Thần tiên Việt Nam

PHÚC VƯƠNG TRANH VÀ TẤM BIA Ở HẠNH HOA KHÊ – Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

PHÚC VƯƠNG TRANH VÀ TẤM BIA Ở HẠNH HOA KHÊ

VŨ DUY MỀN

Các tài liệu lịch sử hiện còn cho biết, Phúc Vương Tranh là con của vua Lê Thánh Tông và bà Tài nhân họ Nguyễn. Tài nhân là con gái của ông Nguyễn Đình Hy, người làng Thiên Mỗ(1) (nay thuộc làng Tây Mỗ, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội).

Trong Đại Việt thông sử, nhà bác học Lê Quý Đôn có chép về bà Tài nhân họ Nguyễn: “Tài nhân họ Nguyễn, người làng Thiên Mỗ huyện Từ Liêm. Ông tổ 5 đời là Nguyễn Văn Bình làm quan ở Viện Xu mật. Tổ bốn đời là Thần, làm quan Nhập nội hành khiển kiêm Tri thẩm hình viện sứ. Ông nội tên là Văn Hiến, làm chức Chủ bạ, đều là quan có tiếng thời Trần. Cha là Đình Hy làm quan triều ta, giữ chức Thái Trung đại phu Thượng thư tự khanh, Hộ bộ Tả thị lang. Mẹ họ Chu, bà được tuyển vào cung vua Thánh Tông. Ngày Nhâm Thìn tháng 3 năm Quang Thuận thứ 8 (1467), bà sinh ra Phúc Vương Tranh. Bà mất ngày Giáp Tý, tháng 7 năm Kỷ Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479), thọ 35 tuổi, đem về mai táng ở phía bắc khe Tùng thuộc quê nhà”(2).

Như vậy những ghi chép trên của Lê Quý Đôn cho biết khá chắc chắn từ tổ 5 đời, đến phụ thân của Tài nhân họ Nguyễn đều làm quan có danh vọng ở đời Trần và đời Lê. Các cụ quán tại làng Thiên Mỗ (Tây Mỗ) huyện Từ Liêm. Cũng đồng thời cho biết được cụ bà họ Chu vợ Nguyễn Đình Hy đã sinh ra Tài nhân. Tài nhân được tuyển vào cung của Lê Thánh Tông đã sinh ra Phúc Vương Tranh. Phúc Vương Tranh là người tốt đức, tiếc thay phúc phận của Tài nhân và Phúc Vương Tranh quá ngắn. Sau khi Tài nhân và Phúc Vương Tranh qua đời đều được an táng tại cánh đồng Hạnh Hoa, bên khe Tùng ở (Tây Mỗ).

Bên trên mộ của Phúc Vương Tranh được dựng một tấm bia lớn Hạnh Hoa khê(3). Dân làng gọi là Mả Bia. Do đứng dưới trời mưa nắng nhiều năm nên bia đã mờ hết chữ, nay không đọc được. May thay bài văn bia đã được ghi lại trong gia phả họ Nguyễn Đình, (một dòng họ từng có tiếng ở làng Tây Mỗ) để truyền đời cho con cháu.

Bản gia phả họ Nguyễn Đình làng Tây Mỗ viết bằng chữ Hán ngày nay đã mất, chỉ còn lại bản dịch chữ quốc ngữ do Nguyễn Đình Duật cháu 17 đời phụng dịch.

Trong phần mở đầu gia phả được viết:

Bản dịch này theo chữ Nho, phả cũ, đúng theo sự thực. Không dùng văn chương bóng bẩy. Còn hay hơn nữa xin nhường những nhân tài hậu thế.

Dịch ngày 27 tháng 11 năm Canh Thìn (1940).

Viết lại ngày 12 tháng 12 năm Đinh Dậu (tức ngày 1 tháng 1 năm 1958).

Ghi chú: bài văn bia sau đây có tên ông thủy tổ ở đấy, vì đời vua Tây Sơn đốt cháy cả gia phả, nhờ có bia đá mới biết tên ông thủy tổ họ ta là hiển hách nên chép ra đây(4).

Dưới đây là nguyên văn bản dịch bài văn bia trên lăng đức ông Phúc Vương Tranh ở xứ Hạnh Hoa Khê (Mả Bia):

Mảng tượng

Nhà Chu to bề tộc tính, lân chỉ có thơ; nhà Hán nhiều các phiên vương, khuyển nha mạnh thế.

Cũng ví như gốc rễ sâu thì lá hoa nẩy tốt; nguồn suối xa thì dòng nước mới chảy dài. Có trước thì mới có sau.

Cung duy hoàng triều

Phúc Khánh hợp nhà Chu, quy mô đè nhà Hán.

Họ thêm lớn ra, trời càng tựa lắm.

Vua Thánh Thượng Hoàng đế.

Hết đạo hiếu để thừa nghiệp lớn; rộng lòng nhân để phúc đông tôn.

Phụng xét:

Vua Phúc Vương tên húy là Tranh, con thứ sáu vua Thánh Tôn Thuần Hoàng đế, em ruột vua Thánh Thượng Hoàng đế, thân mẫu là bậc Tài nhân, con gái ông Nguyễn Đình Hy làm thái Trung đại phu quyền Hộ bộ Hữu thị lang. Vua ở đời Quang Thuận năm thứ 8 là năm Đinh Hợi (1467) giờ Thìn ngày 27 tháng 3 ứng kỳ sinh ra. Sáng chia cành ngọc, phái dẫn sông Ngân, kể dòng dõi thật là tôn quý.

Đời Hồng Đức năm thứ 2 là năm Tân Mão (1471), ngày 7 tháng 10 là ngày Tân Hợi, vua Thánh Thượng đặc sai quan Tuyên lực công thần Tiến phụ Đại tướng quân, Đại tư mã Đông quân đốc phủ Hữu đô đốc tước Thượng trụ quốc là ông Lê Huy Cát đeo chữ vàng ấn báu phong ngài làm Phúc Vương. Miện khuê đội sủng thang mộc gội ơn, rất là hiển vinh.

Vua làm phủ cho ngài ở phường Đông Tác, huyện Vĩnh Xương kinh thành (Hà Nội).

Năm thứ 17 là năm Bính Ngọ (1486), tháng chạp ngày 10 là ngày Kỷ Tỵ ngài lấy con gái quan Lễ bộ Thượng thư Trịnh Văn Lượng là bà Thục Tuân làm chính phi, mới được 9 năm bà chính phi tạ thế.

Năm thứ 26 là năm ất Mão (1495), tháng chạp ngày 27 là ngày Đinh Tỵ ngài lấy con gái quan Chiêu Liệt đại phu tước Mậu Ân hầu là Lưu Cảnh Đạt là bà Châu Cáp làm kế phi, nối dây cầm sắt, vui chốn môn lan, đã báo điềm con hùng bi lại ứng mộng con xà hủy, sinh con trai còn bé, con gái có 3, con gái lớn Thị Dự đến kỳ cài trâm, con gái thứ Thị Dượng lên sáu tuổi, con gái bé mới cười bò.

Cây trúc xanh, cây du biếc, sáng lạn đầy sân; quả ấn bạc, dây tơ vàng vinh hoa có lúc. Sắp sửa được tăng quan đời trước, chấn khởi đời sau.

Ngờ đâu thiện không được phúc, vạ lại trái thường. Tưởng những phì gia chợt lo phục trẩm. Đời Cảnh Thống năm thứ 3 là năm Canh Thân (1500), ngày 12 tháng 6 là ngày Giáp Ngọ, Đức vua phải cảm.

Ngày 21 tháng 6 là ngày Quý Mão vua Thánh Thượng đặc sai quan Cung môn, Thừa chế phụng ngự là Phạm Thế Tứ và quan Biện nghiệm tòa Thái y viện là Nguyễn Sỹ vào thăm bệnh.

Ngày Nhâm Thân vua lại sai Nguyễn Duy Hàn (hiệu thuốc Tế sinh đường) đến chữa thuốc.

Ngày 4 tháng 8 là ngày Bính Tuất bệnh càng nặng thêm, vua lại sai Cung trung Thừa chế phụng ngự Lê Duy Biểu và quan Thái y viện đại sứ Lý Thủ Nhượng đến chữa. Vận mệnh không thể chuộc được. Khi sắp chết chẳng lầm lẫn câu gì, ngồi dậy đòi các quan trong phủ đến dặn việc ma chay: hà tiện, chớ theo đạo Phật, cứ theo lễ cổ.

Giờ Mùi ngày 6 tháng 8 là ngày Mậu Tý ngài mất ở chính tẩm, xuân xanh 34 tuổi.

Tiếc thay tuổi xuân xanh, giọt sương ngọn cỏ, cành ngọc gió lay, vườn lê tuyết rủ, chẳng tránh khỏi được những điều thương tiếc, như ở đất Duyệt Xuyên khi trước. Được tin, vua Thánh Thượng Hoàng đế thương tiếc vô cùng, bỏ triều đình thông 3 ngày. Sắc cho các tước vương, cùng các công chúa phải để chở có từng bậc.

Ngày 8 tháng 8 là ngày Canh Dần, vua sai quan Hữu điểm tướng quân tác Giám thừa Đào Thế Cảnh trông coi đóng quan tài, lại cho 282 quan để chi tiêu tang sự.

Ngày 2 tháng 9 là ngày Kỷ Mùi thuyên chuyển quan tài, vua lại sai quan Trụ quốc Thượng tướng quân Lê Đạt làm chủ việc tế lễ.

Việc ma chay đủ cả trình, văn.

Ngày 10 tháng 9 phát dẫn, đến ngày 22 tháng 9 táng ở xứ Đông Lạch Hạnh Hoa Khê (Mả Bia) ở làng Tây Mỗ (Hà Đông) theo về quê mẹ.

Ngài tên thụy là Khang lúc sống nhàn nhã, ít nói, ít cười, theo lễ giáo; ham học, có tài thơ, phú lại dịch sách tài, từ bé đã theo hầu về chốn Lam Kinh lễ yết và phụng sửa bài chế bài mạnh.

Vua Thánh Tông Thuần Hoàng đế thưởng cho các thứ xa hoa (vải Cao Ly…) lại thường gọi vào nội điện ăn yến và đưa thơ cho họa.

Vua Thánh Thượng Hoàng đế giáng tờ dụ khen ngợi, lại cho các hàng xa xỉ vải vóc tơ lụa… bảo đọc sách làm vui. Vua trọng đãi yêu thương gần bằng vua Đông Bình, vua Hà Đan khi xưa. Bỗng đâu mắc bệnh đã vội từ trần về nơi chín suối cũng khá tiếc đấy.

Đời vua thịnh trị,

Hóa khởi từ nhà.

Hát thơ lân chỉ,

Mạnh thế khuyển nha.

Bản đồ nước Việt

Hoàng triều mở mang.

Phúc nhà thịnh vượng

Ngôi nước vinh sang.

Vua Thánh Thượng Hoàng

Trọng bề nhân luân.

Sẵn lòng lấp ái

Hết đạo mục thân.

Yêu vua Phúc Vương

Liệt vào phiên để.

Tính vua ôn hòa

Nết vua hiếu đễ.

Chăm nghề học hành

Trọng quan sư phó.

Điều thiện vui làm

Tuổi trời đáng thọ.

Việc bỗng trái thường

Số nan liệu định.

Mới ngoài ba mươi

Chợt mang một bệnh.

Dễ đường sinh tử

Khó bề thuốc thang.

Vườn cô bóng thỏ

Cỏ tàn giọt sương.

Xót xa bài vãn

Lạnh lẽo dặm trường.

Mồ yên linh phách

Cảnh biệt huỳnh đường.

Thánh Hoàng thương tiếc

Ân nghĩa càng chu.

Chênh vênh bia đá

Trời đất nghìn thu(5).

Bản dịch bài văn bia trên không thấy ghi lạc khoản, nên không rõ năm tháng dựng bia. Song căn cứ vào nội dung bài văn bia cho biết khá chi tiết các sự kiện liên quan đến Phúc Vương Tranh: Ông là con cháu nhà ai, ngày giờ sinh – giờ Thìn ngày 27 tháng 3 năm 1467. Các con ông – một con trai và 3 con gái. Con gái lớn Thị Dự đến kỳ cài trâm, con gái thứ Thị Dượng lên 6 tuổi, con gái bé mới biết cười bò. Ngày mất – ngày Mậu Tý 6 tháng 8 năm 1500. Ngày Canh Dần 8 tháng 8 quan Giám thừa Đào Thế Cảnh trông coi việc đóng quan tài. Ngày Kỷ Mùi 2 tháng 9 Trụ quốc Thượng tướng quân Lê Đạt đến dụ tế (thay mặt nhà vua làm chủ tế). Ngày 10 tháng 9 phát dẫn. Ngày 22 tháng 9 đem táng ở xứ Đông Lạch, Hạnh Hoa Khê ở làng Tây Mỗ.

Trong văn bia ca ngợi tính hạnh của Phúc Vương là người theo lễ giáo Nho gia, ham học, hay thơ phú. Lời lẽ văn bia khiêm xưng: cung duy Hoàng triều, Thánh Thượng Hoàng đế thương tiếc vô cùng.

Từ những thông tin trên có thể đoán rằng: Bài văn bia được soạn vào khoảng thời Cảnh Thống (1498 – 1504), ngay sau khi Phúc Vương mất ít lâu. Văn bia cũng bổ sung thêm những ghi chép của Lê Quý Đôn về Nguyễn Đình Hy thân phụ của Tài nhân họ Nguyễn và Phúc Vương Tranh con của Tài nhân được ghi trong Đại Việt thông sử(6). Từ đó giúp chúng ta biết được một phần cuộc đời và chung cục của Phúc Vương, cùng những nghi lễ an táng long trọng mà triều đình nhà Lê giành cho ông. Từ đó chúng ta có thể suy đoán thêm về lễ giáo phong kiến thời Lê sơ đối với thân phận các Hoàng tử do các bà vợ thứ của Hoàng đế sinh ra.

Ngày nay ở xứ đồng Mả kề sát xóm Hạnh vẫn còn đền thờ Phúc Vương Tranh – Lê triều phúc vương từ; mà dân làng Tây Mỗ quen gọi là đền Am.

Ngoài cổng đền Am còn lưu giữ được hai câu đối chữ Hán:

Hạnh hạng bồi nguyên hoa mãn địa

Lê triều di tích trụ kình thiên.

Đền được xây dựng trong một khuôn viên nhiều cây cổ thụ soi bóng nước bên hồ, rất nên thơ. Kiến trúc của đền Am đơn giản, cửa bức bàn, mái đền lợp bằng ngói âm dương. Nhìn tổng quan dáng vẻ kiến trúc của đền cho thấy nhiều đường nét, phong cách Nguyễn muộn vào khoảng cuối thế kỷ XIX.

Trong đền hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong:

Sắc Lê triều Phúc Vương dực bảo trung hưng lệnh phù tôn thần… không rõ niên đại vì tờ sắc đã rách nhiều chỗ, không còn nhận ra Quốc ấn và dòng lạc khoản.

Sắc Hà Đông tỉnh, Hoài Đức phủ, Tây Mỗ xã phụng sự Lê Phúc Vương Tranh… ghi ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924).

Phía tường bên trái trong đền là Tập thiện hội bi. Trán bia chạm lưỡng long chầu nguyệt. Bia cao 0,90m, rộng 0,50m. khắc chữ Hán. Nội dung bia ghi các ngày lễ; lễ phẩm (trị giá tiền) của các thí chủ – hội viên Hội thiện đóng góp vào đền Am để cúng Phúc Vương Tranh. Bia được lập ngày mồng 3 tháng 9 Thành Thái thứ 11 (1899).

Sát tường phía bên phải trong đền dựng Tập thiện hội bi. Trán bia chạm lưỡng long chầu nguyệt; hai bên diềm bia để trơn. Bia cao 0,90m, rộng 0,55m, khắc chữ Hán chân phương. Nội dung bia ghi việc trùng tu đền Am và ghi tên các thành viên Hội thiện cúng tiền, ruộng vào đền Am. Bia lập ngày 21 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 3 (1928).

Hàng năm lễ hội đền Am được tiến hành trọng thể trong hai ngày mồng 6 mồng 7 tháng 8 âm lịch. Ngày này nhân dân Tây Mỗ làm lễ tế Phúc Vương Tranh; tưởng nhớ đến người con của đức vua Lê Thánh Tông, mà cũng là con cháu của dân làng Tây Mỗ. Sinh thời Phúc Vương là người đức hạnh, ham học hỏi, xứng đáng để con cháu ngày nay học tập phát huy.

Về nhân vật lịch sử Phúc Vương Tranh cùng giá trị của khu di tích đền Am đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa, ngày 29 tháng 4 năm 1992. Đấy chính là sự khẳng định giá trị lịch sử, giá trị văn hóa hiện hữu của làng Tây Mỗ. Giá trị đó cần phải được mọi người giữ gìn trân trọng và phát huy trong công cuộc xây dựng làng quê đổi mới.

Như vậy những tư liệu trên góp phần vào việc tìm hiểu nhân vật lịch sử Phúc Vương Tranh người con thứ 6 của vua Lê Thánh Tông và Tài nhân họ Nguyễn. Mẹ của Phúc Vương là người con gái danh giá của dòng họ Nguyễn Đình làng Tây Mỗ. Chính điều đó tạo nên niềm tự hào và làm phong phú thêm lịch sử làng xã Tây Mỗ.

V.D.M

CHÚ THÍCH:

(1) Làng Thiên Mỗ thời Lê gồm cả Tây Mỗ và Đại Mỗ hiện nay.

(2) Đại Việt thông sử. Nxb. KHXH, H. 1978, tr.131-132.

(3) Tên bia do chúng tôi đặt.

(4) Gia phả họ Nguyễn Đình. tr.9.

(5) Gia phả họ Nguyễn Đình. Sđd. tr.11-15.

(6) Xem thêm Đại Việt thông sử. Sđd. tr. 149-150.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gia phả họ Nguyễn Đình làng Tây Mỗ. (Bản dịch, đánh máy). Lưu tại nhà ông Nguyễn Đình Dược 70 tuổi, xóm Hạnh, làng Tây Mỗ.

2. Lê Quý Đôn toàn tập. Tập III, Đại Việt thông sử, Nxb. KHXH, H. 1978.

3. Sắc phong Phúc Vương (Hán văn).

4. Tập thiện hội bi (Hán văn).

5. Tư liệu điền dã ở làng Tây Mỗ 2001-2002.

Nguồn http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0306.htm


Ai đang trực tuyến

  • 2
  • 6.783
  • 828
  • 3.605
  • 865
  • 671.849
  • 160.850