoa xã, chiêu dẫn hà tần. 
Y! chung tàn trà yết vô dư sự, 
Hảo hướng sơn phòng nhất đả miên. 
Dịch: 
Mảng nghe: 
Phật vốn từ bi, gọi tên là Giác, 
Người mà thanh tĩnh, hóa giả thành chân. 
Muốn lên tông chủ trong rừng thiền, 
Hãy gắng tu trì trong cõi phép. 
Kính nghĩ am chủ ở núi Phật Tích là Đào Thị, 
Sổ ca nhạc rút tên ra khỏi. 
Cửa Phạm vương (5) núp bóng tìm vào, 
Miệng đào lưng liễu, uốn lưỡi vừa véo von mấy khúc Lương Châu (6). 
Nhật sáng mây lành, nghển đầu đã tựa nương dưới trời Đâu Suất (7), 
Quần ném dòng Tương lớp lớp. 
Tóc rơi mây Sở từng từng, 
Trong mơ xúc cảnh bâng khuâng, du tiên nửa gối, 
Trước gió ghẹo người réo rắt, đoản địch vừa xong. 
Phòng tăng vắng vẻ khác phòng ca, 
áo đạo nhẹ nhàng hơn áo múa. 
Khe Tào múc nước (8), chợt ngờ mặt phấn trong gương, 
Lá bối (9) tụng kinh, còn thoảng âm vang trước nóc (10). 
Mùi thiền dẫu bén, 
Lòng tục chưa phai. 
Bến Tầm Dương (11) không đến gẩy tỳ bà, 
Chùa Hàng Quận (12) lại vào nghiền kinh kệ. 
Gấm triền đầu phấp phới, theo đuổi chưa thôi (13), 
Hội Liên Hoa dập dìu, đón mời sao khéo (14). 
Ôi! chuông tàn trà cạn ngồi chi nữa? 
Buồng núi vào tìm một giấc say. 
Bài văn làm xong, viết lớn rồi dán vào cửa chùa, xa gần đua nhau chép. Hàn Than nhân thế, đương đêm bỏ chùa mà trốn. Nghe chùa Lệ Kỳ (15) ở hạt Hải Dương là một nơi nước tú non kỳ, phong cảnh tuyệt đẹp, trụ trì có sư già Pháp Vân và sư bác Vô Kỷ, bèn đến chùa xin bái yết. Pháp Vân không nhận và bảo Vô Kỷ rằng: 
– Người con gái này, nết không cẩn nguyện, tính bén lẳng lơ, tuổi đã trẻ trung, sắc lại lộng lẫy, ta e lòng thiền không phải đá, sắc đẹp dễ mê người; tuy sen hồng chẳng nhuộm bùn đen, nhưng tấc mây dễ mờ bóng nguyệt. Vậy ngươi nên liệu lời từ chối, đừng để hối hận về sau. 
Vô Kỷ không nghe, lại cứ nhận cho Hàn Than ở. Pháp Vân lập tức dời lên ở tận trên đỉnh núi Phượng Hoàng. 
Hàn Than tuy ở chốn thanh tịnh nhưng nết cũ vẫn chưa từ bỏ. 
Mỗi lúc ở nhà dưới đi lên mặc áo lụa, mang quần là, điểm môi son, tô má phấn. Cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm, bèn cùng Vô Kỷ tư thông. Hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, chẳng khác nào con bướm gặp xuân, trận mưa cửu hạn, chẳng còn để ý gì đến kinh kệ nữa. 
Hằng ngày hai người cùng nhau làm thơ liên cú, phàm những cảnh vật trong núi, cái gì có thể ngâm vịnh được đều dấp bút đề vịnh để ghi danh thắng. Những thơ như thế nhiều lắm không thể chép hết được, xin thuật ra đây độ một hai phần: 
Sơn Vân 
Dao đễ nùng hoàn đạm, 
Thiên biên thấp vị hy. 
Hiểu tùy sơ vũ khứ, 
Mộ đới lạc hà quy. 
ái đại nhân phong quyển, 
Du dương đáo xứ phi. 
Tăng dung đồng diệc lãn, 
Thùy vị yểm nham phi. 
Dịch: 
Mây núi 
Bên trời đậm nhạt không thường, 
Ráng chiều mưa sớm bốn phương đi về. 
Sư lười tiểu cũng lười ghê, 
Siêng năng khép cửa bồ đề ấy ai? 
Sơn vũ 
Nhất vũ thiên nham mính, 
Tiêu tiêu tác ý minh. 
Châu cơ đôi địa sắc, 
Tinh đẩu lạc thiên thanh. 
Lựu đoạt toàn lưu cấp, 
Lương hồi khách mộng thanh. 
Sơn phòng vô cá sự, 
Nhập dạ kỷ tàn canh. 
Dịch: 
Mưa núi 
Rào rào một trận mưa rơi, 
Đầu non ngọc rụng, lưng trời sao sa. 
Nước xô hơi lạnh vào nhà, 
Buồng sâu quạnh vắng đêm tà tà canh. 
Sơn phong 
Linh lại khư u động, 
Chung tiêu sách sách thanh. 
Phiên hoa hồng ý loạn, 
Quyển thụ lục âm kinh. 
Tăng nạp hàm lương thiển, 
Chung lâu tống hưởng thanh. 
Mang mang thiên địa nội, 
Phi vị bất bình minh. 
Dịch: 
Gió núi 
Thâu đêm tiếng thổi ào ào, 
Hoa xơ xác thắm, cây rào rạt xanh. 
Chuông lầu đưa tiếng thanh thanh, 
Không gian nào phải bất bình mà kêu. 
Sơn nguyệt 
Ẩn ẩn lâm sao quýnh, 
Liên không hạo khí phù. 
Hàm sơn ngân kính khuyết, 
Cách vụ ngọc bàn thu. 
ảnh lạc tùng quan tĩnh, 
Lương hồi trúc viện u. 
Thanh quang tùy xứ hữu, 
Hà tất thướng Nam lầu. 
Dịch: 
Trăng núi 
Sau rừng khí sáng lên cao, 
Long lanh gương bạc gác vào đỉnh non. 
Bóng soi mát dịu tâm hồn, 
Lên lầu Nam, lọ phải còn tốn công (16). 
Sơn tự 
Nhất thốc huy kim bích, 
Nham yêu ẩn tịch dương. 
Phong cao tùng húng lãng, 
Thiên cận quế phiêu hương. 
Động tiểu cầm thanh náo, 
Phong tà tháp ảnh trường. 
Trần gian danh lợi khách, 
Vọng thử kỳ bàng hoàng. 
Dịch: 
Chùa núi 
Âm thanh ẩn dưới bóng tà, 
Thông cao hát gió, quế già phun hương, 
Chim rừng ríu rít kêu vang, 
Khách trần ai có mơ màng chăng ai? 
Sơn đồng 
Sinh trưởng tiều tô địa, 
Ninh tri thiển thảo nguyên. 
Cuồng ca vân hắc ám, 
Đoản địch nhật hoàng hôn. 
My lộc phù ê lữ, 
Yên hà thủy thạch thôn. 
Quy lai thâm động lý, 
Vân bế tiểu càn khôn. 
Dịch: 
Tiểu đồng trong núi 
Năm năm sinh trưởng trong rừng, 
Đùa mây hát sớm, thét trăng còi chiều. 
Bạn bầy chim đá nai hươu, 
Càn khôn riêng mở bên đèo khói mây. 
Sơn viên 
Ẩn ước sào nam lữ, 
Duyên nhai nhật kỷ hồi. 
Sầu tương Ba lệ lạc, 
Thanh nhập Sở vân ai. 
ẩm giản hô bằng khứ, 
Văn kinh tác bạn lai. 
Vân thâm hà xứ mịch, 
Sơn sắc chính thôi ngôi. 
Dịch: 
Vượn núi 
Non cao ngoăn ngoắt leo chơi, 
Tiếng kêu buồn để cho người rơi châu. 
Uống khe dắt rủ bạn bầu, 
Ngàn mây ẩn bóng biết đâu dò tìm. 
Sơn điểu 
Thân thế vân yên ngoại, 
Y y tận nhật nhân. 
Nhất thanh sơn sắc minh, 
Sổ cá tịch dương hoàn. 
Tăng củng hàm lai quả, 
Sào thê đáo xứ san. 
Chu thu thùy hội ý, 
Phi nhiễu tiết la gian. 
Dịch: 
Chim núi 
Khói mây ngày tháng thong dong, 
Kêu trong sắc núi, vờn trong bóng chiều. 
Tha quả chín, đậu đồi kiêu, 
Bên rừng lá rậm dập dìu liệng quanh. 
Sơn hoa 
Noãn nhập cao đê thụ, 
Chi chi hỏa dục nhiên. 
Đông tây hà thế giới, 
Viễn cận cẩm sơn xuyên. 
Hồng vũ lâm yêu đọa, 
Hương phong động khẩu truyền. 
Tự khai hoàn tự lạc, 
Kim cổ kỷ xuân thiên. 
Dịch: 
Hoa núi 
Xuân sang đỏ ối cành cành, 
Mây thêu gấm dệt bao quanh bốn bề. 
Sắc hương man mác rừng khe, 
Cổ kim từng biết bao khi nở tàn. 
Sơn diệp 
Nhất bích thiên vô tế, 
Tùng điều nhân vọng mê. 
Thu lai hoàng bị kính, 
Xuân đáo lục doanh khê. 
Trú quyện vô nhân tảo, 
Yên thâm hữu điểu đề. 
Thương nhiên khan bất tận, 
Thiên lý tịch dương tê (tây). 
Dịch: 
Lá núi 
Lưng không bát ngát bốn bề, 
Thu sang ngập úa, xuân về rợp xanh. 
Chim kêu ríu rít đầu cành, 
Tà dương bóng ngả chênh chênh ngàn đoài. 
Hai người ham mê nhau quá, chỉ cốt cái thú vui sướng trước mắt. Nhưng vui quá hóa buồn, lẽ tự nhiên như thế, không có gì là lạ. Năm Kỷ Sửu (1349) nàng quả vì có thai rồi ốm, lay lứt từ mùa xuân đến mùa hạ, ngồi lên nằm xuống, tất thảy đều có người đỡ vực. Sư Vô Kỷ vốn không biết thuốc, lại không biết đường chạy chữa, khiến nàng sau phải nằm quằn quại chết ở trên giường cữ. Vô Kỷ xót thương vô hạn, quàn nàng ở cuối mái hành lang phía Tây, sớm tối vỗ vào áo quan mà khóc rằng: 
– Em ơi, em vì anh mà chết một cách oan uổng. Nếu anh được theo em cùng chết, anh rất sẵn lòng, khỏi để em vò võ một mình ở nơi chín suối. Huống chi khi em bình sinh vốn thông tuệ, khác hẳn với mọi người thường, nếu có linh thiêng, xin sớm cho anh được theo về dưới đất, anh không muốn lại trông thấy sư cụ Pháp Vân nữa. 
Sau mấy tháng Vô Kỷ cũng vì nhớ thương mà thành ốm, lai rai đến nửa năm trời, bỏ cả cơm cháo. Một đêm thấy Hàn Than hiện đến bảo rằng: 
– Thiếp buổi trước ngàn dâu xế bóng, cửa Phật nương mình, đáng cười thay chưa dứt lòng trần, thêm ngán nỗi còn vương nợ nghiệt, đài Dao mệnh dứt, đến nỗi chia bày, sống còn chưa được thỏa yêu đương, chết xuống sẽ cùng nhau quấn quýt. Mong chàng hiểu câu lục như (17), như bỏ giường thiền tứ đại (18), tạm rời cảnh Phật, về chốn suối vàng để thiếp được ngửa nhờ Phật lực, thác hóa đầu thai, đặng trả cho xong một cái nợ oan gia ngày trước. 
Nói xong thì không thấy đâu cả. Từ đấy bệnh Vô Kỷ ngày càng nguy kịch. Sư cụ Pháp Vân nghe tin, xuống núi để thăm, thì bệnh đã không thể cứu vãn được nữa, đành chỉ trông nhau ứa nước mắt, rồi một lát thì Vô Kỷ chết. 
Đêm hôm ấy gió mưa dữ dội, ở kinh đô có nhiều nhà lật mái đổ tường. Bà vợ quan Hành khiển Ngụy Nhược Chân chiêm bao thấy hai con rắn cắn vào mạng sườn ở dưới nách bên tả. Sau đó rồi bà có mang sinh ra được hai người con trai, đặt tên người con lớn là Long Thúc, người con bé là Long Quý. Hai đứa trẻ ấy mới đầy một tuổi đã biết nói, lên tám tuổi đã biết làm văn, được cha mẹ rất là yêu quý. Bây giờ đang giữa mùa hè nóng bức, Nhược Chân một hôm ngồi hóng mát trên cái lầu cao. Cửa lầu trông xuống đường, có một vị thầy tu đói khó đi qua ở dưới, dùng dằng trông ngắm, muốn đi mà không đi dứt được. Chợt rồi người ấy phàn nàn: 
– Lạ thay tòa lâu đài thế kia mà rồi sẽ thành cái vực của thuồng luồng. Đáng tiếc! Đáng tiếc! 
Nhược Chân sợ hãi thất sắc, vội chạy theo hỏi; ban đầu thầy tu không chịu nói, chỉ bảo vừa rồi bàng hoàng nói nhảm chứ không thấy có gì lạ, xin bất tất phải nghi ngờ. Nhưng Nhược Chân cứ cố khẩn nài, thầy tu mới bảo là nhà ông chứa đầy khí yêu quái, nếu không là nghiệp báo kiếp trước thì tất là oan gia kiếp này; người ta đã ở trong nhà ông, chỉ năm tháng nữa thì cả nhà không còn sống sót một mống. Nhược Chân kêu xin cứu cho, thầy tu nói: Tôi vốn có con mắt xem người rất sành. Xin cho tôi xem tất cả người trong nhà, hễ tôi thấy đúng người nào thì gõ vào chậu để cho ông biết. Nếu tiết lộ ra một lời thì tai vạ xảy ra ngay lập tức. 
Nhược Chân gọi tất cả người nhà ra lạy chào; thầy tu xem khắp lượt rồi lắc đầu nói: 
– Đều không phải cả. Vị tất đã biến thành hình. Lại hỏi trong nhà còn ai phải gọi nốt ra. Nhược Chân vào gọi nốt hai con trai đang ngồi trong nhà học. Khi hai người con trai đến, thầy tu liền gõ vào chậu rồi nức nở khen: 
– Quý hóa thay hai cậu con trai! Sau này làm nên sự nghiệp lừng lẫy, vẻ vang cho nhà và danh giá với đời, tất nhiên là những cậu này. 
Hai người đều giận nói: 
– Thầy chùa ở đâu đến đây mà bẻm mép tán xằng gì thế? 
Nói rồi đều phất áo đi vào. Nhược Chân không bằng lòng; thầy tu cũng từ giã ra đi. 
Đêm hôm ấy, Long Quý khóc bảo với Long Thúc rằng: 
– Vị yêu tăng hôm nay, lời nói ba hoa hình như có ý dòm dỏ. Nếu hắn mà biết, e rằng sẽ nguy cho chúng ta lắm đấy. 
Long Thúc cười mà rằng: 
– Trừ được chúng ta, duy có một sư cụ Pháp Vân. Còn những kẻ khác, ta chỉ giơ tay là cướp được bùa dấu của họ. Huống chi Nhược Chân đối với ta, tất vì tình cốt nhục mà không hiềm nghi gì cả, ta có thể yên ổn không lo ngại gì. 
Bấy giờ Nhược Chân nằm ngủ không yên, đang dậy đi một mình thơ thẩn, tình cờ do chỗ khe cửa sổ mà nghe lóng được, sợ hãi kinh hoàng không biết tính thế nào. Ngày hôm sau, nói vờ là có chút việc, từ nhà ra đi, dò thăm khắp chốn danh lam, tìm hỏi vị sư cụ có tên hiệu là Pháp Vân. Trải hơn một tháng đến tìm chùa ở Lệ Kỳ, thấy gã tiểu đồng nói hồi nhỏ có nghe tên hiệu ấy nhưng sư cụ đã dời vào núi sâu từ lâu rồi. Tiểu đồng nhân trỏ lên ngọn núi Phượng Hoàng (19) mà bảo: 
– Sư cụ ở trên núi kia kìa. 
Nhược Chân bèn xắn áo đi lên, qua bốn năm dặm nữa mới tới chỗ sư cụ ở. Bấy giờ sư cụ đang nằm ngủ ở trên ghế tiếng ngáy như sấm, hai bên tả hữu có hai chú tiểu đứng hầu. Nhược Chân khúm núm đi lên, hai gã tiểu đồng quát mắng làm cho sư cụ tỉnh giấc. Nhược Chân đến trước sụp lạy và kể cái bản ý tìm đến của mình. Sư cụ cười mà rằng: 
– Sao tiên sinh lầm thế? Lão phu thân không ở chùa chiền, chân không đến thành thị đã lâu năm rồi. Nay chỉ có thể ở trong am cỏ, quét đất thắp hương, tụng kinh Lăng nghiêm mấy lần. Chứ còn đến bay bùa chạy dấu thì không phải là việc của lão. 
Sư cụ từ chối rất dứt khoát. Hai tiểu đồng đứng bên bàn rằng: 
– Đức Phật nhà ta lấy từ bi làm bè, tế độ làm cửa, thương bể khổ trôi nổi, cứu sông mê đắm chìm. Bởi vì ngài muốn ai nấy cùng sang bỉ ngạn, cùng gội thiện duyên. Nếu thầy nhất định chối từ thì sao làm rộng đạo nhà Phật ra được. 
Bấy giờ sư cụ mới vui vẻ nhận lời. Bèn dựng một đàn tràng ngay ở trên núi, treo đèn bốn mặt và lấy bút son vẽ bùa dấu. Ước độ trống canh thì có đám mây đen mươi trượng bao bọc ở chung quanh đàn, một cơn gió lạnh thổi ào làm cho người phải ghê rợn. Sư cụ cầm cây tích trượng chỉ huy tả hữu, có lúc lại ra khỏi đàn làm ra bộ quát mắng. Nhược Chân ngồi ở một ngôi nhà phía xa, vén mành trông trộm; nhưng vắng lặng chẳng thấy gì cả, chỉ nghe trên không có tiếng khóc y ỷ, một lúc tiếng tắt mà đám mây cũng tan. Sáng hôm sau, sư cụ lấy một phiến đá bôi hùng hoàng vào rồi viết mực lên, trao cho Nhược Chân mà bảo: 
– Ông về hễ thấy loài yêu quái biến ra vật gì, kịp lấy đá này mà ném thì những mối thừa của tai họa sẽ dứt được hết. 
Nhược Chân về đến nhà. Thấy người nhà đương ngồi châu đầu mà khóc. Bà vợ kể chuyện canh ba đêm nọ, hai con trai cùng dắt nhau xuống giếng mà chết, nước giếng dâng lên hầu ngập cả thềm, hiện ra hai cái thây đều đã quàn ở vườn nam, chỉ đợi Nhược Chân về thì đem mai táng. Nhược Chân hỏi: 
– Trước lúc chết, chúng có nói gì không? 
Người nhà nói: 
– Chúng chỉ phàn nàn là giá chậm độ mấy tháng nữa thì công việc xong, không ngờ bị kẻ cuồng tăng làm hại. 
Nói xong, lại gào khóc. Nhược Chân can ngăn rồi cùng ra vườn nam mở nắp quan tài để xem. Khi mở thấy hai cái thây đã hóa thành hai con rắn vàng, lấy hòn đá ném thì chúng liền nát ra tro cả. 
Vợ chồng liền sắm nhiều vàng lụa đem đến tạ ơn sư cụ Pháp Vân. Nhưng đến nơi thì thấy am cỏ rêu phong, không tìm nhận ra được vết đi nào cả, nhân buồn bã cùng nhau trở về. 

Lời bình: 
Than ôi! Theo về dị đoan chỉ là có hại (20). Huống chi đã theo lại còn không giữ cho đúng phép, thì mối hại phỏng còn xiết nói được ư? Gã Vô Kỷ kia, là một kẻ gian dâm, buông thói tà dục, chẳng những dối người lại còn dối Phật của hắn thờ nữa. Giả đem xử vào cái tội như vua Ngụy giết bọn Sa Môn (21) ngày xưa thì hắn cũng không oan chút nào. 
Thế còn Nhược Chân thì hẳn là không có lỗi chăng? Đáp rằng làm quan mà như thế, còn gì gọi là chính gia được nữa! Mầm vạ mọc lên, suýt nữa hãm vào bước nguy khốn, chính mình làm mình chịu, không đáng lấy làm lạ chút nào. 

Chú thích

(*) Nguyên văn: Đào Thị nghiệp oan ký. 
* Nguyên văn: Tản Viên từ phán sự lục. 
(1) Từ Sơn: tên huyện, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh 
(2) Thiệu Phong: niên hiệu vua Trần Dụ Tông (1341-1357) 
(3) Đông Bộ Đầu: bến sông Hồng phía trên cầu Long Biên, gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay. 
(4) Chùa Phật Tích: nguyên chú: “Chùa núi Phật Tích thuộc xã Sài Khê, huyện Thạch Thất”, tức chùa Thày, nay thuộc tỉnh Hà Tây. 
(5) Cửa Phạn Vương: cửa chùa, cửa Phật.. 
(6) Khúc Lương Châu: khoảng niên hiệu Thiên Bảo đời Đường, các điệu nhạc đều lấy tên các vùng đất ngoài biên tái như Lương Châu, Cam Châu, Y Châu…
(7) Đâu Suất: là tầng trời thứ tư trong sáu tầng dục giới, nơi Di Lặc ở và giáo hóa những người có thiện duyên (Theo kinh Phật). 
(8) Khe Tào múc nước: Đời Lương có vị cao tăng là Trí Dược từ nước Thiên Trúc vào Trung Quốc. Thuyền đến cửa Khe Tào ở Thiều Châu, thoảng thấy mùi thơm, múc nước nếm rồi bảo: “Thượng lưu dòng nước này có thắng địa”. Bèn khai núi làm chùa, đặt tên là Bảo Lâm. 
(9) Lá bối: Một thứ lá cây, trước đây thường dùng chép kinh Phật. 
(10) Hàn Nga sang Tề, đi qua cửa Ung thì hết lương, phải hát rong kiếm tiền ăn; đi rồi mà tiếng hát còn văng vẳng trên nóc nhà ba ngày không dứt. 
(11) Tầm Dương: Bạch Cư Dị bị giáng chức làm tư mã Giang Châu. Một hôm đi thuyền tiễn khách, đậu ở bến Tầm Dương đã nghe tiếng đàn tì bà ai oán mà tuyệt diệu, thổ lộ tâm tình của người kỹ nữ tài hoa luống tuổi lấy người lái buôn chè. Người lái buôn ham lợi để nàng ca nữ một mình trên bến sông lạnh lùng. 
(12) Hàng Quận: Cầm Tháo là một ca kỹ ở Tây Hồ thuộc Hàng Châu, một lần tiếp Tô Đông Pha, một trong bát đại gia Đường Tống, nghe ông đọc hai câu thơ: Môn ngoại lãnh lạc yên mã hi; Lão đại giá tác thương thân phụ (Ngoài cửa lạnh lùng xe ngựa vắng; tuổi già duyên kết chú phường buôn). Cầm Tháo tỉnh ngộ bèn cắt tóc đi tu. 
(13) Đời Đường các công tử vương tôn nghe hát, thường lấy gấm quàng đầu con hát để thưởng, gọi là “phao cẩm triền đầu” (Ném gấm quấn đầu). 
(14) Thầy chùa Tuệ Viễn đời Tấn cùng các bạn tu 15 người họp thành hội Bạch Liên hoa, viết thư mời Đào Uyên Minh đến dự, Uyên Minh bảo có rượu mới tới. Viễn nhận lời, nhưng Uyên Minh đến lại không có rượu, ông chau mày bỏ đi. 
(15) Chùa Lệ Kỳ: Nguyên chú: “Chùa Lệ Kỳ nay thuộc huyện Chí Linh”. Chí Linh nay thuộc tỉnh Hải Dương. 
(16) Dữu Lượng đời Tấn làm Đô đốc Kinh Châu thường lên lầu Nam thưởng nguyệt. 
(17) Kệ lục như: Bài kệ trong kinh Phật nói hết thảy mọi việc đời đều: như mộng, như huyễn, như bọt, như sương, như điện, như bóng (tám điều như). 
(18) Giường thiền tứ đại: Kinh Phật nói thân thể người ta là do tứ đại (đất, nước, lửa, gió) hợp thành. Tô Đông Pha vốn chơi thân với sư Phật ấn. Một hôm ông Tô đến chơi, Phật ấn đùa bảo “Quan nội hàn đến làm gì? ở đây không có chỗ ngồi”. Ông Tô đùa lại: “Xin mượn cái “tứ đại” của sư làm giường thiền”. 
(19) Núi Phượng Hoàng: nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. 
(20) Câu này của Khổng Tử trong sách Luận ngữ. Nhà nho coi các học thuyết khác (không phải đạo nho) là “dị đoan”, ở đây chỉ đạo Phật. 
(21) Thôi Hạo đời Ngụy ghét đạo Phật. Nhân vua Ngụy đến thành Trường An, vào một ngôi chùa, thấy có binh khí và nhà hầm giấu con gái, Hạo bèn xin vua giết hết sa môn (sư) trong thiên hạ.

 

Truyền kỳ mạn lục
Chương 8 Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên *
Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lang Giang (1). Chàng vốn khẳng khái nóng nẩy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng bắc người ta vẫn khen là một người cương phương. Trong làng trước có một tòa đền, vẫn linh ứng lắm. Cuối đời họ Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian, có người dốc hết của cải, gia sản khánh kiệt cũng không đủ để cầu cúng. Tử Văn rất là tức giận, một hôm tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng Tử Văn vung tay không cần gì cả. 
Đốt xong về nhà, chàng thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô dõng dạc, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng, quần áo, rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại tòa đền như cũ, và nói: 
– Nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần ra sao, cớ gì lại dám lăng miệt, hủy tượng đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển hiện, vậy bảo làm sao bây giờ? Biết điều thì dựng trả tòa đền như cũ. Nếu không thì vô cớ hủy đền Lư sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ (2). 
Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên, người kia tức giận nói: 
– Phong Đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, há lại không đem nổi nhà người đến đấy. Không nghe lời ta thì rồi sẽ biết. 
Nói rồi phất áo đi. 
Chiều tối, lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh đi vào đến trước thềm, vái chào mà rằng: 
– Tôi là vị Thổ thần ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng. 
Tử Văn kinh ngạc nói: 
– Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ địa đấy ư? Sao mà nhiều thần quá thế vậy. 
Ông già nói: 
– Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc Triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo tên họ của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi đâu. Xin kể đầu đuôi để nhà thầy nghe: 
“Tôi từ đời vua Lý Nam đế làm chức Ngự sử đại phu, vì chết về việc cần vương mà được phong ở đây, giúp dân độ vật đã có hơn một nghìn năm nay, khi nào lại làm việc gieo tai rắc vạ để kiếm miếng ăn như kẻ khuất tặc kia đã làm. Gần đây vì thiếu sự đề phòng, bị nó đánh đuổi, nên phải đến nương tựa ở đền Tản Viên đã vài năm nay”. 
Tử Văn nói: 
– Việc xảy ra đến như thế, sao ngài không kiện ở Diêm vương và tâu lên Thượng đế, lại đi khinh bỏ chức vị, làm một người áo vải nhà quê. 
Ông già chau mặt nói: 
– Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở. Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Khư khư một chút lòng thành thực, không làm thế nào để thông đạt được lên cho nên đành tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi. 
Tử Văn nói: 
– Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không? 
– Hắn quyết chống chọi với nhà thầy, hiện đã kiện thầy ở Minh ty. Tôi thừa lúc hắn đi vắng nên lén đến đây báo cho nhà thầy biết để mà liệu kế, khỏi phải chết một cách oan uổng. 
Lại dặn Tử Văn: 
– Hễ ở Minh ty có tra hỏi, thầy cứ khai ra những lời nói của tôi. Nếu hắn chối cãi, thầy kêu xin tư giấy đến đền Tản Viên, tôi sẽ khai rõ thì nó phải đớ miệng. Nếu không như thế thì tôi đến vùi lấp trọn đời mà thầy cũng khó lòng thoát nạn. 
Tử Văn vâng lời. Đến đêm, bệnh càng nặng thêm, rồi thấy hai tên qủy sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành về phía đông. Đi độ nửa ngày đến một dinh tòa rất lớn, chung quanh có thành sắt cao vọi đến mấy chục tượng. Hai quỷ đến nói với người canh cổng, người canh cổng đi vào một lúc rồi ra truyền, chỉ rằng: 
– Tội sâu ác nặng, không được dự vào hàng khoan giảm. 
Nói rồi xua tay bảo đi ra phía bắc. Đằng phía bắc, tức là một con sông lớn, trên sông bắc một cái cầu dài ước hơn nghìn bước, gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương. Hai bên tả hữu cầu, có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa, đều mắt xanh tóc đỏ hình dáng nanh ác. Hai quỷ dùng gông dài thừng lớn gông trói Tử Văn mà giải đi rất nhanh, Tử Văn kêu to lên rằng: 
– Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo rõ cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng. 
Chợt nghe trên điện có lời tuyên ngôn rằng: 
– Tên này bướng bỉnh gân guốc, nếu không phán đoán cho rõ, vị tất nó đã chịu phục tội. 
Bèn sai dẫn Tử Văn vào trong cửa điện. Tử Văn vào đến nơi, đã thấy người đội mũ trụ đương kêu cầu ở trước sân. 
Diêm vương mắng Tử Văn rằng: 
– Kẻ kia là một người cư sĩ, trung thuần khích liệt, có công với tiên triều, nên Hoàng thiên cho được huyết thực ở một tòa đền để đền công khó nhọc. Mày là một kẻ hàn sĩ, sao dám hỗn láo, tội nghiệt tự mình làm ra, còn trốn đi đằng nào? 
Tử Văn bèn tâu trình đầu đuôi như lời ông cụ già đã nói, lời rất cương chính, không chịu chùn nhụt chút nào. Người đội mũ trụ nói: 
– Ấy là ở trước vương phủ mà hắn còn quật cường như thế, mồm năm miệng mười, đơm đặt bịa tạc. Huống hồ ở một nơi đền miếu quạnh hiu, sợ gì mà hắn không dám cho một mớ lửa. 
Hai bên cãi cọ nhau mãi vẫn chưa phân phải trái, nhưng Diêm Vương vì thế bụng cũng sinh nghi. Tử Văn nói: 
– Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin đem giấy đến đền Tản Viên để hỏi hư thực; không có sự thực như thế, tôi lại xin chịu thêm cái tội nói càn. 
Người kia bây giờ mới có vẻ sợ, quỳ xuống tâu rằng: 
– Gã kia là một kẻ học trò, thật là ngu bướng, quả đáng tội lắm. Nhưng đã trách mắng như vậy, cũng đủ trừng giới. Xin đại vương khoan tha cho hắn để tỏ cái đức rộng rãi. Bất tất đòi hỏi dây dưa và thẳng tay trị tội, sợ có hại cho cái đức hiếu sinh. 
Diêm vương quát lớn rằng: 
– Cứ như lời hắn thì nhà người đáng tội tru lục. Điều luật lừa dối đã sẵn sàng đó. Nhà ngươi cớ sao dám làm sự xuất nhập luận tội người ta như vậy? 
Lập tức sai người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực. Sai nhân về tâu, nhất nhất đúng với lời Tử Văn. Vương cả giận, bảo các Phán quan rằng: 
– Lũ ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà không thiên hư, phạt thì đích xác mà không hà lạm, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về đời Hán đời Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn xiết nói được ư? 
Liền sai lấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu u. (3) 
Vương nghĩ Tử Văn có công trừ hại, truyền cho vị thần đền kia, từ nay phần xôi lợn của dân cúng tế, nên chia cho Tử Văn một nửa, và sai lính đưa Tử Văn về. Chàng về đến nhà, té ra mình chết đã được hai ngày rồi. Nhân đem những việc đã qua kể cho mọi người nghe, ai cũng kinh hãi và không tin là thực. Sau họ đón một bà đồng về phụ bóng, đồng lên cũng nói đúng như lời Tử Văn. Người làng bèn mua gỗ, lại dựng một tòa đền mới. Còn ngôi mộ của người tướng kia thì tự dưng thấy bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám vậy. 
Sau đó một tháng, Tử Văn thấy ông già đến bảo: 
– Lão phu đã trở về miếu, công của nhà thầy, không biết lấy gì đền đáp được. Nay thấy ở đền Tản Viên khuyết một chân Phán sự, không có người lo việc. Lão với nhà thầy đã biết nhau nên đã vì nhà thầy hết sức tiến cử, được đức Thánh Tản ngài đã bằng lòng, vậy xin lấy việc đó để đền ơn nghĩa. Người ta sống ở đời, xưa nay ai không phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau là đủ rồi. Nếu trùng trình độ nửa tháng, sợ sẽ về tay người khác mất. Nên cố gắng đi, đừng nên coi là việc tầm thường. 
Tử Văn vui vẻ nhận lợi, bèn thu xếp việc nhà rồi không bệnh tật gì mà mất. 
Năm Giáp Ngọ (1414) có người ở thành Đông Quan (4) vốn quen biết với Tử Văn, buổi sớm đi ra ngoài cửa tây vài dặm, trông thấy ở trong sương mù có xe ngựa đi đến ầm ầm, lại nghe thấy tiếng quát rằng: 
“Người đi đường tránh ra, xe quan Phán sự!”. 
Người ấy ngẩng đầu trông về phía trước, người ngồi trên xe chính là Tử Văn. Song Tử Văn chỉ ngồi trên xe chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoắt đã cưỡi gió mà đi biến mất. Đến nay con cháu hãy còn, người ta còn truyền là “nhà quan Phán sự!”. 

Lời bình: 
Than ôi! Người ta vẫn nói: “Cứng quá thì gẫy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gẫy hay không là việc trời. Sao nên đoán trước là sẽ gẫy mà chịu đổi cứng ra mềm ru! 
Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải. Vì cứng cỏi cho nên dám đốt cháy đền tà, chống cãi yêu quỷ, một lần ra tay mà mối hận của cả thần và người đều được rửa. Nhân thế nức tiếng mà được giữ chức vị ở Minh tào, thật là xứng đáng. Vậy là kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi. 

Chú thích
(1) Yên Dũng đất Lạng Giang: Lộ Lạng Giang đời Trần Hồ là miền đất thuộc tỉnh Bắc Giang và một phần Tây Nam tỉnh Lạng Sơn ngày nay. Huyện Yên Dũng nay thuộc tỉnh Bắc Giang. 
(2) Đời Tam quốc, Cố Thiệu làm quan Thú ở quận Dự Chương phá hủy các đền thờ những vị thần bất chính. Sau thấy thần miếu Lư Sơn hiện lên đòi làm trả, Thiệu không nghe. Không bao lâu bị ốm mà chết (sách Loại tụ). 
(3) Ngục Cửu u: chín ngục dưới âm phủ, mỗi ngục coi một hình phạt, như: A tì (giam vĩnh viễn), núi dao, cắt thịt, ngậm sắt nóng… 
(4) Đông Quan: tên gọi Thăng Long thời thuộc Minh.


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.852
  • 131
  • 1.963
  • 151
  • 6.633.135
  • 860.257