Thần tiên Việt Nam

TRẦN TRIỀU THÁNH CHÂN KINH 陳朝聖真經 Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Đạo Giáo Thần Tiên

 

陳朝聖真經越南神仙-越南道教

 TRAN_TRIEU_copy3.jpg

Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương 陳朝聖 – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

 

 

 

 

越南道教 thần tiên việt nam Taoist

 

越南道教 thần tiên việt nam Taoist 

 

 

TRẦN TRIỀU 

CỬU THIÊN VŨ ĐẾ CHÂN KINH

LỜI GIỚI THIỆU
Thời Trung cổ, nước Mông Cổ, xét về dân số, chỉ là một nước nhỏ, nhưng họ đã làm rung chuyển thế giới thời đó vì họ có những thủ lãnh xuất chúng với một đạo kị binh thiện chiến giỏi cỡi ngựa, giỏi cung tên và vô cùng tàn ác, “nơi nào ngựa Mông Cổ đi qua, cây cỏ cũng hết sống”. 
Cả Á Âu trong cơn kinh Hoàng, khiếp đảm về cái họa TacTa ( giặc Mông), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này đến nước khác. Từ Thái Bình Dương đến tận bên bờ Địa Trung Hải, khắp Á Âu chưa có 1 danh tướng nào cản được. 
Giáo Hoàng La Mã sợ hãi đến nỗi (Tủy khô, thân gầy, sức kiệt).Các nước Tây Tạng Ấn Độ đều khiếp đảm… Người Đức hàng ngày cầu nguyện “Chúa Trời, thượng Đế xin cứu. vớt khỏi cơn thịnh nộ 
TacTa”, và có một nhà tiên tri của Thiên Chúa Giáo nói rằng: “Chỉ khi phương Nam xuất hiện một vị thánh nhân nắm bảo kiếm và lệnh ấn của Ngọc Đế cử xuống phương Nam mới có thể dẹp được ”. 
Vị thánh này chính là Thanh Tiên Đồng Tử giữ ấn pháp của Thái Thượng Lão Quân giáng trần
Sách Việt Điện U Linh chép
Đời Hùng Vương thứ 18 cơ đồ nhà Hùng đã hết Ngọc Hoàng sai Thái Bạch Kim Tinh Tản Viên Sơn Thánh, xuống đưa cha con Vua Hùng về trời nhường ngôi cho An Dương Vương, và trải qua các triều đại đến triều Trần. 
Thời kỳ đầu của nhà Trần ở địa phận sao dực, sao chẩn có 1 dải khí bốc lên trời. 
Thần Tản Viên thấy thế biết tới đây sẽ có nạn ngoại xâm do yêu nghiệt gây nên, bèn bay về trời tâu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế. 
Thượng Đế hỏi ai có thể vì trẫm quét sạch dải khí đó sẽ cho mang theo phi thần kiếm, cờ ấn, tam bảo của Thái Thượng Lão Quân, ngũ tài của Thái Công giáng hạ vào nhà thân vương làm 1 vị danh tướng khi mất trở thành phúc thần không.
Bấy giờ có thanh tiên đồng tử đang hầu cạnh Thái Thượng Lão Quân luyện đan và pháp thuật xin đi, và được đầu thai tại nhà Đoan Túc phu nhân. Khi sinh ra trong nhà tràn ngập hương thơm và ánh sáng.
Sáng hôm sau có 1 vị đạo sỹ coi thiên văn thấy có 1 vị tướng tinh rơi xuống liền đến xem mặt, khi nhìn thấy vị đạo sỹ vội lui xuống bái lạy và nói người này tốt lắm về sau cứu nước cứu đời làm sáng sủa non sông năm châu bốn biển. 
Đó chính là Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương ba lần đánh tan quân nguyên lừng danh nức tiếng… Và khi dẹp giặc xong ngài hóa trở về trời được Ngọc Hoàng sắc lệnh phong là Cửu Thiên Vũ Đế với xứ mệnh diệt trừ yêu ma tà đạo ở ba cõi. Chỉ đứng dưới Ngọc Hoàng. 
Thượng giới (Thiên Đình), Trung Giới (Nhân Gian), Hạ Giới (Địa Phủ).
Sau khi hoàn thành xứ mệnh dẹp yên bờ cõi trừ bọn yêu ma. Trở về cõi tiên và được phong đế ngài tiếp tục hiển hóa giáng trần. Tại Việt Nam khắp nhân gian lập đền thờ cầu xin ngài hiển linh bảo hộ đất nước bình an mưa thuận gió hòa, vạn sự như ý.
(Đền thờ chính của Hưng Đạo Đại Vương tại Đền Kiếp Bạc).
Hồi nhỏ thánh vương đã có tướng mạo khác thường, học rộng tài cao, luôn ngồi bên thái tông Hoàng Đế để bàn luận nghĩa lý kinh sách. Tại điện Giảng Võ thánh vương học giải tôn tử pháp binh, bát trận đồ của Khương Thái Công độn toán của Quỷ Cốc Tiên Sinh, Thái Ất Chân Nhân. Nên ngài thông thạo chu dịch, hiểu lẽ trời biết âm dương, tinh thông bát quái một trăm quẻ thần toán Trần Triều Hiển Thánh truyền lại. Để người đời sau gieo quẻ biết số phận lành dữ đoán trước họa phúc trên đường đời. Tất cả những quẻ này hết sức linh nghiệm được tôn vinh là Tiên Thiên Thần Số.
Hữu cầu tất ứng. Hữu ứng vạn linh.

ĐẠO GIÁO
THẦN TIÊN VIỆT NAM

 

Câu hỏi Thần Nông Viêm Đế

 

Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt). Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các “ông vua” đầu tiên của họ[cần dẫn nguồn]. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là “ông tổ” của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.

 

 Sách Đạo Giáo tri thức cơ bản có đoạn mở đầu:

Đạo giáo đúng như một nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận định:

 

Khi anh hỏi một người Việt Nam vậy y có phải là tín đồ Phật giáo không, thì người đó có thể trả lời ngay: Vâng tôi là người theo đạo Phật, dường như đạo Phật là một nét đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Còn nếu như anh ta hỏi một người Việt Nam vậy y có phải là tín đồ Đạo Giáo không, thì người ấy chẳng hiểu gì hết; song nếu anh đặt một câu hỏi khác, hỏi y có biết Ngọc Hoàng , có biết Nam Tào, Bắc Đẩu, có biết 12 thiên tướng không thì y sẽ ngay lập tức trả lời cho anh rằng: biết chứ! Người Việt Nam theo Đạo giáo mà không biết rằng đó là Đạo Giáo.

 

Trích cuốn sách “Đạo Giáo tri thức cơ bản” của Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Cường do NXB Từ Điển Bách Khoa xuất bản.

 

 

 

Xưa nay có nhiều quan niệm “ Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam” là do từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam. Theo quan điểm thực tế của riêng tôi thì:
Nguồn gốc “Thần Tiên Việt Nam” là do các vị Tiên Thánh đầu thai xuống địa phận quốc gia công thổ của nước Nam chứ không phải người từ phương khác du nhập đến. Kinh sách cũng do Thần Tiên từ trên trời hiển linh ứng dạy, khuyên con người ăn ở, tu nhân tích đức, bảo vệ dòng dõi. Học hỏi điều hay đưa con người đến văn minh và tiên tiến cho xã hội loài người.
* Lấy ví dụ: 
Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng chỉ 
– Từ đời Vua Hùng.
– Tứ bất tử: 
+ Tản Viên Sơn Thánh  là do Thái Bạch Kim Tinh hóa thân giáng hạ, giao gậy đầu sinh đầu tử và sách thần thư bí pháp truyền do Long Vương tặng giáng hạ và đầu thai tại núi Tản Viên Việt Nam.
Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương là do con trai út của Thiên Vương hóa thân đầu thai. Trên trời tức là tam thái tử 3 tuổi nhận lệnh cầm hỏa luân thần giáng trần và đầu thai ở Sóc Sơn Việt Nam.
Chử Đồng Tử Đế Quân  là do Đông Hoa Đế Quân nguyên khí của Thái Dương Tinh Quân nắm sách sinh tử y thần giánh hạ đầu thai tại bãi cát tự nhiên Việt Nam.
Liễu hạnh Công Chúa là con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng Thượng Đế nhận bút sách văn chương 3 lần “tam sinh tam hóa” giáng hạ và đầu thai tại Việt nam.
– Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương
là do Thanh Tiên Đồng Tử giữ Càn Khôn luyện linh đơn hộ mệnh Thái Thương Lão Quân. Nhận lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm ấn và bảo kiếm giáng trần và đầu thai tại phủ Thiên Trường(nay thuộc xã Lộc Vượng Nam Định) ở Việt Nam.
Lương Quốc Trạng Nguyên  – Nguyễn Bỉnh Khiêm là do Thái Ất Chân Nhân hóa thân nhận sách “mật thư Thái Ất Thần Kinh” giáng trần đầu thai tại Thôn Trung Am, huyện Vĩnh Bảo ở Việt Nam. 
Và còn rất nhiều các vị Thần Tiên, các vị chân nhân Thiên tài văn, võ, y thuật …
Các vị trên đều do nhận lệnh của 
Ngọc Hoàng Thượng Đế
Giáng hạ và đầu thai tại Việt Nam nên Đạo phải là của người Việt Nam. Còn việc đi học hỏi các nước anh em xung quanh trên thế giới đó là quy luật của con người tiếp thu những tinh hoa về cho quê hương đất nước nên các cụ ngày xưa có câu rằng: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Như cụ Hồ buôn ba học hỏi các nước anh em trên thế giới trở về Việt Nam giúp quê hương đất nước, là người của Việt Nam.
Qua những dẫn chứng trên cho thấy 
Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam 
Là những vị Thần thông tái thế linh hiển muôn kiếp danh tiếng vẻ vang cho non sông đất nước của Việt Nam “Con Rồng cháu Tiên”
Rất nhiều các đời Đế Vương đã mở khoa thi Đạo giáo. 
Chọn nhân tài cho đất nước như: Trạng nguyên, Đăng khoa, Võ khoa, y khoa…
Điển hình Triều đình từng mở khoa thi
Đạo giáo vào đời vua Lý Cao tông (1195) và vua Trần Thái tông (1247). 
Đạo Lão ở Việt Nam thời xưa. Đời Hậu Lê, Trần Toàn là người làng Yên Đông, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa và rất nhiều địa phương đều thờ Đạo Gia Tiên.
Triều đình đã công nhận đạo trường. Nó có uy thế rất lớn. Chi nhánh của Nội đạo trường xuất hiện khắp nơi, nào là làng Từ Quang (tức Từ Minh trước kia, huyện Hoằng Hóa), là làng Yên Đông (huyện Quảng Xương), đều ở tỉnh Thanh Hóa; hoặc ở tỉnh Nghệ An, ở hạt Huệ Lai, tỉnh Hưng Yên; hay ở Nhật Tảo (tỉnh Hải Dương), ở làng Giảng Võ (gần Hà Nội)…
Về sau, Nội đạo trường thờ 

Liễu Hạnh Công Chúa, Mẫu nghi thiên hạ
Đức Trần Hưng đạo Đại thiên tôn. 
Đức Phù Đổng Thiên vương Đại thiên tôn.
Thần núi Tản Viên Đại thiên tôn. 
Chử Đồng Tử Đế quân Đại thiên tôn.

Thần Bạch Mã…[23] 
THI LÃO HỌC
Triều đình từng mở khoa thi
Đạo giáo vào đời vua Lý Cao tông (1195)
và vua Trần Thái tông (1247).
Về nội dung thi Lão Giáo ,
Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm được một đề thi và một bài trả lời các câu hỏi ra trong đề đó.
[24] Nghiên cứu tài liệu này, có thể hiểu được phần nào sự học Lão của người Việt đời trước. Sau đây là bài thi:
(1) PHÁP MÔN LÀ GÌ?
Mọi pháp quy tôn(g), muôn đời chẳng đổi, muôn thánh ngàn thần, một môn đồng hội, ấy gọi là pháp môn vậy.
(2) PHÙ THỦY LÀ GÌ? 
Khí âm khí dương hỗn hợp mà thành ra thiêng, dùng nước đại bi phun cho ma sợ, ấy gọi là vậy.
(3) PHÁP MÔN LẤY AI LÀM THÁNH? 
Pháp môn do Thái Thượng Lão quân lập ra cho nên tôn Ngài làm Thánh.
(4) PHÙ THỦY LẤY AI LÀM THẦY? 
do Chân vũ Tiên sinh lập ra cho nên tôn Ngài làm Thầy

(5) TỨ THÁNH,TỨ GIÁC, TỨ TUNG, TỨ DUY LÀ Ý THẾ NÀO? 
Thiên bồng Thiên du, Bảo đức,
Hắc sát gọi là Tứ thánh.
Càn, Khôn, Tốn, Cấn gọi là Tứ giác.
Thiên hoa, Địa hoa, Lão hạc, Đồng trụ
gọi là Tứ tung. Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là Tứ duy.
(6) TAM GIỚI, TAM THANH, TAM ĐỘNG, TAM TY LÀ THẾ NÀO? 
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới ấy là Tam giới.
Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, ấy là Tam thanh.
Động chân, Động huyền, Động vi ấy là Tam động. Lôi đình, Linh bảo, Thái huyền ấy là Tam ty.
(7) ÔN, HOÀNG, DỊCH, LỆ SINH VÀO BUỔI NÀO? 
Vua Hoàng đế có bốn người con bất tài tên là Ôn, Hoàng, Dịch, Lệ sinh vào đời Chuyên Húc.
( TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI SINH ĐƯỢC MẤY CON? 
Tốn sinh ra được bốn con là Đông, Tây, Nam, Bắc. Ly sinh được chín con từ Nhất bạch, Nhị hắc đến Bát bạch, Cửu tử. Khôn sinh ra sáu con tức là Thái âm, Lục khí. Đoài sinh ra bảy con tức là Bắc đẩu Thất tinh. Ấy là Tốn, Ly, Khôn, Đoài có hai mươi sáu con vậy.
(9) HÀNH MÃN TAM THIÊN SỐ, THỜI ĐƯƠNG TỨ VẠN NIÊN LÀ GÌ? 
Số Trời thành 1.000, số đất thành 1.000, số người thành 1.000, ấy là hành mãn tam thiên số. Từ Thái dịch đến Thái sơ là 10.000 năm, từ Thái sơ đến Thái thủy 10.000 năm, từ Thái thủy đến Thái tố 10.000 năm, từ Thái tố đến Thái cực 10.000 năm. Ấy là thời đương tứ vạn niên.
(10) ĐẠO CAO LONG HỔ PHỤC, ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH CHỈ VỀ THẦY NÀO?
Đạo chí cao không thể vượt qua được, mà rồng là dương tinh, cọp là âm tinh đều phục đạo cao. Đức chí hậu không thể vượt qua được, mà quỷ là khí tán, thần là khí tinh đều sợ đức trọng. Ấy là Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh, chính là chỉ sư Phổ Am vậy.
(11) PHÉP BẮT TÀ TRÓI QUỶ DÙNG LINH PHÙ NÀO? ĐỌC THẦN CHÚ NÀO? 
Nếu được đàn tràng cho chỉnh túc, pháp tịch cho hẳn hoi, niệm thấy tam giới mà muôn thánh đều đến, trống đánh ba hồi mà muôn thần đều nhóm họp, trước phải gọi tướng, thứ phải sai đi.
Tưởng đến thiên võng mà kín đáo ra bùa, bắt tay ấn mà thiêng liêng chú bút, bốn chữ thánh đè năm chữ quỷ, chữ (…?) hợp với vạn linh.
Dùng những bùa thiêng Bạch xà, Độc cước, đọc những thần chú Thái thượng, Tề thiên.
(12) MUỐN CHO ĐỜI NÀY, DÂN NÀY ĐỀU VÀO TRONG ĐÀI XUÂN, CÙNG BƯỚC LÊN CÕI THỌ THÌ PHẢI DÙNG THUẬT GÌ? 
Nếu trước hết chính tâm thì bọn tà mị không thể rục rịch. Trước hết chính thân thì khí tà không thể xâm phạm. Tâm chính rồi thì lấy đó ra ơn cho dân. Thân chính rồi thì lấy đó mà giúp.

Thái Ất chân nhân nói:
Một Chân nhân tu đắc đạo có thể nhìn thông Thiên Địa, mắt trái xem thiên cơ, mắt phải xem địa lý. Tai nghe vạn vật, ngăn chặn tai ách cứu độ chúng sinh. Không cánh có thể bay, có thể cưỡi rồng lên chốn Thiên Đình, đi qua lửa, xuyên qua núi cao biển cả, đứng trước chốn đông người không ai biết, ẩn thân vào thảo mộc. Tiêu diêu tự tại cứu tế cho bách tính.
Nhà nào có Kinh này thường tụng tránh được nạn kiếp, bình an và tài lộc tự đến. Người tụng Kinh này sẽ được các thiên thần ở 10 cõi trời hộ thân. Thiên Địa cảm ứng, sau được Ngọc phù Bảo Thần Kim dịch luyện hình, hình thần cùng đạo hợp chân.
Bắc Đẩu tinh quân nói:
Nhà nào có Kinh này ngộ giải được thì tai chướng chẳng xâm, chư thánh giữ cửa. Người chết dưới địa phủ được thăng thiên. Mộ phần kết phát, con người thanh tú, hạnh minh đa đinh đông người. Ngũ lộ thần tài chỉ lối. Văn Xương ban pháp học danh. Thần lên Thượng giới Triều Bái cao chân công đầy, đức thành. Tương cảm đế quân. Tụng Kinh linh ứng nâng mây tím mà lên trời. Có câu rằng: Nhất nhân đắc đạo Kê, Khuyển cũng thăng thiên.
Khổng Tử nói:
Kinh pháp kỳ diệu không thể tưởng
Không đầu, không đuôi lại vô hình
Nếu dùng trực giác mà thấy được
Người trần siêu phàm xuất thế nhân.
Đại Sỹ Quan âm nói:
Ai có duyên tụng được chân kinh cửu thiên vũ đế giáng tại Nam Phương gọi là chân đạo. Kinh này là pháp của trời. Người tập chẳng truyền cho hạ sỹ. Thủa xưa ta nhận được Kinh này từ Đông Hoa Đế Quân. Đông Hoa Đế Quân nhận được từ Kim Khuyết Đế Quân. Kim Khuyết Đế Quân nhận được từ Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu theo cách truyền miệng không ghi văn tự. Nay ta ghi thành sách mà truyền cho đời. Thượng Sỹ ngộ rồi sẽ lên Thiên Cung. Trung Sỹ tu rồi sẽ thành Tiên ở Nam Cung. Hạ Sỹ học được sẽ sống lâu trên đời, du hành tam giới vào được Kim Môn.
Thái Thượng Lão Quân – Đạo Đức Thiên Tôn

 

TRẦN TRIỀU THÁNH CHÂN KINH

Khấn

Việt Nam Quốc: Địa chỉ … Năm… tháng… ngày…

Tín Sỹ: …...

CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ


TỊNH TÂM THẦN CHÚ :
Thái Thượng duyên sinh
ứng biết vô đình
Khu tà phọc mỵ
Luyện khí bảo tinh
Trí tuệ minh tĩnh
Tâm thần an ninh
Tam hồn vĩnh cửu
Phách vô táng khuynh
Cấp cấp như luật lệnh

TỊNH THÂN THẦN CHÚ :
Hưng Đạo Đại Vương
An úy thân hình
Đệ tử hồn phách
Ngũ tạng huyến minh
Thanh Long Bạch Hổ
Đội trượng phân vân
Chu Tước Huyền Vũ
Thị vệ ngã thân
Cấp cấp như luật lệnh

TỊNH KHẨU THẦN CHÚ :
Đan chu khẩu thẫn
Thổ nế trừ phận
Thiệt thần chính luân
Thông mạnh dưỡng thần
La thiên xỉ thần
Khước tà vệ chân
Hẩu thần hổ bôn
Thân khí dẫn tân
Tâm thần đan nguyện
Linh ngã thông chân
Tư thần luyện dịch
Đạo khí trường tồn
Cấp cấp như luật lệnh

CỬ HƯƠNG THẦN CHÚ :
Tâm hương nhất triện
Thấu đạt Cửu Thiên
Thanh cung mật vật giáng chân tiên
Đệ tử chí tâm bái tọa tiền
Ngưỡng kỳ phúc lộc thọ miên duyên
Chí tâm phục mệnh lễ Đại Thiên Tôn

THANH CUNG LIỆT TƯỚNG BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ
Trùng Hưng Danh Tướng
Đại Vương gia thần
Tùy sư phá tặc
Ái quốc trung quân xỉ thạch mạc từ
Doãn địch cần vương chi chí
Gian lao bất cãi
Trường lưu hứa quốc chi tâm
Khuông phù miếu xã
Kỷ lặc danh huấn chí linh chí hiển
Chí dũng chí nhân
Trần Triều Liệt Vị Môn

Khách Tướng Quân Thiên Tôn
TỨ VỊ VƯƠNG TỬ BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ
Đại Vương thể tử
Trần thất ý thâu
Hiếu trung doãn địch
Hưu thích dữ đồng
Lục Đầu Giang thượng phá Nguyên binh
Bảo Kim âu chi vĩnh điện
Vạn Kiếp rinh trung tùy thánh phụ
Lao thạch mã ư kỹ hồi sinh vi tướng hóa vi thần
Lịch triều phong tặng
Đức ư dân công ư quốc
Vạn cổ tôn sùng
Chí linh chí hiển
Đại hiếu đại trung
Trần Triều Vương Tử :

Hưng Vũ Đại Vương
Hưng Hiến Đại Vương
Hưng Nhượng Đại Vương
Hưng Trí Đại Vương 

Liệt Vị Tôn Thần Thiên Tôn

PHẠM ĐẠI VƯƠNG BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Nam bang nhân kiệt
Đông A danh thần
Hung trung thao lược
Chưởng thượng kinh luân
Hoành sáo kỷ thu
Hộ giang sơn ư bách chiến
Tích phù ngũ mạnh
Mông dản quyến ư Trùng Hưng
Trung hiếu nhất sinh tâm
Băng ngọc tiễn đồng vinh chi dự
Minh ương thiên tải hội
Phong vân phù chung cổ chi linh
Tận trung tận hiếu
Năng vũ năng văn
Trần Triều Điện Súy
Thượng Tướng Quân Quan Nội

Hầu Phạm Đại Vương Thiên Tôn

ĐỆ NHẤT VƯƠNG NỮ BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Thông minh địa bộ
Cốt cách thiên sinh
Phi tiên ứng mộng long nữ tá hình
Đông A chi ngọc diệp lưu căn
Giáng sơn chúng tá
Nam Việt chi Kim âu 

vĩnh điện thảo mộc hiệu linh
Hương chú xuân viên
Thụ kiến nhi rao tiên chỉ điểm
Hoa bái trận pháp
Huy kỳ nhi Nguyên khấu hổn kinh
Vương Nữ liệt thần phi
Môn my quang thái
Thâm cung tán nội trị
Triều rã thanh bình
Thị tiên thị thánh
Tối tú tối linh
Trần Triều Nhân Tôn Hoàng Hậu
Đệ Nhất Vương Nữ
Quyên Thanh Công Chúa Đại Thiên Tôn

ĐỆ NHỊ VƯƠNG NỮ BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Ngụ phù mạnh phụ
Tam giới trích tiên
Đoan trang địa tú
Cốt cách thiên nhiên
Hài đồng nhi thụ dưỡng Trần môn
Vương Nữ liên xưng tỷ muội
Kê tự nhi vu quy Phạm tộc
Súy thần hảo hợp nhân duyên
Tòng tỷ xuân viên
Vân chúng tiên gia chi kiếm
Tán nhung duy ốc
Phong minh dược lĩnh chi chiên
Hiển Thánh
Nhi linh thanh thiên cổ
Phong thần nhi hương hỏa ức niên
Mặc hương di tích phù miếu

hàn yên thị Tiên thị Thánh
Trần Triều Phạm Điện Súy Phu Nhân
Đệ Nhị Vương Nữ
Thủy Tiên Công Chúa Đại Thiên Tôn

NGUYÊN TỪ QUỐC MẪU BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Đông A ngọc diệp
Mam mặc kinh chí chân dung diệu tướng
Khuê tú kiều tư
Nhị bát thanh xuân
Hoàn bội y nhiên đế nữ
Tam sinh hồng tịch
Sắt cầm tảo chính Vương Phi
Trung hiền tụy vu nhất môn
Tử nữ vi vương vi hậu
Thanh linh truyền ư vạn thế
Nhân dân mộ đức
Mộ từ
Chí nhân chí hiển
Đại nguyện đại bi
Trần Triều Vương Phi
Thiên Thành Thái Trưởng Công Chúa
Nguyên Từ Quốc Mẫu
Cứu Thế Đại Thiên Tôn

KHẢI THÁNH VƯƠNG MẪU BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Đông A Khải Thánh
Trần thị phu nhân

Dung tư yễu điệu
Tính chất trinh thuần chấp

Phụ đạo dĩ sự huy hoàng
Chu gia thục nữ
Đản Mẫu nghi nhi dục thánh tử
Tống thế tuyên nhân
Đức quán Vương Phi
Huyền thập tứ cung
Vi chi sử kính ân thùy xích tử
Phổ vạn thiên đới mộ chi từ vân tối linh tối tú
Toàn đức toàn chân
Trần Triều Khải Thánh Vương Phu Nhân
Thiện Đạo Quốc Mẫu Nguyên Quân 

Cứu Thế Đại Thiên Tôn
KHẢI THÁNH VƯƠNG PHỤ BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Đặng tiền phái diễn
Trần – hậu mưu di
Đế – vương nhất mạch
Huynh đệ đồng chi
Chức Thái Úy dĩ bỉnh quân
Hoàng gia vọng trọng
Tước thân vương nhi tựu trấn
Tôn thất thủ suy ngũ an chi địa mộc thang
Đáo xứ nhi thảo hoa sinh sắc
Vạn Kiếp chi sơn hoàn nhiễu
Ái lư nhi phong thủy hiến kỳ
Đệ huynh chi nghĩa hợp khiêm tam
Hổn nhiên thiên tính
Vương Phụ chi đức long càn nhị
Thị nhĩ dân di
Chí cương chí chính
Đại từ đại bi
Trần Triều Khải Thánh
An Sinh Vương
Truy phong Khâm Minh Đại Vương
Linh Hiển Đại Thiên Tôn

HIỂN THÁNH BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ

Đông A đế trụ
Nam Đảo tiên tông
Phù quốc cứu dân
Đẳng quân thân vu thiên địa
Xừ gian thảo loạn
Phấn uy võ vu bắc nam
Nhất thân gia quốc chi hoài
Ân ưu Khải Thánh
Vạn cổ đan thanh nhất bức
Trác quán tôn thần
Thịnh đức văn ư đại bang
Thiên thư quả định
Dư linh trấn hồ Việt điện
Quỷ tý tiềm hình
Võ tước gia phong
Thiên cung thống nhiếp hồ văn thân chi địa
Lộc tịch thế chưởng
Nhân giới hồ hóa dục chi phương
Cửu Thiên Vũ Đế
Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương
Trần Triều Hiển Thánh Thiên Tôn

KHAI KINH KỆ

Tụng đắc chân kinh độ thế nhân
Toàn gia khang cát hưởng trườngxuân
Phàm tâm nhược thức thần thông pháp
Nhất thiết tai ương tận hóa trần

ĐẠI VƯƠNG CHÍNH KINH VĂN

Đế tích tại trần thời
Khâm mông
Ngọc chỉ giáng sinh
Phù quốc cứu dân
Duy trung duy hiếu
Huân thành quả mãn tái phụng hồi chứng thần vị
Sắc phong
Cửu Thiên Vũ Đế
Trấn trị Nam phương
Hiển linh chấn uy
Khâm sai văn võ bộ quan
Thượng tuân Thánh lệnh
Hạ độ nhân gian
Tư sát chi hạ giới
Chúng đệ tử đẳng
Thân tuy đầu thành
Nhi tâm bất nội tĩnh
Sở dĩ cầu chi hữu ứng
ứng chi bất cửu
Chung luân tịch mịch thế đạo nhân tâm
Khả thăng tích tai
Đế kim cứ
Phạm Điện Súy Tướng Quân
Cung nghinh thần giá
Quan lâm Hà Lạc vọng từ
Giáng bút thành kinh
Dĩ huân thế viết
Nhân ? Sinh thiên địa gian
Yếu đương tố thánh hiền sự nghiệp
Sự nghiệp giả hà
Trung hiếu nhi dĩ
Trung hiếu vi ngũ luân chi thủ
Khuyết nhất bất khả
Nhĩ đẳng đương tư : 

Vi tử như hà khắc hiếu
Vi thần như hà khắc trung
Huynh đệ như hà khắc hòa
Phu phụ như hà khắc kính
Bằng hữu như hà khắc tín
Thượng tắc kính thiên thần
Sự tổ tiên
Hạ tắc độ âm hồn
Hành âm chất
Như thử vi nhân
Thứ hồ tận đạo
Bất nhiên sinh la vương pháp
Tử thụ thiên khiển
Vĩnh ly nhân loại
Bất do nhân đạo
Nhĩ đẳng ký đầu vi đế đệ tử
Tảo tảo hồi đầu phụng hành chúng thiện
Năng khứ chủ ác
Thủ đôn ngũ luân
Thứ hành âm chất
Tửu sắc tài khí
Nghiêm nhi tuyệt chi
Kiêu lận tham ô
Cấm nhi giới chi
Hành đế nhân nghĩa
Bất tuất nhân ngôn thủ đế trung hiếu
Bất phân tục niệm
Xử gia đình dĩ chất phác di tử tôn dĩ trung hậu
Sĩ nông công thương
Các hữu thường nghiệp bất luân thâu bạc
Hàm quy hậu đức
Tự nhiên thần khâm quỷ phả
Tai khứ phúc lai
Bất tất độc kỳ đế thần
Nhi thiên tường vân tập
Vạn phúc biền trần
Khởi bất lạc tai
Nhĩ đẳng miên nhi hành chi
Thảng vi chánh huấn
Vật tụng đế kinh
Lâm chi
NGŨ PHƯƠNG HỔ THẦN QUAN TÁN
Tán viết :
Cực chi ngũ hành
Địa chi ngũ phương
Nhân chi ngũ luân
Thiên chi ngũ thường (1)
Ngưỡng nhi quan yên
Ngũ đế thị Hoàng
Hoàn nhi liệt yên
Ngũ hầu nghi Vương (2)
Ngũ Kinh Ngũ Vỹ
Vân Hán vi chương
Ngũ Xa
Ngũ Hoành
Đẩu vận tề quang (3)
Đồ thành ngũ điểm
Ngũ số chương dã
Trù tự Ngũ sự
Ngũ phúc khang dã (4)
Ngũ thổ toại tính
Hậu đức vô cương
Ngũ quan tư chức
Thuận đức giả xương (5)
Như tấu Ngũ âm
Thần nhân kỳ khương
Như điều Ngũ vị
Đỉnh nại kỳ trương (6)
Thánh thể năng cần
Ngũ cốc dụng lương
Thánh tâm duy tịnh
Ngũ trần đốn vong (7)
Ư đông ư tây
Nam Bắc trung ương
Biến nhi hóa chi
Ngũ nhạc đường đường (8)
Vi thanh vi bạch
Xích hắc huyền hoàng
Thần nhi thông chi
Ngũ vị dương dương (9)

TRẦN THÁNH ĐẠI VƯƠNG BẢO CÁO
CHÍ TÂM QUY MỆNH LỄ :

Đông A Đế trụ
Nam Đảo Tiên tung
Phù quốc cứu dân
Đẳng huân công vu Thiên Địa
Trừ gian thảo loạn
Phấn uy vũ vu Bắc Nam
Nhất thân gia quốc chi hoài
Ân ưu Khải Thánh
Vạn cổ đan thanh nhất bức
Trác quán Tôn thần
Thạnh đức văn ư Đại Bang
Thiên thư quả định
Dư linh trấn hồ Việt Điện
Quỷ túy tiềm hình
Vũ tước gia phong
Thiên cung thống nhiếp hồ văn thân chi địa
Lộc tịch thế chưởng
Nhân giới hồ hóa dục chi phương

Cửu Thiên Vũ Đế Nhân Vũ 

Hưng Đạo Đại Vương

Trần Triều Hiển Thánh Thiên Tôn

Dịch nghĩa :
Bảo Cáo của Trần Thánh Đại Vương
Chí Tâm Quy Mệnh Lễ :
Trụ cột của Đông A
Giống tiên vùng Nam Đảo
Giúp nước cứu dân
Công lao sánh cùng trời đất
Trừ gian dẹp loạn
Uy vũ lừng cõi Bắc Nam
Một thân hai nỗi nước nhà
Lo lắng nặng lòng Khải Thánh
Muôn thưở lưu danh sử sách
Vẻ vang bậc nhất Tôn Thần
Thạnh đức rền khắp Đại Bang
Sách Trời định rõ
Dư linh trấn yên Việt Điện
Lũ quỷ trốn hình
Phong tước võ Thần
Chốn thiên đình thống lĩnh xứ văn thân
Giữ quyền Lộc tịch
Cõi dương thế duổi rong miền hóa dục
Cửu Thiên Vũ Đế
Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương
Trần Triều Hiển Thánh Thiên Tôn

 

TRẦN TRIỀU HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG CHÂN KINH

 

Chí tâm phục mệnh lễ

Trần triều hiển thánh

Hưng đạo đại vương

Cửu thiên vũ đế hóa thân vi tam giáo

Trưởng pháp phán ngũ lôi chi lệnh

Hoàn lượng mộng giáo

Ban phúc phù công danh

Bảo kiếm quang huy xá nhân gian chi yêu quái

Tứ sinh lục đạo hữu cảm tất phù

Tam giới thập phương vô cầu bất ứng

Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí

Lục đầu thu thủy bất thu thanh

Nam quốc hữu linh tài đạo lưu vạn kiếp

Hương hoả hiển thánh tích vu vân động

Ký huyền đồng chi đệ hằng

Đại bi – Đại Nguyện – Đại thánh – Đại từ

Khai sơn hộ giáo. Linh ứng Đại vương

Thiên lôi thượng tướng

Trần triều chân nhân

Cảnh hoá phù hựu Đế quân Cửu thiên Vũ đế

Hưng hành diệu đạo Thiên tôn

………….*****………….

Xem tiếp: Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên

https://thantienvietnam.com/dao-si-viet-nam-hanh-le/743-tin-nguong-tho-cung-to-tien.html

Chú giải :
Cực tức khí Thái cực trước khi phân định đất trời
tuy vậy trong đó Thái cực đã chứa âm dương và bao hàm cả sự hình thành nên Ngũ hành là 

Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ
Đất có ngũ phương là : Trung ương 

Đông – Tây – Nam- Bắc
Đạo làm người phải lấy chữ Ngũ luân là năm mối quan hệ giữa: Vua tôi- cha con- vợ chồng- anh em- bạn bè
Trời cũng có Ngũ thường là Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí- Tín Ngẩng đầu lên mà quan sát
để thấy chòm sao Ngũ Đế tôn nghiêm mà chính vị là sao Hoàng Đế
sao Thanh Đế ở phương Đông
sao Xích Đế ở phương Nam
sao Bạch Đế ở phương Tây
sao Hắc Đế ở phương Bắc Ta lại thấy các vì sao giăng quanh nhau mà vẫn phân định rõ từng vị trí
Chòm sao Ngũ Hầu gồm năm sao Đế Sư
Đê Hữu Tam Công
Bác Sĩ và Thái Sư chiếu mệnh cho mỗi vương triều(3) Kinh
Vỹ là tên các chòm sao : Vân Hán là tên gọi Sông Thiên Hà hoặc gọi là dải Ngân Hà;
Ngân Hán tạo nên nét đẹp cả bầu trời Sao Xa
sao Hoành là hai sao nằm ở vị trí chuôi của chòm sao Bắc Đẩu
khi sao Đẩu chuyển thì tất cả đều lấp lánh theo
(4) Trong Thiên Hồng Phạm Cửu trù của Kinh Dịch gọi Ngũ sự là : Mạo (dung mạo)
Ngôn (lời nói) Thị (xem)
Thính (nghe) và Tư (suy nghĩ)
còn Ngũ phúc là : Thọ (sống lâu)
Phú (giàu có) Khang minh (mạnh khỏe)
Du hảo đức (vui theo đức tốt) và Khảo chung mệnh (chết được nhẹ nhàng)
Ngũ điểm (năm chấm) trên lưng con Long Mã đã tạo nên Hà Đồ và năm con số trên lưng con Rùa đã làm nên Lạc Thư – Hai cơ sở để tạo nên thuyết Ngũ hành tương sinh và Ngũ hành tương khắ
(5) Đất chia làm năm loại : Xanh- vàng- trắng- đỏ-
đen và vạn vật cũng phải hợp với từng tính chất thổ nghi mà sinh trưởng
Biết thích nghi với điều tự nhiên thì ắt sẽ cho ta công đức sâu dày không bao giờ hết
Năm giác quan của con người ta đều có chức năng riêng biệt
biết sử dụng triệt để các chức năng là đã thuận theo cái đức của tự nhiên và do đó sẽ nhất định được phát triển vậy !
(6) Làm được những điều nói trên thì khác nào tấu lên khúc nhạc ngũ âm (gồm : Cung- Thương- Giốc-
Chủy- Vũ) để cho cả Thần và người đều vui vẻ
Như điều hòa được ngũ vị (gồm : Mặn- ngọt-
đắng- cay- chua) như đúc nên chiếc đỉnh để khuếch trương thành quả
(7) Nếu biết làm việc siêng năng thì ngũ cốc sẽ bồi đắp cho ta những kho lương thực dồi dào
Nếu lòng ta thanh tịnh thì ngũ trần cũng lập tức tiêu vong
(8) Dù Đông- Tây- Nam- Bắc- Trung ương (tức ngũ phương) có biến hóa đổi dời thì ta vẫn phải giữ cho tâm vững vàng như Ngũ nhạc (tức Đông Nhạc – Thái Sơn- Tây Nhạc – Hoa Sơn- Nam Nhạc – Hành Sơn-
Bắc Nhạc – Hằng Sơn và Trung Nhạc – Tung Sơn)
(9) Dẫu cho xanh hay trắng- đen- đỏ hoặc vàng thì cũng chẳng sao. Vì khi Thần và người cùng cảm ứng thông suốt cho nhau thì sẽ tạo nên sự linh hiển và Ngũ vị sẽ được vững vàng lồng lộng

CHUẨN BỊ – HÀNH LỄ

Phần 1: Chuẩn bị
1. Làm sạch sẽ khu vực làm lễ, chuẩn bị ánh sáng ở những vị trí cần thiết như đèn nến.
2. Xem xét các đồ hoa quả, bát đĩa dùng để thắp sắp lễ đã sạch chưa.
3. Chuẩn bị sớ theo nội dung làm lễ.
4. Tư trang và trang phục của những người làm lễ và chủ lễ trang nghiêm và trịnh trọng.
5. Trong biểu văn và khi khấn phải ghi rõ và đọc rõ đồ cúng có những gì. Khi đọc đến tên vị thần nào phải đọc cách ra và cúi lạy.
6. Trước khi làm lễ phải tắm rửa sạch sẽ trước khi hành lễ vì đây là Quan rất lớn.
7. Khi viết tên vào sớ hoặc tên của các vị thần phải tìm dòng Hoàng đạo.
8. Khi cúng luôn phải có bàn thờ Thiên ngoài trời.
9. Mỗi đĩa có thức ăn mặn phải có 1 đôi đũa.
10. Khi cúng phải có bàn thờ Thổ Công trước sân và trong cổng thường sẽ để bên phải (ít nhất phải có một đĩa tiền vàng và được phủ khăn vàng) và có nước, rượu, trà.
11. Khi cúng phải có bàn thờ Thổ Địa ngoài cổng bên phải hoặc hướng mặt trời lên (ít nhất phải có một đĩa tiền vàng phủ khăn vàng lên trước khi hóa) và trà, rượu, nước.
12. Trên mỗi ban của lễ lớn phải có đủ các loại hoa quả rượu, gà, chân giò, rượu, bánh, kẹo, tiền, vàng, nến. Thường đồ mặn để ngay chính giữa. Như vậy mỗi lần cúng phải có trong là chính, ngoài sân và trước cổng. Tiền vàng ngoài sân đều có khăn vàng phủ lên. Góc sân dưới đất là Thổ Công, ngoài cổng là Sơn Thần, Thổ Địa.
13. Ban nào dùng bật lửa hoặc nến riêng ban đó (không dùng lửa lẫn lộn để thắp hương).
14. Không nói chuyện và huyên náo khu vực làm lễ.
15. Mỗi lần lễ thường có ít nhất từ 2 – 4 người phụ lễ hỗ trợ (sắp lễ các nơi, thắp hương, rót mời rượu, mời trà, hóa vàng, mời thần nhận tiền vàng hóa, cùng đọc bài khấn). Người được làm lễ lạy theo người chủ lễ.
16. Khi viết tấu văn phải xưng là đệ tử, nếu người không ở trong đền xưng huyền tu đệ tử, người trong đền xưng là phồn tu đệ tử, những người khác xưng là tín sỹ, tín đồ …
Phần 2: Hành lễ.
1. Dâng hương. Người nào được làm lễ phải trực tiếp thắp hương sau đó cắm hương bằng tay trái theo vị trí do chủ lễ xác định, một lần 3 cây hương to. Không làm quá 3 người cho một lần là tốt nhất, sau khi làm lễ xong xem hương cháy như thế nào để biết đẹp hay xấu (có minh họa riêng).
2. Khi dâng hương có một câu chú chung
Đạo do tâm học
Tâm dạ hương truyền
Tâm tồn để tiến
Chân linh hạ phán
Tiên phối lâm thiên
Kim thần quan cáo
Kinh đạt cửu thiên
3. Sau khi dâng hương rót nước trà vái sau đó đặt vào ban một cách trịnh trọng, tiếp tục rót rượu vào cốc vái đặt vào bàn thờ, rót nước lạnh vào cốc vái đặt vào bàn thờ.
4. Người được làm lễ làm mọi động tác theo chủ lễ: Cúi lạy, vái …
5. Tập trung và thành nguyện với mong muốn cho việc làm lễ của mình.
6. Khi hóa vàng các ban hóa độc lập nhau, khi hóa vàng đọc các câu mời thần đến nhận. Khi hóa các sợi dây buộc các túi và bó tiền cũng phải hóa cùng. Rượu của các ban ngoài sân được tưới lên sau khi hóa vàng.
7. Khi đóng dấu cho sớ có 2 vị trí đóng: Dưới tên mình đóng vào chính giữa và ngày tháng làm lễ đóng ở dưới. Dùng dấu Kinh Sư Bảo.
8. Khi thụ giới xong đã có chức vụ trên thiên đình phải xưng là tấu chức đệ tử. 
Đạo Kinh Sư Bảo là chủ giới hóa (Đạo là đại diện cho thần tiên – Kinh là con đường đi – Sư là thần truyền đạt – Bảo là bảo bối).
9. Người được làm lễ cảm ơn và hậu tạ cho chủ lễ và nhà đền.

………….*****………….

 


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 1.372
  • 65
  • 2.347
  • 135
  • 6.643.797
  • 860.691