Thần tiên Việt Nam

Truyền kỳ Mạn Lục chương 5-6

Truyền kỳ mạn lục
Chương 5 Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây (*) (Nguyên văn: Tây viên kỳ ngộ ký)
Hà Nhân, người học trò quê ở Thiên Trường(1), khoảng năm Thiệu Bình(2) ngụ ở kinh sư để tòng học cụ ức Trai(3). 
Mỗi buổi đi học, đường tất phải qua phường Khúc Giang. Trong phường có cái trại, gọi là trại Tây, dinh cơ cũ của quan Thái sư triều Trần. Ngày ngày đi qua, Hà Nhân thường thấy hai người con gái đứng ở bên trong bức tường đổ nhí nhoẻn cười đùa, hoặc hái những quả ngon, bẻ bông hoa đẹp mà ném cho Hà Nhân nữa. Lâu lâu như thế Hà Nhân không mần ngơ được, một hôm mới đứng lại trò chuyện lân la. Hai người con gái tươi cười bảo: 
– Chúng em một người họ Liễu, tên gọi Nhu Nương, một người họ Đào, tên gọi Hồng Nương, nguyên là những tỳ thiếp của quan Thái sư. Từ ngày quan Thái sư qua đời, chúng em vẫn phòng thu khóa kín. Nay gặp tiết xuân tươi đẹp, chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để khỏi hoài phí mất xuân quang. 
Hà Nhân rủ rê hai ả đến chơi chỗ trọ của mình, chuyện trò đằm thắm. Chàng lả lơi cợt ghẹo, hai ả thẹn thò nói rằng. 
– Chúng em việc xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉ e tình hoa run rẩy, tơ liễu điên cuồng, oán lục thẹn hồng, làm giảm thú phong lưu đi mất. 
Hà Nhân nói: 
– Thì hãy thử thôi, tôi chẳng dám đem chuyện mây mưa làm “khó dễ” hai nàng. 
Rồi tắt đèn đi nằm. Tựa ngọc kề vàng, gối vừa xô đã khoát sóng hoa đào nghiêng ngả. Hà Nhân giữa lúc gối chăn êm ấm, bảo hai nàng cùng làm thơ ngâm chơi. Nàng Liễu ngâm trước: 
Xạ trầm lương hãn thấp la y, 
Thúy đại khinh tần bát tự my. 
Báo đạo đông phong khoan đả lục, 
Tiêm yêu bãi loạn bất thăng suy. 
Dịch: 
Màu hôi dâm dấp áo là, 
Mây xanh đôi nét tà tà như chau. 
Gió xuân xin nhẹ nhàng nhau, 
Thân non mềm chịu được đâu phũ phàng . 
Nàng Đào cũng tục ngâm: 
Thiên cao cấm ngữ lậu thanh trì, 
Đăng ủng ngân giang xuất giáng duy. 
Phân phó tài lang phan chiết khứ, 
Tân hồng nhận thủ tiểu đào chi. 
Dịch: 
Cung sâu thưa điểm giọt rồng, 
Ngọn đèn soi tỏ trướng hồng lung linh. 
Tài lang mặc sức vin cành, 
Đào non nhận lấy những nhành thắm tươi. 
Hà Nhân vỗ tay cả cười mà rằng: 
– Tình trạng trong chốn buồng xuân, tả đến như thế thì thật là diệu tuyệt, lời hoa ý gấm tôi khó lòng theo kịp hai nàng. 
Hà Nhân bèn lại tiếp tục ngâm: 
Quyện uyển thư trai khách mộng dung, 
Ngộ tùy vân vũ đáo Vu Phong. 
Giao phi điệp lộng sâm si bạch, 
Liên đế hoa khai thứ đệ hồng. 
Tĩnh túc nhiệm giao oanh thướng há, 
Phân lưu nhẫn cấm thủy tây đông. 
Tuyệt liên quân thị phong lưu chủng, 
Hứng đáo phong lưu tự bất đồng. 
Dịch: 
Quê khách buồng văn giấc lạnh lùng, 
Mây mưa bỗng lạc tới Vu Phong(4). 
Đua bay bướm giỡn so le trắng, 
Liền cuống hoa phô rực rỡ hồng. 
Một ổ thỏa thuê oanh ấm áp, 
Đôi dòng san sẻ nước tây đông. 
Hữu tình cùng giống phong lưu cả, 
Mỗi vẻ nhưng riêng thú đượm nồng. 
Từ đó về sau, hai nàng cứ sớm đi tối đến, ngày nào cũng giống ngày nào, Hà Nhân cho là sự kỳ ngộ của đời mình, so với chuyện xưa, có thể sánh với Bùi Hàng và vượt hơn Tăng Nhụ(5). 
Một buổi tối mưa dầm gió bấc, nhưng hai nàng vẫn đúng hẹn đến, khẽ bảo Hà Nhân rằng: 
– Chúng em sợ lỗi hẹn nên phải cố đến, nhưng thân như cái én, có chịu nổi rét mướt đâu. 
Hà Nhân bèn kéo Liễu vào lòng mà ấp ủ, đùa bảo rằng: 
– Vẻ kiều diễm của em Liễu thật là tột bậc, có thể xứng đáng với một câu thơ cổ “Mỹ nhân nhan sắc đẹp như hoa”. 
Đào lặng lẽ cúi đầu, có dáng hổ thẹn, rồi từ đấy luôn trong mấy hôm không đến. 
Hà Nhân hỏi Liễu: 
– Em Đào mấy hôm nay có được khỏe không? 
Liễu nói: 
– Chị ấy vẫn khỏe chứ có làm sao đâu. Chỉ vì hôm nọ chàng khen em đẹp mà không nói gì đến chị ấy, nên chị ấy xấu hổ không dám đến nữa. 
Nhân thể đưa bài thơ của Đào gửi cho Hà Nhân: 
Tình hà cốt cách tuyết tinh thần, 
Lộ nhị yên điều lưỡng dạng tân. 
Khả hận Đông Hoàng tư trước ý, 
Nhất chi tiều tụy nhất chi xuân. 
Dịch: 
Băng sương cốt cách, tuyết tinh thần, 
Nhị mởn nhành mềm đã xứng cân. 
Khá trách Đông Hoàng thiên vị lắm, 
Một cành bỏ héo, một cành xuân. 
Hà Nhân đọc xong buồn rầu lúc lâu, rồi làm thơ họa theo vần trên để đáp lại: 
Tương tư nhất đoạn nhất lao thần, 
Để sự tài thành biệt hận tân. 
Bằng trượng phong di phiền ký ngữ, 
Vị thùy tiều tụy? vị thùy xuân? 
Dịch: 
Tương tư nặng gánh khổ tâm thần, 
Ân ái chưa hề lệch cán cân. 
Dì gió, nhờ đem tin nhắn nhủ: 
Hoa nào bỏ héo? Lá nào xuân? 
Đào được thơ, từ đấy mới đi lại như trước. Gặp đêm Nguyên tiêu(6), người ở kinh thành kéo nhau đi chơi vui rầm rập, hai nàng mời Sinh: 
– Nhà chúng em chẳng xa xăm gì mà chàng chưa hề bước chân đến, thật là đáng trách. Nay gặp lệnh tiết, chúng em muốn mời chàng quá bộ lại chơi, mong đừng chê xa mà từ chối. 
Nhân vui vẻ bằng lòng ngay. 
Khi đến trại Tây, qua mấy lần rào, quanh một đoạn tường, đi ước mấy chục trượng thì đến một cái ao sen; hết ao lại là khu vườn, cây cối xanh tươi, mùi hoa thơm ngát, nhưng ở dưới bóng đêm lờ mờ, không nhận rõ được hoa gì, cây gì cả, chỉ thấy mùi hương lúc lúc thoảng tới. 
Hai nàng nhìn nhau nói: 
– Nhà chúng ta chật chội túi múi, chi bằng bày tiệc vui ngay ở trong vườn. 
Rồi họ trải chiếu giát trúc, đốt đèn nhựa thông, bóc bánh lá hòe, rót rượu hạt hạnh, các món ăn trong tiệc đều là những món quý trọng cả. Kế đó thấy những mỹ nhân tự xưng là họ Vi, họ Lý, họ Mai, họ Dương, đây chị họ Kim, kia cô họ Thạch lục tục đến mừng và dự tiệc. Trời gần sáng, mọi người giải tán, hai nàng cũng đưa Nhân ra đến ngoài tường. Hà Nhân về đến thư phòng thì mặt trời đàng Đông đã rạng. 
Sau đó vài tháng, Hà Nhân tiếp được tin nhà gửi đến kinh đô, nói cha mẹ ở nhà đã hỏi vợ cho, giục Nhân nên về mau để làm lễ cưới. Nhân bối rối quanh co, lòng rất không nỡ, hai nàng đoán biết được tình ý, bảo Nhân rằng: 
– Bọn chúng em thân bồ vóc liễu, không thể cáng đáng được việc tần tảo ở gia đình. Vả ngôi chủ phụ trong nhà, tất phải là người trong nền nếp trâm anh như Tống Tử, Tề Khương(7), chúng em đâu dám chòi mòi đến. Chỉ mong chàng sau buổi về quê, tình cũ sẽ vấn vương không dứt, sớm dẹp lòng quyến luyến hương thổ để lại tính kế tìm hoa, sẽ xem cây liễu Hàn Hoành(8), vẫn chờ đợi với những cành dài ngày xưa, cây đào Thôi Hộ(9), vẫn chào đón những hoa cười năm ngoái. Xin chàng lưu ý, đừng vì ấp yêu duyên mới mà lạt phai tình cũ, khiến chúng em thành những bông hoa vô chủ ở Giang Nam. 
Nói rồi cùng nâng chén tiễn biệt và mỗi người đọc một bài ca. Nàng Liễu ca trước rằng: 
Đế thành đông biên phiền thảo mộc, 
Phá ốc sổ gian Khúc giang khúc. 
Ngân tỳ thái lục sự sơ trang, 
Vụ các vân song khổ u độc. 
Việt tòng nhị bát tích phương dung, 
Điệp sứ phong môi vị khẳng thông. 
Tận nhật đối y hồng hạnh ổ, 
Khuy xuân tu hướng thiếu niên tùng. 
Hiệp thư hà xứ gia công tử, 
Học bác tài xa quán kinh sử. 
Thảo thảo tường đầu nhất kiến gian, 
Lương duyên vị hứa tâm tiên hứa. 
Tiện tương phàm hủy hưởng dương tài, 
Phân phó đông hoàng hảo hảo khai. 
Nhứ tạm nghênh phong hương lạc mạc, 
ảnh sơ thí noãn lục bồi hồi. 
Nùng hoa lộ trích đàn tâm thổ, 
Tiêu đắc tòng tiền xuân hận khổ. 
Ca sinh nhuyễn độ Tiểu Man yêu, 
Chỉ phấn nế quân Tây Tử nhũ. 
Hội lai khuất chỉ vị chu tinh, 
Mãn mục sơn hà lữ mộng kinh. 
Lệ lạc phần hương ngư đệ tín, 
Hồn tiêu mai dịch mã am trình. 
Trường đình hựu sấn xa thanh tảo, 
Sử thiếp trường ưu lai tổ đạo. 
Tây viên vũ ám khấp hoàng mai, 
Nam phố ba hàn sầu lục thảo. 
Mai hoàng thảo lục ám thương thần, 
Thiếp tại quân quy ảnh tạm phân. 
Trịnh trọng vị quân ca thử khúc, 
Lâm kỳ ưng hữu đoạn trường nhân. 
Dịch: 
Để thành nọ mé bên đông, 
Mấy gian nhà cũ giữa vùng trại hoang. 
Phấn son ngày tháng điểm trang, 
Quạnh hiu gác khói hiên sương lạnh lùng. 
Vừa tuần đôi tám xuân dung, 
Tin ong sứ điệp chưa thông nẻo nào. 
Bên hoa hôm sớm tiêu dao, 
Đường xuân thẹn chửa dám chào hỏi ai. 
Nho sinh bỗng có một người, 
Văn chương kinh sử tót vời làu thông. 
Trong tường ngấp nghé xa trông, 
Tuy duyên chưa buộc mà lòng đã trao. 
Tình yêu chẳng dễ ngăn rào, 
Đời hoa thôi đã gửi vào chúa xuân. 
Cành xanh lá biếc thanh tân, 
Múa may theo ngọn gió xuân dập dìu. 
Lòng hoa khi giọt sương gieo, 
Sầu xuân đã nhẹ nhàng tiêu, nhẹ nhàng. 
Miệt mài trong cuộc truy hoan, 
Tây Thi (10) ngực nở, Tiểu Man (11) lưng mềm. 
Năm tròn chăn gối vừa êm, 
Non sông giục khách trạnh niềm gia hương. 
Tin nhà gửi đến đau thương, 
Càng đau thương lúc buông cương dặm ngoài. 
Bon bon xe ruổi trời mai, 
Lòng em khô héo tiễn người đường xa. 
Bến Nam cỏ áy bóng tà, 
Vườn tây một rặng mai già khóc mưa. 
Cỏ cây rầu rĩ tiêu sơ, 
Chàng về thiếp luống ngẩn ngơ tâm hồn. 
Vì chàng hát khúc nỉ non, 
Biệt ly để nặng nỗi buồn cho ai. 
Đào cũng ca rằng: 
Thu tiêu mạt bích hề thu diệp thê đan, 
Thiên hộ vạn hộ hề hàn châm thanh can. 
Cô nhạn nam phi hề chính hồng độ quan, 
Mộ yên thảm đạm hề tân sầu nhất ban. 
Ngã công bất lưu hề ngã tâm bàn hoàn, 
Cánh quyên cựu ái hề tạm kết tân hoan. 
Hà phần thán cúc hề sở uyển tu lan, 
Phiếm ngã quỳnh tràng hề tu ngã ngân bàn. 
Biệt thời dung dị hề kiến thời lương nan, 
Ô hô nhất ca hề uất đào trường than. 
Hận bất du ty hề triền văn quy an, 
Hận bất thường pha hề chướng đỗ hồi lan. 
Hận bất hoàng oanh hề oán khách miên man, 
Đốt ta thử biệt hề hà thời đương hoàn? 
Hoa lưu đỗng khẩu hề thủy đáo nhân gian, 
Nhân linh tiểu thiếp hề bão thử sinh oan. 
Ô hô tái ca hề châu lệ hoàn lan. 
Dịch: 
Trời thu nhuộm biếc chừ, lá thu chen hồng, 
Đập vải tiếng vang chừ, mọi nhà tây đông. 
Chim nhạn về nam chừ, chim hồng sang sông, 
Khói chiều thảm đạm chừ, sầu mới mênh mông. 
Tình lang chẳng ở chừ, lòng tơ trăm vòng, 
Tạm cắt tình xưa chừ, về lập tân phòng. 
Cúc Hà (12) ủ rũ chừ, lan Sở thẹn thùng, 
Nâng chén rượu quỳnh chừ, đối bóng trăng trong. 
Dễ khi ly biệt chừ, khó lúc trùng phùng, 
Than ôi em hát một khúc chừ, nhớ thương khôn cùng. 
Hận không sợi tơ chừ, buộc níu chinh an, 
Hận không bờ bãi chừ, gọi khách miên man. 
Ly biệt từ đây chừ, bao lại đoàn loan? 
Hoa lưu cửa động chừ, nước xuống nhân gian, 
Nỡ để thân em chừ, ôm mối hờn oan. 
Than ôi em hát hai khúc chừ, lệ châu lan tràn. 
Nghe hát xong, Hà Nhân rưng rưng đôi hàng nước mắt rồi cùng hai nàng từ biệt. 
Hà Nhân về đến nhà thì hôn kỳ đã do cha mẹ định sẵn. Nhân nói với cha mẹ rằng: 
– Sinh con trai muốn cho có vợ, sinh con gái muốn cho có chồng, đó vẫn là lòng của cha mẹ mà cũng là phúc của gia đình. Song con nghĩ mình dòng dõi tấn thân, mà sự học hành chưa thành danh gì cả. Nếu nay có vợ, e không khỏi vui bề chăn gối mà lãng việc sách đèn. Chi bằng việc cưới xin hãy tạm hoãn, đợi khi con đường mây nhẹ gót, thỏa nguyện bình sinh, bấy giờ hãy tìm đến tưởng cũng chưa muộn. 
Cha mẹ không nỡ trái ý con, việc cưới bèn đình hoãn lại. 
Ở nhà chưa bao lâu, Hà Nhân vì tưởng nhớ hai nàng mà lúc nào cũng ủ ê rầu rĩ, bèn lại lên đường để tới kinh. Vừa đến trại Tây, đã thấy hai nàng đứng đón, tươi cười hỏi: 
– Lang quân vừa cưới vợ, sao không ở nhà vui vầy duyên mới, đã vội lên đường? 
Hà Nhân kể rõ nguyên do, hai nàng đều nức nở khen rằng: 
– Lang quân thật là một người tình nghĩa, không lỗi lời ước hẹn tìm hoa. 
Bèn vì Hà Nhân sắm lễ, để lại đến trường cũ theo học. 
Nhân tuy mượn tiếng du học, nhưng bút nghiên chí nản, son phấn tình nồng. Ngày nào mới buổi xuân dương, thoắt đã trời đông tiết lạnh. Một hôm Nhân ở ngoài về, thấy hai nàng mắt đều đẫm lệ. Nhân giật mình hỏi, hai nàng đều sụt sùi giọt lệ nói rằng: 
– Chúng em không may đều mắc bệnh gió sương, khí xuân chưa về, mặt hoa dễ héo, thuốc thang khó tìm, hương hồn một mảnh, chưa biết rồi sẽ trôi dạt đến nơi nào. 
Hà Nhân kinh ngạc: 
– Anh cùng với hai em, duyên không mối lái nghĩa kết keo sơn. Cớ sao các em vội nói đến chuyện lìa tan, khiến anh lo sợ như là con chim sợ cung vậy. 
Nàng Liễu nói: 
– Ham vui ân ái, ai ai chẳng lòng, nhưng số trời đã định kỳ về đến nơi, biết làm sao được. Rồi đây cánh rã trong bùn, hương rơi mặt đất, ba xuân cảnh sắc, thú vui biết sẽ thuộc về đâu. 
Hà Nhân ngao ngán buồn rầu, không sao rứt được. Nàng Đào nói: 
– Người sinh ở đời như cái hoa trên cây, tươi héo có kỳ, không thể nào gượng được dù trong chốc lát. Chỉ xin chàng từ đây bồi dưỡng thân thể, chăm chỉ bút nghiên, ghép liễu (13) thành công, xem hoa (14) thỏa nguyện, thì chúng em dù vùi thân trong chỗ ngòi lạch cũng chẳng chút phàn nàn. 
Hà Nhân nói: 
– Vậy thế cái kỳ tan tác còn chừng bao lâu nữa? 
– Chỉ nội đêm nay thôi. Hễ lúc nào có trận gió dông nổi lên là lúc chúng em thác hóa. Chàng nếu nghĩ tình ân ái cũ, quá bộ đến trại Tây thăm viếng chúng em sẽ được ngậm cười mà về chốn suối vàng. 
Nhân khóc mà rằng: 
– Sự thể cấp bách như vậy, cũng chẳng biết làm sao được nữa, song anh ở đất khách quê người, lưng không, túi rỗng, biết lấy gì mà đắp điếm cho hai em. 
Hai nàng nói: 
– Thân mệnh của chúng em lả lướt như tơ, mong manh tựa lá. Sau khi thác hóa, đã có mây làm tàn, có lốc (gió) làm xe, sương trắng làm ngọc đeo, cỏ xanh làm nệm rải, than khóc đã oanh già thỏ thẻ, viếng thăm đã bướm héo vật vờ, chôn vùi có lớp rêu phong, đưa tiễn có dòng nước chảy, khói tan gió bốc không phiền phải đắp điếm gì cả. 
Đoạn rồi mỗi người để đôi hài cườm lại tặng Nhân và nói: 
– Mất người còn chút của tin, gọi có vật này để tặng nhau trong lúc sinh ly tử biệt, sau này khi chàng ướm thử, sẽ như là chúng em còn ấp yêu ở dưới chân chàng. 
– Tối hôm ấy, quả nhiên hai nàng không đến. Khoảng gần nửa đêm, trời bỗng nổi cơn mưa gió dữ dội. Nhân đứng tựa lan can, buồn rầu ngơ ngẩn như kẻ mất hồn. Nhân sang chơi nhà ông cụ già bên láng giềng, kể lể về câu chuyện ấy. Ông già nói: 
– Ôi! Cậu nói rõ chuyện chiêm bao chắc? Cái dinh cơ ấy từ khi quan Thái sư mất đi, trải hơn 20 năm nay, đã thành một nơi hoang quạnh. Mấy gian đền mốc một người quét dọn cũng không có, làm gì có nhiều cô gái họ nọ, họ kia như cậu nói. Chẳng qua đó là những hạng gái lẳng lơ dâm đãng nếu không thì là những u hồn trệ phách, hiện lên thành yêu quỷ đó thôi. 
Sáng hôm sau, ông già cùng Nhân đến trại Tây. Chỉ thấy nếp nhà quạnh hiu, vài ba cây đào, liễu xơ xác tơi bời, lá trút đầy vườn, tơ vương khắp giậu. 
Ông già trỏ bảo Nhân rằng: 
– Đây chả phải là nơi cậu đến chơi ư? Chị ả họ Kim, thì đây hoa Kim tiền. Cô nàng họ Thạch, thì đây cây Thạch lựu. Đến như họ Lý, họ Vi, họ Dương, họ Mai, cũng đều nhân tên hoa mà làm họ cả. Không ngờ mấy cây hoa ấy lại biến huyễn như thế được. 
Hà Nhân bấy giờ mới giật mình tỉnh ngộ, tự nghĩ mình bấy lâu mê mải, chỉ là đánh bạn với hồn hoa. Về đến nhà. Nhân lấy những chiếc hài tặng ra xem, vừa cầm trên tay, mấy chiếc hài đã thành ra những cánh hoa, bay vèo lên trên không mất. 
Sáng hôm sau, Nhân đem bán một cái áo, lấy tiền làm mâm cỗ bày cúng hai nàng; lại làm một bài văn tế như sau: 
Duy nhị nhân, 
Băng ngưng kỳ cốt; 
Lộ trích nghiên phương. 
Nhã thượng thiên nhiên chi chất, 
Sỉ vi thời thế chi trang. 
Quân thị danh chu đệ nhất; 
Tin hồ tuyệt đại vô song. 
Lãng uyển anh hoa, yếm khan phú quý, 
Hồ song đăng hỏa, hiếu bạn thanh quang. 
Bồn trưởng song đầu mạt ly, 
Trì thê giao cảnh uyên ương. 
Duy nguyện cửu triêm ư ân hải, 
Như hà cự phản ư tiên hương. 
Nhiễm nhiễm nùng hoa đốn cải, 
Du du biệt hận không tương. 
Phong thừa ngã, ngữ thừa phong, phiến thời liêu loạn, 
Sắc thị không, không thị sắc, bán dạ thê lương. 
Thảm đạm hồng hy viện lạc, 
Đê mê lục ám trì đường. 
Thâm thâm hề ế ngọc, 
Uất uất hề mai hương. 
Thân thế trục thu phong chi khách, 
Phồn hoa kinh xuân mộng chi trường. 
Y nhất chiều ly biệt, 
Vạn cổ bi thương. 
Hồn dục chiêu hề bất phản, 
Tung nghĩ phỏng hề vô phương. 
Túng hữu linh hề vị dẫn, 
Thượng lai hưởng hề dư tràng. 
Ô hô ai tai! 
Dịch: 
Hỡi ơi hai nàng, 
Sương đọng ấy màu, 
Băng trong làm cốt. 
Ưa vẻ thiên nhiên, 
Ghét bề điểm chuốt. 
Sắc nọ hẳn không hai, 
Tài này đành có một. 
Anh hoa vườn Lãng (15), dửng dưng những cảnh huy hoàng, 
Đèn lửa song hồ, thân cận với người nghiên bút. 
Ao uyên ương chim cặp vẫy vùng, 
Chậu mạt lỵ hoa (16) đôi tươi tốt. 
Những mong bể ái giong thuyền, 
Sao bỗng làng tiên trở gót. 
Cuộc biến thiên xui hoa nọ tơi bời, 
Hờn ly biệt để lòng này kèo cuột. 
Gió cưỡi mình, mình cưỡi gió, một khắc mê ly, 
Không là sắc, sắc là không, nửa đêm vi vút. 
Trên ao vẻ biếc đê mê, 
Trước viện màu hồng thưa thớt. 
Ngọc lấp thảm thương, 
Hương vùi não nuột. 
Thân theo bóng nhạn, phơ phất lưng trời, 
Mộng tỉnh phồn hoa, bàng hoàng một phút. 
Ôi! Một sớm chia phôi, nghìn thu đau xót. 
Hồn lạc không về, 
Người đi mất hút. 
Linh thiêng ai hỡi có hay, 
Hiến hưởng rượu này mới rót. 
Than ôi thương thay!!! Thượng hưởng! 
Đêm hôm ấy chàng chiêm bao thấy hai nàng đến tạ rằng: 
– Đội ơn lang quân làm bài văn tế viếng, khiến cho thanh giá chúng em càng bội tăng lên. Cảm vì tình ấy nên chúng em về đây bái tạ. 
Hà Nhân muốn lưu lại, nhưng hai nàng vụt đã bay lên trên không đi mất. 

Lời bình: 
Than ôi, thanh lòng không bằng ít dục, dục nếu yên lặng thì lòng rỗng mà điều thiện sẽ vào, khí bằng phẳng mà cái lý sẽ thắng, tà quỷ còn đến quấy nhiễu làm sao được. Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài kia mới thừa cơ quyến rũ. Nếu không thì những giống nguyệt quái hoa yêu, mê hoặc sao được mà chẳng phải thu hình nép bóng ở trước Lương công là một bậc chính nhân (17). Kẻ sĩ gánh cặp đến học ở Trường An, tưởng nên chăm chỉ về học nghiệp, tuy không dám mong đến được chỗ vô dục nhưng giá gắng tiến được đến chỗ quả dục thì tốt lắm! 

Chú thích
(1) Thiên Trường: đời Trần là phủ, gồm các huyện Mỹ Lộc, Giao Thủy, Tây Chân, Thuận Vi, khoảng thời Lê thuộc trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Nam Định và một phần nhỏ thuộc tỉnh Thái Bình. 
(2) Thiệu Bình: niên hiệu của vua Lê Thái Tông từ 1434 đến 1439. 
(3)ức Trai: tên hiệu của Nguyễn Trãi (1380-1442), quê ở xã Nhi Khê, huyện Thượng Phúc, nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, đỗ đệ nhị giáp khoa thi Thái học sinh năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400) đời nhà Hồ. Ông là một đại văn hào và là một anh hùng dân tộc Việt Nam. 
(4) Vu Phong: non Vu, theo bài phú Cao đường của Tống Ngọc, là nơi Sở Hoài Vương chăn gối với thần nữ. Xem thêm chú thích (11) Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu. 
(5) Bùi Hàng đời Đường đi thi trượt trở về đến trạm Lam Kiều khát nước, vào một nhà gần đó xin uống. Trong nhà có bà cụ già gọi một cô gái tên là Vân Anh nhan sắc tuyệt đẹp. Bùi Hàng xin lấy làm vợ. Bà già đòi phải đem bộ chày cối ngọc để giã một viên thuốc tiên thì sẽ gả cho. Sau Hàng quả đi kiếm được chày cối ngọc đem đến rồi được lấy cô gái ấy. Té ra người con gái là một nàng tiên. Sau vợ chồng đưa nhau vào ở trong động Ngọc Phong đều thành tiên cả (Thượng hữu lục). Ngưu Tăng Nhụ cũng người đời Đường, đi thi trượt về, đến dưới núi Minh Cảo, trời tối lạc đường. Một lúc có bóng trăng lên, thoáng thấy một mùi hương lạ. Xa trông một chỗ có bóng đen, tìm đến thấy một tòa cung đền rực rỡ, thì ra là miếu của bà Thái hậu họ Bạc đời Hán. Bà Bạc Hậu hiện lên mời đón, rồi lại họp mời cả các bạn như Thích Phu Nhân. Chiêu Quân, Thái Chân, Phan Phi, v.v để cùng làm thơ, Tăng Nhụ cũng là một bài (Thượng hữu lục). 
(6) Nguyên tiêu: đêm rằm tháng Giêng. 
(7) Tống Tử, Tề Khương: lấy ý từ hai câu Kinh thi (Trần phong): Khởi kỳ, thú thê, tất Tề chi Khương (Nếu lấy vợ, ắt là nàng họ Khương nước Tề); Khởi kỳ thú thê, Tất Tống chi Tử (Nếu lấy vợ, ắt là nàng họ Tử nước Tống). Họ Khương và họ Tử là hai họ dòng dõi và có con gái đẹp. 
(8) Hàn Hoành: xem chú thích (4) Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu 
(9) Thôi Hộ đời Đường, ngày thanh minh đi chơi, khát nước vào một nhà xin uống, thấy một người con gái đem chén nước ra cho rồi đứng dựa cây đào nhìn mình chăm chú. Thôi đi rồi, bẵng một năm, năm sau cũng ngày thanh minh lại đến nhà ấy thì thấy đóng cửa. Chàng đề một bài thơ như sau: “Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. Nhân diện bất chi hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu đông phong”. Nghĩa là: Bữa nay năm ngoái chốn qua chơi, Mặt ngọc hoa đào óng ánh tươi. Mặt ngọc ngày nay đâu vắng tá. Hoa đào năm ngoái vẫn còn cười. Người con gái xem thơ, nhớ thương rồi ốm chết. Chợt Thôi Hộ đến, nghe tiếng khóc chạy vào ôm thây mà khóc. Người con gái bỗng hồi tỉnh rồi sống lại. Ông bố bèn đem cô con gái gả cho Thôi Hộ (Tình sử). 
(10) Nàng Tây Thi là vợ vua Phù Sai nước Ngô người tuyệt đẹp. 
(11) Nàng Tiểu Man, vợ lẽ của nhà thi sĩ Bạch Cư Dị, múa rất khéo. 
(12) Cúc Hà: Lấy ý từ bài Thu phong từ của Hán Vũ Đế làm khi đi tế ở Hà Phần: Lan hữu tú hề cúc hữu phương: Hoài giai nhân hề bất năng vương (Lan có hoa chừ cúc tỏa hương, Nhớ người đẹp chừ lòng vấn vương). Lan Sở: hoa lan nước Sở, một loài hoa cao quý mà Khuất Nguyên luôn nhắc tới trong tác phẩm Sở từ của ông. 
(13) Tôn Kính đời Hán, người Tín Đô, khi học ở nhà Thái Học, vì không có tiền sách vở nên đã ghép lá liễu làm giấy chép bài mà học. Ban đầu ngồi học, sợ ngủ quên nên đã túm tóc buộc lên xà nhà, hễ ngủ gật sẽ bị thức dậy. 
(14) Xem hoa: Theo lệ, sau khi thi Hội, những người thi đỗ được cho cưỡi ngựa xem hoa trong vườn thượng uyển. Nhưng Liễu và Hoa ở đây còn liên hệ đến tên hai nàng. 
(15) Vườn lãng: Chỉ cõi tiên, cũng như La Phù, Bồng Đảo đều là nơi tiên ở. 
(16) Mạt lỵ hoa: Tức hoa nhài. 
(17) Đời Đường, Vũ Tam Tư, còn có tên là Thừa Tự, có người nàng hầu là Tố Nga, nhan sắc đẹp lắm. Địch Lương Công đến thăm, Tam Tư gọi ra, nhưng nàng lẩn mất, chỉ thấy ở góc nhà có mùi hương, đến lắng nghe thì chính là Tố Nga. Nàng nói: “Thiếp là con yêu hoa nguyệt, Thượng đế cho xuống hầu hạ ông. Lương Công là bậc chính nhân ở đời, thiếp không dám giáp mặt”.

 

Truyền kỳ mạn lục
Chương 6 Chuyện đối tụng ở long cung * (Nguyên văn: Long đình đối tụng lục)
Huyện Vĩnh Lại ở Hồng Châu (1) khi xưa có nhiều giống thủy tộc. Men sông người ta lập đền thờ đến hơn mười chỗ. Năm tháng dần lâu, có chỗ linh thiêng thành yêu; song cầu tạnh đảo mưa đều rất linh ứng, nên hương lửa bất tuyệt mà người ta càng phải kính sợ. 
Về đời vua Minh Tông nhà Trần, (2) có quan Thái thú họ Trịnh làm quan ở Hồng Châu, vợ là Dương thị nhân khi về thăm nhà, đỗ thuyền ở bên cạnh một ngôi đền thờ thủy tộc. Bỗng có hai người con gái, bưng một cái hộp nhỏ thếp vàng, đến trước mặt Dương thị nói rằng: 
– Đức ông tôi sai đem vật này kính biếu phu nhân gọi là để tỏ một chút tình; sớm muộn trong làng nước mây, duyên cưỡi rồng sẽ được thỏa nguyện. 
Nói xong không thấy đâu nữa. Dương thị mở hộp ra xem thì trong đó có cái dải đồng tâm mầu tía, trên dải đề một bài thơ tứ tuyệt rằng: 
Giai nhân tiếu sáp bích dao trâm, 
Lão ngã tình hoài chúc vọng thâm. 
Lưu đãi động phòng hoa chúc dạ, 
Thủy tinh cung lý kết đồng tâm. 
Người đẹp đầu cài trâm bích ngọc, 
Cho ta thương nhớ ngẩn ngơ lòng. 
Vật này dành để đêm hoa chúc, 
Trong thủy tinh cung kết dải đồng. 
Dương thị cả sợ, cùng con hầu bỏ thuyền lên bộ; lại quay về nhiệm sở, kể chuyện với chồng. Trịnh cũng kinh sợ nói: 
– Giống thủy quái ở dâm từ chực bắt mình đấy, phải nên tránh nó đi. Phàm những chỗ bờ sông bến nước đừng bước chân đến. Gặp những đêm mưa gió hay đêm tối trời, phải thắp đèn sáng và cắt người canh giữ. 
Phòng ngừa như thế được chừng nửa năm vẫn thấy vô sự. Đến đêm trung thu kia, nhân thấy bầu trời quang mây, bốn bề trong vắt, sông Ngân vằng vặc, trăng sao sáng tỏ như ban ngày, Trịnh mừng mà rằng: 
– Trăng thanh gió mát như đêm nay có thể không lo gì cả. 
Vợ chồng bèn cùng nhau uống rượu, uống say rồi ngủ lỳ. Chả ngờ đâu sấm chớp bỗng chốc nổi lên, lúc Trịnh thức dậy thì cửa ngõ vẫn nguyên mà Dương thị không thấy đâu nữa. Đến xem chỗ cái đền ngày trước thì mặt sông phẳng lặng, trăng chiếu lạnh lùng, thấy có áo xiêm của Dương thị ở đó. Trịnh Thái thú tiếc ngọc thương hoa, nỗi buồn thật không sao kể xiết, chỉ đứng giữa trời mà nghẹn ngào than thở, không biết làm sao được. 
Rồi Trịnh buồn nản bỏ quan về, chôn một cái mả hờ dưới chân núi Đốn, hằng ngày ở một mình trong cái lầu nhỏ. Cái lầu trông xuống bến sông, mà chỗ bến ấy là một cái vực sâu thăm thẳm. Trịnh mỗi khi lên lầu đứng trông, thường thấy có ông cụ già đeo một cái bao đỏ đựng tiền, sớm đi rồi tối về. Trịnh nghĩ thầm: Quái! Đây là một bến sông sâu thẳm, nào có thôn xóm gì đâu mà ông già kia lại đi lại như vậy. Bèn thử tìm đến chỗ ấy thì quả thấy chỉ có bãi cát phẳng lặng không có nhà cửa gì, duy lèo tèo mấy khóm lau sậy đứng rung rinh ở trên mặt nước. Trịnh lấy làm lạ, đi rộng ra các ngả để tìm, thấy ông cụ già đã đương ngồi xem bói ở trong chợ Nam. Trịnh trông cụ mặt mũi gầy guộc nhưng tinh thần trong sáng, đoán chắc là một kẻ ẩn sĩ lánh đời, nếu không thì một vị chân nhân đắc đạo, lại không nữa thì hẳn là một tiên khách trong áng yên hà, bèn cùng ông cụ làm thân, hằng ngày bày tiệc rượu, cùng nhau chè chén rất vui vẻ. Ông cụ có vẻ cảm bụng tốt của Trịnh, nhưng hỏi họ tên thì chỉ cười mà không chịu nói. Trịnh lấy làm nghi hoặc lắm. Hôm khác Trịnh trở dậy rất sớm, nép mình ở bên khóm lau sậy để nhòm trộm xem ra thế nào. Bấy giờ sương mai ướt át, khói sớm mịt mù, Trịnh thấy ông già từ dưới nước thủng thỉnh đi lên, vội vàng chạy ra sụp lạy. Ông già cả cười nói: 
– Thế ra ông định dò tìm tung tích của tôi ư? Thôi nay đã biết nhau rồi, để tôi kể cho mà biết rõ. Tôi là Bạch Long hầu, may bây giờ hãy còn năm đại hạn, mới có thì giờ rỗi đi chơi lăng băng, chứ nếu Ngọc Hoàng có sắc chỉ truyền đi làm mưa thì chẳng còn đâu thì giờ nhàn để đi làm nghề bói ở nhân gian nữa. 
Trịnh nói: 
– Ngày xưa Liễu Nghị có cuộc xuống chơi dưới Động Đình (3). Thiện Văn có cuộc ăn yến ở Long cung (4), chẳng hay kẻ phàm tục này, có thể được theo dấu của người xưa không? 
Hầu nói: 
– Khó gì sự đó. 
Liền lấy đầu gậy vạch xuống nước, nước rẽ đôi ra, Trịnh theo Long hầu xuống. Đi được chừng nửa dặm thì thấy trời đất trong sáng, lâu đài chót vót, từ nhà ở đến thức ăn, đều là những vật ở nhân gian không có. Hầu tiếp đãi rất chu đáo. Trịnh nói: 
– Không ngờ một kẻ nghèo khó lại được bước đến chỗ tôn nghiêm này. Ngày xưa có cái tai biến phi thường, ngày nay có sự gặp gỡ phi thường, công việc báo phục, có lẽ chính ở dịp này chăng? 
Long hầu hỏi căn do, Trịnh đem việc Dương thị ra kể, và nói mong nhờ cậy uy linh, trừ loài hung xú, khiến buồm nhân gió mà được thuận, cáo nhờ hổ để dương oai, thì thật là cũng bõ một phen gặp gỡ. 
Long hầu nói: 
– Họ dù càn rỡ, đã có sắc mệnh của triều đình Long vương. Huống chi mỗi người riêng ở một nơi, không thống thuộc gì với nhau, ai dám vượt qua sông nước, dấy động giáp binh, để phạm vào một cái tội lỗi không thể tha thứ. 
Trịnh nói: 
– Vậy thì bây giờ tôi phát đơn kiện ở triều đình Long vương được không? 
Hầu nói: 
– Âm dương khác nẻo, chuyện chưa rõ ràng, ông muốn đem cái việc vô bằng, bắt kẻ địch rất mạnh, sợ rằng mối thù ấy chưa thể trả được. Chi bằng trước hẵng cậy người dò xét, lấy được chứng cớ, thì trừ kẻ gian kia chẳng khó khăn gì. Song tả hữu của tôi, không có người nào đủ chắc cậy để sai đi được, vậy để ta hãy liệu xem đã. 
Cạnh đấy có một người con gái áo xanh bước ra nói rằng: 
– Thiếp xin nhận công việc ấy. 
Trịnh bèn cung kính mà nói lời ủy cậy và trao cho một cành thoa bằng ngọc mầu biếc để cầm đi làm tin. 
Nàng áo xanh đến miếu thờ Thần Thuồng luồng ở Hồng Châu, hỏi thăm quả có người đàn bà họ Dương, hiện được phong là Xương ấp phu nhân, ở trong một cái điện bằng ngọc lưu ly, chung quanh có ao sen bao bọc, gối chăn yêu dấu, hơn hết các phòng, và năm ngoái đã sinh được một con trai. 
Nàng mừng lắm, song lâu đài chi chít, không có đường thông, đành chỉ thẩn thơ ở ngoài cổng. Bấy giờ màu xuân đương đẹp, hoa tường vi nở rất nhiều, trông hình như muôn điểm ráng hồng, kết lại ở trên tường rực rỡ. Nàng vờ như không biết, vừa bẻ vừa rung. Người canh cổng nổi giận. Nàng liền đưa cành thoa đút lót mà nói: 
– Tôi tưởng những dây hoa leo này, không phải là của quý gìn giữ, lỡ tay vin hái, thật là có tội. Tấm thân yếu ớt, sợ không chịu nổi roi vọt. Vậy xin bác cầm cành thoa này đưa vào lầu ngọc, để mong được khoan tha không phải đánh đập, thì tôi thực đội ơn vô cùng. 
Người ấy nghe lời, cầm cành thoa vào dâng Dương thị. Dương thị nhìn lúc lâu, giả cách nổi giận mà rằng: 
– Con bé nào mà dám đường đột như vậy, làm hỏng cả một giàn hồng cẩm của ta. 
Truyền đem trói người con gái ấy trong vườn ngân hạnh. Thừa lúc vắng vẻ, Dương thị lẻn đến, cầm cành thoa khóc mà nói rằng: 
– Đây là vật cũ của Trịnh lang chồng ta xưa làm sao lại ở tay chị? Hãy nói rõ sự thực đi! 
Nàng áo xanh nói: 
– Bảo vật này chính là do Trịnh lang đã giao cho tôi. 
Lại nói: 
– Trịnh lang hiện đương ở nhà Bạch Long hầu, vì phu nhân mà quên ăn bỏ ngủ, rồi nhờ tiện thiếp xa gửi đến một mối tình để trả món tương tư nợ cũ. 
Nói chưa hết lời thì có con tiểu hoàn vào báo là tuần Thuồng luồng có lệnh vời. Dương thị vội lật đật đi ra: sáng hôm sau lại đến, ân cần hỏi han và trao cho một bức thư mà dặn rằng: 
– Chị về nói hộ với Trịnh lang cho ta: người vợ xấu số ở bến nước xa xăm, lúc nào cũng vẫn thương nhớ đến chàng; chàng nên cố xoay xở cách nào để cho được phượng lại trong mây, ngựa về trên ải, đừng khiến tôi phải già đời ở chốn cung nước làng mây này. 
Bức thư gửi cho Trịnh lang như sau: 
“Non thề bể hẹn, chao ôi việc trước lỡ làng, gió dập mưa dồn, ngán nỗi kiếp này lận đận. Nước non muôn dặm, tâm sự mấy lời. Nghĩ như thiếp chút phận mỏng manh, tấm thân mềm yếu. Duyên đôi lứa tự trời xe lại, ước trăm năm cùng huyệt dám sai. Nào ngờ biến dậy một đêm, đến nỗi hình rơi đáy vực. Bởi không thể chìm châu đắm ngọc, nên đành cam giãi nguyệt dầu hoa. áo xiêm đã lắm tanh nhơ, thân thế tạm thời còn thoi thóp. Sầu đầy tựa bể, ngày dài như năm. Nào hay giữa lúc bơ vơ, bỗng nhận được thư thăm hỏi. Ngắm cành thoa mà ứa lệ, nhìn khách đến những đau lòng. Một bước lỗi lầm, riêng cỏ nội hoa hèn thắc mắc; ba sinh thề ước, có trời cao đất cả chứng tri. Ngọc bích chưa lành, cân vàng xin chuộc”. 
Nàng áo xanh trở về báo tin cho biết, Long hầu bảo Trịnh rằng: 
– Việc có thể nên được đấy. 
Bèn cùng nhau đi ra bể nam, đến thăm một tòa thành lớn. Hầu vào trước, bảo Trịnh đứng đợi chỉ ở ngoài cửa thành. Một lát, Trịnh thấy một người ra dẫn vào trong một cái đền, trên đền có một vị vua mặc áo tinh hồng, (5) mang đai ly châu, (6) quần thần đứng chầu chực hai bên không biết bao nhiêu mà kể. Trịnh quỳ dài xuống mà tâu bày mọi nỗi, lời rất thê thảm. Đức vua ngoảnh nhìn vào một viên đứng bên phía tả, giục thảo trát đòi. Rồi có hai người lính vượt không ra đi. Chừng độ nửa ngày, hai người lính áp giải đến một người đàn ông, thân thể vạm vỡ, mũ đỏ mặt đen, râu ria đâm tua tủa như rễ tre vậy, ra giữa sân mà quỳ rạp xuống. Đức vua mắng rằng: 
– Tước không cho nhảm, phải đợi người công lao, hình không dùng xằng, để trị kẻ gian nhũng. Như nhà ngươi trước có công lao, nên ta cho coi giữ một phương, vì dân che trở. Vậy mà ngươi giở thói dâm ngược, như thế là trừ tai ngừa hoạn cho dân đấy ư? 
Người ấy nói: 
– Kẻ kia ở trên trần, tiểu thần ở dưới nước, mỗi người một ngả, có can thiệp gì đến nhau. Vậy mà hắn buông lời phao vu, để hãm hại người vô tội. Nếu bệ hạ tin nghe lời hắn thì triều đình mắc sự lừa dối mà tiểu thần chịu tội mập mờ, tưởng không phải là sự yên trên toàn dưới vậy. 
Bên nói đi, bên cãi lại, người ấy vẫn không chịu nhận tội, đức vua cũng hồ nghi không biết quyết định thế nào. Long hầu đứng bên khẽ rỉ tai bảo Trịnh rằng: 
– Chi bằng khai tên tuổi Dương thị, xin cũng bắt đến xét hỏi. 
Trịnh theo lời tâu lên, đức vua quả truyền đi bắt Dương thị đến. Ngày đã xế chiều, lại thấy hai người lính dẫn đến một mỹ nhân, xúng xính thướt tha, từ mé đông lại. Đức vua hỏi: 
– Chồng ngươi đâu? 
Dương thị tâu: 
– Người áo xanh kia là chồng thiếp, còn người áo đỏ là kẻ thù. Độ trước không may bị cái yêu ấy bắt cướp, trải đã ba năm trời nay. Nếu không nhờ được sự soi tới của vầng thái dương, thì hồn tàn vóc nát sẽ phải chịu nhơ nhuốc trọn đời, còn mong gì được ló mặt ra nữa. 
Đức vua cả giận nói: 
– Không ngờ thằng giặc kia lại gian hoạt đến như thế. Bên trong thì làm sự dâm dật, mặt ngoài thì già họng chối cãi. Việc ấy nỡ làm thì dù đem xử tử cũng không đáng tiếc. 
Bấy giờ có một người mặc áo bào xanh hiệu là Chính hình lục sự, tâu rằng: 
“Thần nghe: vì tình riêng mà ban thưởng, thưởng sẽ không công, đương lúc giận mà xử hình, hình tất quá đáng. Duỗi co vốn khác, châm chước mới nên. Đem cái tài vuốt nanh, giữa cái trách phên giậu, tự hắn dẫu gây nên tội nghiệt, với dân cũng có chút công ân. Có tội phải gia hình, tuy đã cam bề vạn tử; đem công mà trừ lỗi, cũng còn mong được toàn sinh. Xin khoan cho tội tru di, hãy giam vào ngục đen tối”. 
Đức vua khen phải, bèn phê phán rằng: 
“Mảng nghe: Đời người như khách trên đường, kẻ trước đi qua mà kẻ sau tiếp đến; đạo trời không sai tơ tóc, làm lành được phúc mà làm ác chẳng yên. Lệ luật không mờ, cổ kim vẫn thế. Nay nhà ngươi vốn do huân phiệt, lạm giữ phương ngung. Lẽ nên linh hiển, để tỏ đức rồng, sao được tà dâm, làm theo nết rắn. Sự càn rõ ngày càng quá tệ, luật công minh tất phải thi hành. Than ôi, vợ người cố chiếm, đã rất mực mê cuồng, phép nặng không dong, để răn phường gian ác. Dương thị kia, nết tuy đáng trỏ, tình cũng khá thương; thân nên về với tiền phu, con để trả cho hậu phu. Mấy lời phê phán, lập tức thi hành”. 
Nghe lời phán xong, thần Thuồng luồng cúi đầu đi ra. Tả hữu cũng đưa mắt cho Trịnh bảo lui. Long hầu về nhà bèn đặt tiệc mừng, và tặng cho các thứ văn tê, đồi mồi. Vợ trồng Trịnh cùng lạy tạ rồi trở về nhà, kể hết đầu đuôi cho người nhà nghe, ai cũng đều mừng thay và lấy làm một chuyện lạ. 
Sau Trịnh có việc đến Hồng Châu, lại đi qua chỗ đền ấy, thấy tường xiêu vách đổ, bia gẫy rêu trùm, duy có cây gạo đương tung bay bông trắng ở dưới bóng dương tà xế. Hỏi thăm những ông già bà cả, đều nói: “Trước đây một năm, một hôm giữa ban ngày bỗng dưng không mây mà mưa, nước sông đầy dẫy, rồi có một con rắn dài mười trượng, vẩy biếc mào đỏ, nổi trên mặt nước mà đi lên mạn Bắc, đằng sau có hàng hơn trăm con rắn nhỏ đi theo, đền từ đấy không linh thiêng nữa”. Bấm đốt tính xem thì ngày ấy chính đúng vào ngày Trịnh kiện. Ôi lạ thay! 

Lời bình: 
Than ôi, chống được ách lớn thì thờ, cản được nạn lớn thì thờ, đó là phép cúng tế. Hưởng sự cúng tế ấy thì phải “cố danh tư nghĩa”, (7) đâu có lẽ nhận sự thờ cúng lại còn đi làm tai làm họa cho người. Thế thì cái tội của vị thần Thuồng luồng chỉ phải bị đày thôi sao! 
Quảng Lợi vương dụng hình như thế, thật là chưa đáng. Tất phải làm như Hứa Tốn, Thứ Phi (8) mới là cái việc thú vị được. Cho nên Địch Nhân Kiệt khi làm Tuần phủ Hà Nam (9) tâu xin phá hủy đến một nghìn bảy trăm tòa đền thờ không xứng đáng, thật là phải lắm. 

Chú thích
(1) Hồng Châu: tương đương với vùng đất thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay. 
(2) Minh Tông nhà Trần: Trần Mạnh, vua thứ năm nhà Trần từ 1314 đến 1329; niên hiệu Đại Khánh (1314-1323) và Khai Thái (1324-1329). 
(3) Liễu Nghị người đời vua Trung Tông nhà Đường, đi thi bị trượt, về đến đất Kinh Dương, thấy một người đàn bà chăn dê đến nói rằng: “Thiếp là con gái vua Động Đình, gả cho con thứ vua Kinh Xuyên, bị con hầu gái xúc xiểm, thành ra đắc tội với cha mẹ chồng, nên phải truất đuổi đến đây. Nghe chàng về qua Động Đình, làm ơn đưa hộ thiếp bức thư. Nhà thiếp ở cổng có cây quýt lớn, cứ gõ vào cây ba tiếng thì có người ra”. Nghị theo lời. Rồi nhân thế được đón xuống chơi Long cung. Sau Nghị lấy người con gái họ Lư, nàng xưng mình chính là Long nữ nhờ Nghị đưa thư ngày trước, rồi cùng đưa nhau về ở Động Đình. 
(4) Khoảng niên hiệu Chí Chính nhà Nguyên, có người học trò là Dư Thiện Văn, giữa ban ngày thấy hai người lực sĩ đến nói là vâng mệnh của Quảng Lợi vương (vua thủy) sai đón, Thiện Văn theo đi. Đến bến sông xuống một chiếc thuyền, thấy hai con rồng vàng cắp mà đem đi, rồi xuống đến Thủy phủ. Quảng Lợi vương tiếp đón long trọng rồi nhờ soạn hộ một bài văn để đọc lúc làm lễ cất câu đầu của tòa đền Linh Đức sắp dựng. Thiện Văn liền làm hộ một bì rất hay. Khi khánh thành, Thiện Văn được dự một bữa yến lớn. 
(5) áo tinh hồng: áo màu đỏ; tinh: con tinh tinh thuộc họ vượn. Tinh hồng: màu đỏ như huyết con tinh tinh. 
(6) Đai ly châu: đai ngọc quý. Ly châu: ngọc, ý từ sách Trang Tử: “Ngọc châu nghìn vàng tất ở dưới hàm con ly long, dưới vực sâu chín trùng” (Thiên kim chi châu, tất tại cửu trùng chi uyên, nhi ly long hàm hạ) 
(7) Cố danh tư nghĩa: đoái trông cái danh mà nghĩ đến cái nghĩa của nó, nghĩa là danh phải đúng với thực. 
(8) Hứa Tốn là người đời Tấn, trước làm quan lệnh ở Tinh Dương, sau từ quan về học được đạo thuật, chém rắn và giết thuồng luồng để trừ hại cho dân. Thứ Phi là một kẻ dũng sĩ đất Kinh về đời nhà Chu, giỏi kiếm thuật. Một lần đi thuyền có hai con thuồng luồng kèm hai bên thuyền. Phi rút gươm nhảy xuống sông chém chết cả hai, cả thuyền được yên ổn. Kinh vương nghe tiếng, vời dùng làm chức quan Chấp khuê. 
(9) Địch Nhân Kiệt (607-700): là một đại thần đời Đường, tính tình rất ngay thẳng. Thời Cao Tông, ông làm chức Đại lý, xử 17.000 vụ án tồn đọng mà không ai phàn nàn điều gì. Khi làm Tuần phủ sứ ở Giang Nam (trong truyện và nguyên chú là Hà Nam), ông đã sai phá hủy 1.700 tòa dâm từ.


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 5.270
  • 177
  • 9.180
  • 165
  • 5.491.551
  • 831.052