Thần tiên Việt Nam

VỀ MỘT SỰ KIỆN ĐƯỢC GHI TRONG VIỆT SỬ CƯƠNG MỤC TIẾT YẾU – Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

VỀ MỘT SỰ KIỆN ĐƯỢC GHI TRONG VIỆT SỬ CƯƠNG MỤC TIẾT YẾU

NGUYỄN CÔNG VIỆT

Việt sử cương mục tiết yếu (VSCMTY) – tác phẩm tiêu biểu của nhà Sử học Đặng Xuân Bảng (1828-1910) đã được TS. Hoàng Văn Lâu dịch, chú giải và xuất bản năm 2000. Đây là bộ sử lớn được giới khoa học xã hội đánh giá cao. Dịch giả đã sưu tâm, giám định, chỉnh lý văn bản và dịch thuật, chú giải với một tinh thần nghiêm túc, công phu, cẩn thận và xứng đáng nhận nhiều lời khen ngợi của đồng nghiệp về việc dịch chú bộ sử này.

Đọc VSCMTY tôi cũng khẳng định về sự thành công của tác phẩm cũng như người dịch. Tuy nhiên ở trang 190 mục Kỷ nhà Trần – Nhân Tông Hoàng đế tôi thấy sách ghi: “… Nhâm Thìn, [Trùng Hưng] năm thứ 8 [1292]. Mùa xuân, tháng Giêng, lấy Phí Mạnh làm An phủ sứ Diễn Châu… Lấy Trần Kiến (người Đông Triều Hải Dương) làm An phủ sứ lộ Yên Khang (nay là phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình). Kiến là môn khách của Hưng Đạo vương Quốc Tuấn. Khi quân Nguyên sang xâm lược, vua sai Kiến bói một quẻ, được quẻ Hằng biến sang quẻ Chấn. Kiến đoán “Mùa hạ sang năm quân Nguyên sẽ thua”. Giặc lại sang. Vua lại sai bói quẻ, được quẻ Quan biến sang quẻ Hoán. Kiến đoán: “Điềm ly tán, quân Nguyên nhất định tan vỡ”. Sau đúng như vậy. Vua cho là tài, nên cất nhắc dùng.”

Là người quan tâm đến Chu Dịch, tôi cứ băn khoăn mãi về sự biến quái từ quẻ Hằng sang quẻ Chấn trong đoạn dịch trên. Từ quẻ Quan biến sang quẻ Hoán nếu tính theo phương pháp Mai hoa Dịch số thì rất đúng, nhưng từ quẻ Lôi Phong Hằng biến sang quẻ Thuần Chấn thì thấy không thuận. Mà đoạn này lại ghi về sự kiện lớn chống giặc Nguyên xâm lược của dân tộc ta với hai danh nhân tiêu biểu là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và vua Trần Nhân Tông. Do đó tôi thấy cần phải viết bài này để mong được sự giải đáp điều băn khoăn, và cũng là để học hỏi thêm cái tinh túy sâu xa của Chu Dịch.

Bắt đầu bằng việc đối chiếu với nguyên tác chữ Hán có in kèm tính ngược từ cuối sách trở lại trong VSCMTY, trang 145 sách chép rằng: Nhâm Thìn bát niên xuân chính nguyệt dĩ Phí Mạnh vi Diễn Châu An phủ sứ… Dĩ Trần Kiến (Hải Dương Đông Triều nhân) vi Yên Khang (Kim Ninh Bình Yên Khánh phủ) An phủ sứ. Kiến Hưng Đạo vương Quốc Tuấn môn khách. Sơ Nguyên binh lai xâm, đế triệu Kiến phệ chi đắc Hằng chi Chấn, chiêm viết minh niên hạ Nguyên binh bại. Cập tái chí, Phục mệnh phệ chi, đắc Quan chi Hoán, viết ly tán chi triệu. Nguyên binh tất hội. Tốt như kỳ ngôn. Đế dĩ vi năng, cố trạc dụng chi. (Xem phụ lục).

Đối chiếu bản dịch với nguyên tác chữ Hán thì thấy dịch giả dịch rất chuẩn không thiếu một chữ. Riêng chữ Quan vì là tên trong 64 quẻ ở Chu Dịch thì phải đọc là Quán. Quẻ Phong Địa Quán này có hai âm đọc. Âm ở quẻ thì đọc là Quán, nghĩa là bày tỏ cho người thấy. Âm ở sáu Hào (phần Hào từ và Tiểu tượng truyện) thuộc quẻ này thì đọc là “Quan”, nghĩa là nhìn xem. Dịch giả viết tên quẻ là “Quan”, sơ suất này không đáng kể, mà tôi muốn nói về vấn đề khác cũng trong đoạn dịch đó là quẻ Hằng biến sang quẻ Chấn ? Quẻ Hằng tức là quẻ Lôi Phong Hằng và quẻ Chấn tức là quẻ Bát Thuần Chấn . Quẻ Hằng có biến được sang quẻ Chấn hay không? Đúng sai như thế nào? Xin được ngược dòng lịch sử tìm hiểu phương pháp dự đoán theo bát quái của người xưa.

Phải nói rằng mọi phương pháp dự đoán như Bát quái, Nhân tướng, Tử vi Đẩu số, Chiêm tinh, Đại lục nhâm, Tiểu lục nhâm, Lưu sao theo tháng, Chiết tự… đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Riêng phương pháp đoán theo Bát quái được xuất hiện sớm nhất, phát triển mạnh nhất qua nhiều giai đoạn với nhiều phái cùng phép đoán khác nhau; nó được coi là phương pháp cao siêu, cụ thể và chính xác hơn cả. Người Trung Quốc cổ xưa đã dùng cách đốt mai rùa xem đường nứt thế nào để đoán cát hung. Đồng thời là phép bói cỏ Thi cũng tính theo Chu Dịch. Người ta dùng 49 cây cỏ tương ứng với 49 số trong tổng số 50 số đại diện trong Hệ từ, sau đó đặt cây cỏ qua mười cây tám lần biến mà thành quẻ. Theo tượng quái mà lập được Lý quái, Từ quái, từ Hào động… để cuối cùng tính được sự việc thành bại cát hung.

Cuối thời Đông Chu, học thuyết âm dương ngũ hành bắt đầu được vận dụng trong Bốc phệ, phép bói đã được cải tiến hơn và phát triển mạnh. Sang thời Tây Hán, Đổng Trọng Thư đi tiên phong trong việc phát triển thuyết âm dương ngũ hành trong phép bói. Tiếp đó nhà Dịch học Kinh Phòng trên cơ sở đó đã phát minh ra phương pháp phối hợp bói cỏ Thi với Chiêm bốc gọi là Nạp giáp(1), nó ưu việt hơn phép bói cỏ Thi rất nhiều. Đến đời Đường người ta lại dùng phương pháp mới là Bói tiền(2) để thay cho phép bói cỏ Thi rườm rà. Tuy nhiên những phương pháp trên còn bị hạn chế là người muốn đoán phải tự mình gieo quẻ mới đoán được, còn người ở xa thì không có cách gì đoán được.

Sang đời Tống nhà Dịch học kiêm Thiên văn học nổi tiếng Thiệu Khang Tiết(3) đã phát minh ra phương pháp gieo quẻ theo năm, tháng, ngày giờ bắt đầu bằng một quẻ bói chính xác khi Thiệu tiên sinh đi ngắm hoa Mai, thấy hai con chim sẻ tranh nhau đậu cành Mai bị sa xuống đất. Ông đã đưa toán học cộng, trừ, nhân, chia vào trong phương pháp này để lập ra Chính quái, Hỗ quái, xác định được Hào động để tìm ra Biến quái. Đồng thời căn cứ vào sự sắp xếp của âm dương ngũ hành trong mỗi quái (Chính quái, Hỗ quái, Biến quái) để tính được sinh, khắc của Thể và Dụng. Ở đây lấy Dịch quái làm Thể và lấy sự chiêm bốc làm Dụng biểu thị cho Động và Tĩnh quái để phân chia Chủ và Khách. Thuyết Thể – Dụng tổng quan là: Thể quái làm chủ, Dụng quái làm sự việc, Hỗ quái là trung gian của Sự và Thể; khắc ứng và Biến quái là kết quả của sự việc. Thể quái phải vượng không được suy. Quái khí của ứng thể cũng phải thịnh… Từ đó mới tính chính xác được cát hung, thành bại…

Trong phát minh mới ngoài cách tính theo năm, tháng, ngày giờ suy ra số, Thiệu Khang Tiết còn đặt ra nhiều cách bố quái khác là Toán theo cách đếm số vật bằng bốc thăm, Toán theo lối Chiết tự chữ Hán, Toán theo tiếng nghe được, Toán từ vật đo được (thước đo), Toán động vật, Toán tĩnh vật… Nhưng tựu chung vẫn theo phương pháp tổng thể lập các quái và tính sinh khắc của quẻ Thể – Dụng trên. Phương pháp của Thiệu Khang Tiết bắt đầu bằng quẻ Quan mai (ngắm bông mai) để rồi làm ra sách nên từ đó người đời gọi Dịch số của ông là Quan mai Dịch số hay Mai hoa Dịch số. Rồi từ đó còn sản sinh ra các sách khác như Mai hoa bí truyền… Phương pháp ưu việt của Thiệu Khang Tiết được ứng dụng và lưu hành rộng rãi trong nước rồi truyền bá sang các nước khu vực qua giao lưu văn hóa, trong đó có Việt Nam.

Ở nước ta Đạo giáo cũng đã truyền bá hòa nhập vào văn hóa truyền thống Việt Nam từ rất lâu đời. Trong xã hội phong kiến xưa ngoài giới tăng lữ, đạo sĩ, đa số các quan lại trí thức đều tinh thông hoặc hiểu biết về Dịch lý, thuật số; Việc nghiên cứu Lý số thường gắn liền với việc chiêm bốc bói toán. Từ thế kỷ XV trở về trước, nhà nước phong kiến chú trọng vấn đề này, coi Chu Dịch và học thuyết âm dương ngũ hành là văn hóa, triết học chính thống. Có những thời kỳ đã đặt chức quan về âm dương học, chiêm tinh… để nghiên cứu ứng dụng phục vụ cho việc dự đoán trên nhiều lĩnh vực(4). Hầu hết các việc đại sự trong nước, vua đều hỏi ý kiến các nhà âm dương gia giỏi qua các quẻ bói.

Thời Trần việc truyền bá, nghiên cứu, ứng dụng lý số khá phát triển, vua và các thân vương đại thần quan lại rất quan tâm lĩnh vực này. Tiêu biểu là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, ông đã từng soạn bộ Vạn kiếp tông bí truyền thư và Binh gia diệu lý yếu lược trên cơ sở Chu Dịch và thuyết âm dương ngũ hành, thuật số để truyền dạy trong hoàng tộc. Ông còn để lại Chính kinh văn và lời huấn thế răn dạy người đời được dân gian hóa truyền tụng đến nay. Môn khách của Trần Hưng Đạo thường là người xuất chúng, Trần Kiến là một trong số đó. Ông đã dự đoán chính xác hai lần quân Nguyên bại trận bằng hai quẻ bói và đã được vua Trần Nhân Tông phong làm An phủ sứ lộ Yên Khang năm 1292.

Trở lại phương pháp của Triệu Khang Tiết đã được truyền bá vào Việt Nam khoảng vài trăm năm trước đó. Đấy là phương pháp ưu việt nên việc các âm dương gia như Trần Kiến dùng phương pháp của Thiệu Khang Tiết để toán quẻ là lôgíc. Điều này sẽ được phân tích và chứng minh phần dưới đây.

Trần Kiến đã bói như thế nào? Việc sao chép ghi về quẻ bói của đoạn sử trên có chuẩn xác hay không? Đấy là vấn đề khó khiến chúng tôi phải dò dẫm lập giả thiết, phân tích đánh giá… VSCMTY ghi bói làm hai lần, lần 1 bói quẻ Hằng biến thành quẻ Chấn? Lần 2 bói quẻ Quán biến thành quẻ Hoán. Tôi cho rằng quẻ bói lần 2 ghi chính xác còn quẻ bói lần 1 ghi Biến quái là quẻ Thuần Chấn là chưa chuẩn xác. Xin được phân tích sơ bộ quẻ Quán biến thành quẻ Hoán trước.

Trần Kiến đã toán quẻ tính số lấy giờ lập được Chính quái là quẻ Phong Địa Quán Tượng quẻ là . Từ đó ta có thể tính luôn được ra Hỗ quái là quẻ Sơn địa bác . Ở đây đã có ngay đáp án (Sử đã ghi) Biến quái (5) là quẻ Phong thủy Hoán ; từ đó ta chỉ cần tính ngược lại thì biết ngay động Hào mấy và Hào động nằm ở Thượng quái hay Hạ quái của Chính quái. Ở quẻ Phong Địa Quán này Hào động là Hào hai nằm ở Hạ quái, như vậy Hạ quái là Dụng quái và Thượng quái là Thể quái (6). Rõ ràng ở đây chỉ có một Hào động là Hào 2, điều đó chứng minh rằng Trần Kiến đã chiêm bốc theo phương pháp của Thiệu Khang Tiết chứ không dùng phương pháp nào khác. Xét về ngũ hành sinh khắc Thể – Dụng ở quẻ này. Thể quái là mộc , Dụng quái và Hỗ quái đều là thổ , còn Biến quái phần Thượng quái là mộc và Hạ quái là Thủy . Như vậy Thể quái, khắc Dụng, khắc Hỗ quái và lại được Biến quái có Hạ quái sinh Thể và Thượng quái tị hoà Thể. Thể quái ở đây rất vượng, khẳng định đây là một quẻ rất tốt cho chủ thể xem bói. Giải nghĩa quẻ Hoán theo Tượng quẻ Tốn phong ở trên Khảm thủy, gió thổi trên mặt nước, nước đụng gió thì Hoán tán tứ tung. Nên mới đặt tên quẻ là Hoán với nghĩa của nó là tan tác Hoán giả ly dã . Chính vì bốc được quẻ Quán ra Biến quái là quẻ Hoán này mà Trần Kiến mới khẳng định với vua Trần Nhân Tông rằng “Điềm ly tán, quân Nguyên nhất định sẽ tan vỡ”.

Trở lại vấn đề chính là quẻ Hằng có biến sang được quẻ Chấn hay không ? và cách giải thích như thế nào để có tính thuyết phục. Quẻ Lôi Phong Hằng theo cách định nghĩa của Chu Dịch “Tốn hạ là nội Tốn, Chấn thượng là ngoại Chấn. Chấn lôi, Tốn phong nên tên quẻ gọi là Lôi Phong Hằng, Hằng có nghĩa là lâu dài”(8). Tượng quái là . Thượng quái và Hạ quái của quẻ Hằng đều thuộc mộc. Quẻ toán được (quẻ Hằng) này còn được gọi là Chính quái. Từ đó ta có thể tính ngay được Hỗ quái(9) là quẻ Trạch Thiên Quải ; Tượng quái là . Điều khó ở đây là ta không biết Trần Kiến toán được số mấy? lúc mấy giờ ? và cũng không biết được là động Hào mấy ?… Vì phải biết được Hào động thì mới tính được Biến quái. Vì vậy ta phải lập giả thiết dò từng trường hợp, tính lần lượt Động từ Hào 1 đến Hào 6 để xem tính lôgíc hợp nghĩa, hợp lý của từng Hào động dẫn đến Biến quái là gì ? Nghĩa của Biến quái có trùng với nghĩa quân Nguyên tan vỡ không ? Đồng thời tính ngũ hành sinh khắc của Thể quái với Dụng quái, Hỗ quái và Biến quái… để có kết luận sơ bộ. Sẽ có 6 trường hợp của sáu Hào động lần lượt từ Hào 1 đến Hào 6, từ Hạ quái đến Thượng quái của quẻ Hằng. ở quẻ Hằng này vị trí Dụng quái và Thể quái phụ thuộc vào Hào động, còn Hỗ quái là cố định. Do đó xét ngũ hành sinh khắc tôi chỉ tính qua Thể và Dụng, chú trọng Biến quái để tính kết quả cuối cùng, còn Hỗ quái sẽ nói ở phần sau.

* Nếu động Hạ quái thì Thượng quái là Thể quái còn Hạ quái là Dụng quái.

1. Trường hợp thứ nhất: Nếu động Hào 1 (Hào Sơ lục) thì Hào Sơ lục sẽ biến thành Hào dương là Hào Sơ cửu ở quẻ Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng , tượng quái là . Đại Tráng nghĩa là dương đã tráng thịnh lắm.

Nếu tính ngũ hành sinh khắc Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là bình hòa. ở Biến quái có Thượng quái thuộc mộc và Hạ quái thuộc Kim . Như vậy Hạ quái của Biến quái đã khắc Thể. Kết quả cuối cùng lại xấu, cộng với nghĩa của Biến quái không hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ, ta loại bỏ trường hợp này.

2. Trường hợp thứ 2: Nếu động hào 2, (Hào Cửu nhị) thì Hào Cửu nhị ở quẻ Hằng sẽ biến thành Hào âm là Hào Lục nhị ở Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá . Tượng quái là . Tiểu Quá có 3 nghĩa: 1) Cái nọ có ý quá; 2) Việc nhỏ có quá; 3) Quá chút ít(11).

Nếu tính ngũ hành sinh khắc Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là tị hòa. Còn ở Biến quái này thì Thượng quái là mộc Hạ quái là Thổ . Như vậy Thể quái đã khắc Biến quái (Hạ quái) sinh khắc như vậy là được, nhưng xét về nghĩa của Biến quái không hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ. Trường hợp này ta tạm gác lại.

3. Trường hợp 3: Nếu động Hào 3 (Hào Cửu tam) thì Hào Cửu tam ở quẻ Hằng sẽ biến thành Hào âm là Hào Lục tam ở Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Lôi Thủy Giải tượng quái là . Giải nghĩa là tan, bao nhiêu việc hiểm nạn đến bây giờ đều giải tán hết cả.

Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là tị hòa; Còn ở Biến quái này thì Thượng quái là mộc , Hạ quái là Thủy . Như vậy Biến quái (Hạ quái) đã sinh Thể quái. Sinh vậy là rất thuận và kết quả cuối cùng là rất tốt. Xét về nghĩa của Biến quái là phù hợp với việc quân Nguyên tan vỡ. Đến trường hợp này gần như ta đã có đáp số, nhưng để cho chuẩn xác xin được tiếp ba trường hợp còn lại.

* Nếu động thượng quái thì Hạ quái là Thể quái còn Thượng quái là Dụng quái

4. Trường hợp 4: Nếu Động Hào 4 (Hào Cửu tứ) thì hào Cửu tứ của quẻ Hằng sẽ biến thành Hào âm là Hào Lục tứ ở Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Địa Phong Thăng , Tượng quái là . Thăng nghĩa là chồng chất lên cao.

Tính ngũ hành sinh khắc Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là tị hòa; Còn ở Biến quái này thì Thượng quái thuộc thổ , Hạ quái thuộc mộc . Như vậy Thể quái đã khắc Biến quái (Thượng quái) sinh khắc như vậy cũng được, nhưng xét nghĩa biến quái không hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ. Trường hợp này ta cũng gác lại.

5. Trường hợp 5: Nếu động hào 5 (Hào Lục ngũ) thì Hào Lục ngũ ở quẻ Hằng sẽ biến thành Hào dương là Hào Cửu ngũ ở Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Trạch Phong Đại Quá . Tượng quái là . Đại Quá có hai nghĩa a) Phần đại nhiều quá (dương nhiều hơn âm); b) Lớn quá (công nghiệp lớn quá). Nghĩa chung là công việc quá chừng lớn.

Tính ngũ hành sinh khắc Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là tị hoà. Còn ở Biến quái này thì Thượng quái thuộc kim , Hạ quái thuộc mộc . Như vậy Biến quái (Thượng quái) khắc Thể quái. Kết quả quẻ là không được, và xét nghĩa của Biến quái không hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ. Trường hợp này bị loại bỏ.

6. Trường hợp 6: Nếu động Hào 6 (Hào Thượng lục) thì Hào Thượng Lục ở quẻ Hằng sẽ biến thành Hào dương là Hào Thượng Cửu ở Biến quái. Như vậy Biến quái sẽ là quẻ Hỏa Phong Đỉnh tượng quẻ là . Đỉnh nghĩa là cái vạc để biến đồ sống ra đồ chín, đổi cứng ra mềm.

Tính ngũ hành sinh khắc Thể quái và Dụng quái đều thuộc mộc là tị hoà; Còn ở Biến quái này thì Thượng quái thuộc Hỏa , Hạ quái thuộc mộc . Như vậy Thể quái phải sinh Biến quái (Thượng quái). Kết quả là không được và xét nghĩa của Biến quái không phù hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ. Trường hợp này bị loại bỏ.

Như vậy tôi đã dừng lại ở trường hợp 3 để đưa đến những suy luận có lý là Trần Kiến đã toán được quẻ Lôi Phong Hằng rồi tính được Hào động là Hào 3 của Chính quái này. Từ đó Hào 3 là Hào Cửu tam ở Chính quái đã biến thành Hào lục tam để hình thành xong Biến quái là quẻ Lôi Thủy Giải . Giải nghĩa là tan, giải tán. Như cách thích nghĩa của Chu Dịch …”in như tượng quẻ, Chấn là Lôi, Khảm là vũ, âm dương giao cảm hào xướng mà đồng thì mưa sấm lung tung, bao nhiêu khí u uất đến lúc bấy giờ giải tán hết ráo, ấy là chữ Giải.

Nên đặt tên bằng quẻ Giải, (Giải giả hoãn dã)(11). Soán truyện lại thích nghĩa “Soán viết, giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, giải. . Đây là lấy đức quẻ thích nghĩa tên quẻ, Khảm là có tính hiểm, Chấn là có tính động, vì hiểm mà sinh ra nạn, vì động mà thoát được nạn, ngộ hiểm mà còn động được, mới thấy được người có tài , động mà thoát khỏi hiểm mới thấy có tài giải nạn , nên đặt tên quẻ bằng Giải …”(12)

Trong 6 trường hợp động Hào với 6 Biến quái trên thì chỉ có Biến quái Lôi Thủy Giải là hợp với sự kiện lúc đó quân Nguyên xâm lược, nước ta gặp hiểm nạn, rồi kiên cường chiến đấu, giặc thua, ta qua hiểm nạn. Cũng mới thấy được sự lãnh đạo tài tình của vua Trần, Hưng Đạo vương cùng các vương tướng khác.

Ở đây ta cũng phải tính đến Hỗ quái là quẻ Trạch Thiên Quải, trong việc toán được quẻ Lôi Phong Hằng thì Hỗ quái ở đây là tất yếu bất biến. Cả 6 trường hợp Biến quái đều có chung Hỗ quái là quẻ Quải. Nếu xét ngũ hành sinh khắc thì Hỗ quái thuộc kim tuy khắc Thể quái (cả 6 trường hợp kim khắc mộc) nhưng riêng ở quẻ Giải, Hỗ quái lại tương sinh với Hạ quái của Biến quái (kim sinh thủy) làm giảm bớt cái khắc Thể của Hỗ quái và lại tăng sức cho Biến quái sinh Thể (thủy sinh mộc); đồng thời nghĩa lại phù hợp sự kiện lịch sử lúc đó. Tháng 12 năm 1284 khi quân Nguyên xâm lược lần đầu, thế giặc rất mạnh, quân dân nhà Trần gian khổ chiến đấu nhiều trận phải lùi, xa giá vua và Thượng hoàng phải xiêu dạt (Hỗ quái khắc thể). Đến tháng 5 năm 1285 ta mới chém được Toa Đô, đuổi Ô Mã Nhi chạy, giết Lý Hằng, Lý Quán khiến Thoát Hoan bại trận (Biến quái sinh Thể), Biến quái sinh Thể là kết quả cuối cùng thành công.

Trở lại về Thể quái và Dụng quái ở quẻ Hằng biến sang quẻ Giải. Thể – Dụng ở Chính quái đều thuộc mộc, Thể – Dụng ở đây tị hòa là tốt. Dụng quái khi động Hào sang Biến quái lại thành thủy và sinh Thể quái. Như vậy Dụng quái trước tốt rồi sau lại càng tốt hơn mà nhất Dụng này rất quan trọng. Tuy rằng Hỗ quái và Biến quái cũng được coi là dụng, nhưng chỉ là Thứ Dụng mà thôi.

Đến đây xin trở lại vấn đề vì sao VSCMTY lại ghi “được quẻ Hằng biến sang quẻ Chấn”? Sự biến Dịch sang quẻ Chấn bằng cách nào ? Có hợp lý không ? Nghĩa của quẻ Chấn có hợp với nghĩa quân Nguyên tan vỡ không ?…

Như đã trình bày ở trên nếu tính theo phương pháp của Thiệu Khang Tiết động một Hào, thì lần lượt động từ Hào 1 đến Hào 6 không có Biến quái nào thành quẻ Thuần Chấn được. Đặt giả thiết ở đây đã nảy sinh ra phương pháp gieo quẻ khác tính nhiều Hào động vào Chính quái. Cách tính nhiều Hào động là động từ 2 Hào trở lên đến cả 6 Hào. ở trường hợp này thì chỉ có cách tính nhiều Hào động vào Chính quái Lôi Phong Hằng thì mới có thể biến thành quẻ Thuần Chấn được. Tức là phải động liền cả 3 Hào (Hào 1, Hào 2 và Hào 3) vào Hạ quái của Chính quái thì mới được Biến quái Bát Thuần Chấn. Nhưng theo nguyên tắc toán quẻ lập Chính quái tính Hào động, đã động thì phải biến, động Hào nào thì Hào đó được biến đổi ngay sang Hào khác (từ âm sang dương hoặc từ dương sang âm) để hình thành ngay Biến quái mới. Trong một Chính quái cũng có thể động nhiều Hào để tính nhiều việc trong Chính quái đó, nhưng việc động Hào cũng phải tính lần lượt hết Hào này rồi mới sang Hào khác… xoay quanh trục cố định là Chính quái. Nếu ta cho rằng Trần Kiến đã dùng phương pháp bói Dịch theo Bốc phệ chính tông gieo tiền đếm quẻ hoặc tính năm tháng ngày giờ lúc xem thì lại không có sự thống nhất như việc chiêm bốc quẻ Quán sang quẻ Hoán đã nêu trên. Do đó chúng tôi cho rằng khó thể có sự Biến dịch thẳng từ quẻ Hằng sang quẻ Chấn được.

Bây giờ xin được bình đến quẻ Thuần Chấn xem nghĩa có phù hợp với nghĩa quân Nguyên xâm lược bị đánh tan hay không? và ngũ hành sinh khắc thuận nghịch thế nào?

Chu Dịch định nghĩa quẻ Chấn: “Chấn hạ cũng là nội Chấn, Chấn thượng cũng là ngoại Chấn. Trên dưới trong ngoài thảy là Chấn, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Chấn… Quẻ Chấn là quẻ nhất dương ở dưới nhị âm tượng Chấn là sấm, nghĩa của Chấn là động”.

Soán từ thích nghĩa: “Chấn hanh, Chấn lai khích khích, hậu tiếu ngôn hách hách; Chấn kinh bách lý, bất táng chủy sưởng. (13) . Nghĩa là Tượng Chấn là sấm, sấm phát động mà vạn vật nảy nở, có nghĩa là được hanh thông. Chấn lại có nghĩa là kinh động, thoạt có việc gì mà kinh động tới nơi. Người ta gặp phải sự tình như thế thời nên cẩn thận kỹ càng, đón trước ngó sau rồi sau sẽ được cười nói êm ái, tỷ như tiếng sấm vang động kinh chuyển đến trăm dặm mà tinh thần vẫn vững không làm mất đồ tế khí.”(14) Soán truyện thích nghĩa cũng tương tự như Soán từ. Đại Tượng truyện ghi: “Tượng viết, tấn lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cụ tu tỉnh . Chấn nguyên nghĩa là sấm, trên dưới hai lần Chấn, tượng là Sấm dồn là tượng quẻ Chấn. Quân tử xem tượng ấy, mà trong lòng cũng thường có một cách tấn lôi, khi bình thường vô sự mà cứ lo sợ luôn luôn, dẫu có gặp những biến cố gì, thời càng lo xét sửa cho mình”(15).

Xem toàn bộ định nghĩa và thích nghĩa của Soán từ, Soán truyện, Đại tượng truyện cùng Hào Từ và Tiểu Tượng truyện của quẻ Thuần Chấn tôi không thấy có sự liên hệ với sự kiện quân Nguyên xâm lược bị quân dân ta đánh tan phải rút chạy, không có ý nghĩa giống như quẻ Phong thủy Hoán và quẻ Lôi Thủy Giải như đã nói ở trên.

Nếu tính ngũ hành sinh khắc với Thể Dụng ở quẻ Thuần Chấn này thì Thượng quái và Hạ quái của quẻ Chấn đều thuộc mộc , đã bình hòa với Thể quái, như vậy là tương đối thuận. Nhưng Biến quái Chấn ở đây lại bị Hỗ quái Trạch Thiên Quải khắc cả Thượng quái và Hạ quái (Kim khắc mộc ), do đó nó bị chiết giảm nhiều độ bình hoà với Thể quái. Về mặt này quẻ Chấn không thể so sánh được với quẻ Hoán hay quẻ Giải như đã nêu trên.

Từ đó chúng tôi cho rằng khó thể có hiện tượng toán quẻ Lôi Phong Hằng sinh ra Biến quái Bát Thuần Chấn được. Nhưng vì sao VSCMTY lại chép như vậy? Điều này thật khó lý giải vì dịch giả không giới thiệu việc sưu tầm, giám định, chỉnh lý văn bản VSCMTY ở đầu sách nên chúng tôi cũng chỉ căn cứ vào phần phụ lục in nguyên tác bộ sử để xem lại toàn bộ văn bản và chú trọng ở đoạn ghi sự kiện bói Dịch trên.

Bộ sử VSCMTY được chia làm 8 quyển từ quyển 1 đến quyển 8, đánh số thứ tự từ trang 8 đến trang 672. Trang 7 đầu sách là lời tựa của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng. Toàn bộ văn bản chữ Hán bộ sử này có một số điểm đáng chú ý. ở các quyển I, quyển IV, quyển V, quyển VI và quyển VIII giấy đã bị cũ và hơi ố mỏng nên bản photocopy có một số điểm bị mờ nhòe, nhiều chỗ ở cuối trang bị rách mòn một chút. Chữ Hán viết Chân có nét chữ giống nhau, viết hơi tháu phong cách tự nhiên liền mạch, nhiều chỗ có các nét xóa, nét chữ đậm nhạt tương phản hơi mờ. Nét chữ và phong cách viết cùng một vài đặc điểm văn bản khác rất giống trang đầu do Thiện Đình Đặng Xuân Bảng viết lời tựa ghi ngày 12 tháng Giêng năm Thành Thái thứ 17 (1905).

Ở các quyển II, quyển III và quyển VII thấy có sự khác biệt, giấy mới hơn và lành lặn không bị rách mòn, khi photocopy lại không một điểm nào bị nhòe. Chữ Hán viết Chân cẩn thận, rõ ràng từng nét chấm câu như một văn bản chép lại. Nét chữ, kiểu chữ và phong cách viết hoàn toàn khác với chữ ở các quyển I, IV, V, VI, VIII và trang lời tựa. Màu mực chữ ở các quyển II, III và VII này tuy không đậm nhưng trông tươi và mới hơn nhiều so với màu mực chữ của 5 quyển trên.

Đoạn sử ghi về sự kiện bói Dịch trên nằm ở trang 145 thuộc quyển II tức là quyển mà chúng tôi cho rằng đã được sao chép sửa lại gần hoặc sau một thời gian Đặng Xuân Bảng thực hiện nguyên tác. Điều này sẽ là hợp lý vì cuối lời tựa Thiện Đình Đặng Xuân Bảng đã ghi rằng: “… Nay về Ngoại kỷ thì xa xôi khó khảo cứu, tạm dựa vào Việt sử. Chỗ nào dài dòng thì bỏ bớt, hoặc gộp việc cùng loại làm một để cho gọn gàng. Về chú thích thì căn cứ vào địa danh cổ, sửa lại và dẫn các sách phụ xét ở dưới. Về thời đại Tây Sơn thì xin tra xét thực lục của bản triều và bổ sung thêm bằng sách sử của các nhà, tất cả gồm 8 quyển. Chỗ nào ngờ thì để khuyết, để đợi các nhà bác nhã sau này bổ sung. Nay viết tựa”.

Thành Thái năm thứ 17 tháng Giêng ngày 12 Thiện Đình viết lời tựa.

Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng xuất phát từ việc sửa chữa thêm bớt sao chép lại một số phần trong VSCMTY như lời tựa đã nói ở trên; Hoặc giả sau này có sự thất lạc, thay đổi… phải sao chép lại ở các quyển II, III và VII để bộ sử được trọn vẹn hoàn chỉnh ! nên ảnh hưởng chút ít đến sự chuẩn xác của nguyên tác, dẫn đến sự nhầm lẫn một chữ như trường hợp quẻ Chấn trong đoạn sử trên ghi trong quyển II. Việc nhầm lẫn một vài chữ ở trong một bộ sử đồ sộ cũng là một việc rất bình thường, nhất lại là ở trong giai đoạn biến động lớn của nước ta đầu thế kỷ XX, lúc đó chắc chắn nhà sử học Đặng Xuân Bảng đã vượt qua không ít khó khăn để hoàn thành bộ VSCMTY này. Qua đó chúng ta cũng thấy được cái khó khăn vất vả từng câu, từng chữ của những người làm công tác dịch chú sách sử nói riêng và dịch thuật nghiên cứu Hán Nôm nói chung.

Là người hậu học và còn hiểu biết hạn hẹp về Chu Dịch và các phương pháp bói Dịch, chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu văn bản VSCMTY, do đó bài viết không thể tránh được những hạn chế nhất định, chúng tôi mong được lĩnh giáo ý kiến của các nhà Dịch học và nghiên cứu Hán Nôm.

N.C.V

CHÚ THÍCH:

(1) Nạp giáp. Lấy 64 quẻ chia làm 8 rồi xếp theo 8 cung, mỗi cung có 8 quẻ. Mỗi quẻ đều có “Hào thế” và “Hào ứng”. Rồi lấy can chi sắp xếp với 6 Hào của Bát quái để được quẻ thuộc địa chi của ngũ hành. Căn cứ vào ngũ hành sinh khắc của quẻ mà định ra Lục Thân: Phụ mẫu, Huynh đệ, Thê tài, tử tôn, Quan quỷ. Ngoài ra có Lục thần: Thanh long, Bạch hổ, Huyền vũ, Chu tước, Phi xà, Câu trần. Lấy Lục thần và Can chi thuộc ngũ hành sinh khắc cùng thời gian gieo quẻ để đoán cát hung.

(2) Bói tiền: Lấy 3 đồng tiền úp trong 2 bàn tay để lắc, trước khi lắc thì khấn, niệm xin quẻ, khi đổ ra xét sấp ngửa ghi thành các vạch hào âm dương từ dưới lên trên, tổng 6 lần lắc được 6 hào thành quẻ.

(3) Thiệu Khang Tiết quê ở Ngọc Châu tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc, ông đã truyền lại kiến thức Dịch học, Thiên văn học cho con cháu. Hiện nay Thiệu Vĩ Hoa (sinh năm 1936) là hậu duệ đời thứ 29 của Thiệu Khang Tiết cũng trở thành ngôi sao Dịch học Trung Quốc; ông là Tổng giám đốc các Trung tâm dự đoán Thiệu Vĩ Hoa của các thành phố Ngọc Châu, Tây An, Thâm Quyến… Ông đã biên soạn bộ sách nổi tiếng “ Chu Dịch với dự đoán học”, “Các ví dụ giải quẻ của Chu Dịch”, “Tứ trụ dự đoán học”…

(4) Thời Trần và Lê sơ đặt Tư thiên giám là Sở chuyên chiêm tinh, báo thời tiết, làm lịch, xem xét và luận đoán các sự việc hiện tượng ở vũ trụ không gian và xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống thực tại, sau đó làm tờ tấu lên vua. Quan đầu Sở là chức Tư thiên lệnh. Giai đoạn sau đổi làm Khâm thiên giám có chức năng tương tự.

(5) Biến quái khi đã lập Chính quái tìm được Hào động rồi thì Hào động đó được biến đổi từ Hào âm (- -) sang Hào dương (-) hoặc từ Hào dương (-) sang Hào âm (–), Hào mới này quyết định cho sự hình thành quẻ mới gọi là Biến quái. Biến quái cũng có Thượng quái và Hạ quái tương ứng với Thể quái và Dụng quái. Phần tương ứng với Dụng quái từ Hào động chuyển sang là đặc biệt quan trọng, nó có tương sinh với Thể quái hay để Thể khắc không ? hoặc ngược lại đều có ý nghĩa quyết định cuối cùng đối với sự việc cát hung thành bại của Biến quái.

(6) Sau khi đoán quẻ được Chính quái (còn gọi là chủ quái) mới tìm Hào động để phân Chính quái làm Thể quái và Dụng quái. Hào động ở đâu (Hạ hoặc Thượng quái) thì phần đó là Dụng còn lại là Thể. Thể quái chỉ mình, chủ thể là giai đoạn đầu; Dụng quái là người khác hay sự việc. Tính ngũ hành sinh khắc của Thể – Dụng, Thể nên khắc Dụng hoặc để Dụng sinh Thể, không nên để Dụng khắc Thể hoặc Thể sinh Dụng. Dụng quái ở Chính quái rất quan trọng, ứng nghiệm ngay giai đoạn đầu, còn Hỗ quái và Biến quái cũng được gọi là Dụng, hợp với Dụng quái Chính gọi là ứng quái.

(7) Xem Chu Dịch. Sào Nam Phan Bội Châu – Nhà sách Khai Trí – Sài Gòn xuất bản năm 1969. tr.1027 LIX. Quẻ Phong Thủy Hoán.

(8) Hạ chỉ Hạ quái, Nội chỉ Nội quái đều chỉ chung một đơn quái nằm dưới. Thượng chỉ Thượng quái, Ngoại chỉ Ngoại quái đều chỉ chung một đơn quái nằm trên.

Xem Chu Dịch XXXII – Quẻ Lôi Phong Hằng – Sđd., tr.597.

(9) Hỗ quái: Hỗ quái là lấy Chính quái bỏ đi Hào trên cùng và Hào dưới cùng, chỉ giữ lại 4 Hào 2, 3, 4 và 5, rồi chia thành Thượng quái và Hạ quái. Hỗ quái là trung gian ứng, thứ quan trọng. Quẻ Hỗ còn chia ra Hỗ quái của Thể và Hỗ quái của Dụng. Nếu Thể quái ở trên thì Hỗ quái của thể cũng ở trên, nếu Thể quái ở dưới thì Hỗ quái của Thể cũng ở dưới. Hỗ quái cần sinh Thể hoặc bình hoà, không được khắc Thể. ở quẻ Hằng này có Hỗ quái là Trạch Thiên Quải. Hỗ Quái Quải này không thay đổi và đi chung với Biến quái nếu ta tính động lần lượt 6 hào.

(10) Chữ Quá có 2 nghĩa:

a) Quá là quá.

b) Quá là lỗi. Nhưng Quái từ không dùng chữ Quá là lỗi.

(11) Chu Dịch. Sách đã dẫn, tr.727-728 XXXX. Quẻ Lôi Thủy Giải.

(12) Chu Dịch. Sách đã dẫn, tr.730, XXXX Quẻ Lôi Thủy Giải

(13) Bất táng chủy sưởng: chủy nghĩa là đũa muổng là đồ để tiến soạn lúc tế. Sưởng là rượu nghệ dùng để tế thần. Câu này ý nói làm chủ tế mà được vững vàng.

(14) Chu Dịch. Sách đã dẫn – quẻ Bát thuần Chấn, tr.919 đến tr. 923

(15) Chu Dịch. Sách đã dẫn – quẻ Bát thuần Chấn – Đại Tượng truyện, tr. 923, 924

Nguồn http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0306.htm