Thần tiên Việt Nam

Địa Lý Tả Ao Tiên Sinh Pháp Tương Sinh Sát – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

ĐỊA LÝ TẢ AO TIÊN SINH PHÁP TƯƠNG SINH TƯƠNG SÁT

 

CHƯƠNG XX

A. HƯỚNG DẪN PHẦN TƯƠNG SINH TƯƠNG SÁT

Vài nét đặc biệt về sinh sát của đất kết

B. TƯƠNG SINH TƯƠNG SÁT

Câu 1: Phàm Canh, Dậu, Tân khởi tổ, chuyển Bính, Ngọ, Đinh nhập huyệt, tuyệt mệnh, hỏa Kim hỏa bại. Cát huyệt tú, đới cô hư, huyệt vô khí giả, tiền phát hậu sát giã

Phàm Canh, Dậu, Tân khởi tổ chuyển ra Bính, Ngọ, Đinh mà vào huyệt thì tuyệt mệnh. Hỏa với Kim thì hỏa sẽ làm bại mất. Cát huyệt tốt mà đới cô, hư, thì huyệt không có khí, trước phát nhưng sau bị sát vậy.

Câu 2: Canh chuyển Hợi, Mão, hướng Canh, thử địa quan chí tam công

Canh chuyển Hợi, Mão, hướng Canh – Đất này quan đến tam công.

Câu 3: Hợi long chuyển Cấn, nhập huyệt, phú quý vĩnh bất tuyệt.

Hợi long chuyển sang Cấn rồi vào huyệt, thì giàu sang lâu bền mãi không tuyệt.

Câu 4: Cấn chuyển Bính nhập huyệt, văn vũ đa hào kiệt phú quý xuất văn chương

Cấn chuyển sang Bính đi vào huyệt, thời phát văn võ, nhiều bậc hào kiệt, giàu sang và phát xuất cả văn chương.

Câu 5: Bính, Ngọ chuyển Cấn nhập huyệt phú quý hữu thanh danh.

Bính, Ngọ chuyển qua Cấn vào huyệt, giàu sang có tiếng tăm.

Câu 6: Hợi chuyển Dậu, Canh, Tân nhập huyệt, văn vũ phát bất tuyệt

Từ Hợi chuyển qua Dậu, Canh, Tân mà vào huyệt, phát văn, phát võ bất tuyệt.

Câu 7: Khôn, Thân chuyển Tý, Quý nhập huyệt, hướng Khôn, Thân, thử địa sĩ bạt quần

Từ Khôn, Thân chuyển sang Tý, Quý vào huyệt hướng về Khôn, Thân đất này nhân sĩ siêu quần.

Câu 8: Càn sơn Càn hướng thủy lưu Càn, thử địa xuất quan liêu

Càn sơn, Càn hướng, nước chảy ra ở Càn, đất này phát xuất quan liêu

Câu 9: Ngọ sơn, Ngọ hướng, Ngọ thủy lai, phú quý tốc như lôi

Ngọ sơn, Ngọ hướng, Ngọ thủy chảy lại, giàu sang mau như sấm.

Câu 10: Cấn chuyển Canh, nhập huyệt hướng Cấn, văn võ tinh hành, tài bất tận.

Từ Cấn chuyển sang Canh vào huyệt hướng về Cấn phát cả văn lẫn võ, tiền của không dùng hết.

Câu 11: Thủy diễu hậu hướng tiền, phát phúc vĩnh miên miên

Nước quanh phía sau, hướng về phía trước, phát phúc dài liên miên.

Câu 12: Thủy nhập hoài triền huyền vũ, phú quý phát, giai tụ sơn thủy huyệt.

Tiền nghinh vi cao trật cao thiên, sơn vô triền hậu, vi quan bị nhân đấu (bị cạnh tranh)

Nước vào lòng, quanh về huyền vũ, đều phát cả phú, quý. Tụ sơn thủy đón ở trước huyệt, làm quan được thăng cao trật.

Không có sơn quanh ở đằng sau, làm quan bị người ta đả kích.

Câu 13: Thanh long uyển chuyển bút sinh liên.

 Thử thị thần đồng trạc thiếu niên

Long đi uyển chuyển bút kề bên cạnh.

Phát thần đồng tuổi thiếu niên

Câu 14: Hổ lập tôn cư trác Kim, khởi thử địa, thượng thư, tha vô tỉ

Hổ đứng lom khom. Kim vút, chỉ đất phát thượng thu ai dám ví.

Câu 15: Hậu đầu thử vĩ vi quỷ, thất bộ thành thi, nhân tranh thị

Phía hậu đầu có đuôi chuột làm quỷ, bảy bước thành thơ, người lác mắt.

Câu 16: Tiền như lư tiên, quan nhất cử đăng khoa

Phía trước mặt có lư tiên, quan, một bước đăng khoa.

Câu 17: Thế sở nan, tiểu thủy phát thâm tương ngộ, thế hãn hữu chi phú quý, chỉ nhật khả kỳ, nhân nạn cập hỹ

Đời rất khó, nước nhỏ cùng gặp phát ở sâu, ở đời hiếm có giàu sang, có thể hẹn ngày, người ta khó kịp vậy.

 

PHÚ THƯƠNG TỌA THỊ

20137520363631856.jpg

LIỆT TỨ CÁCH

Đệ nhị thập (20)

HỮU NHỊ THẬP CÁCH

 Tổ khởi nhi lai trú hữu cung

 Hựu hoành đoạn tiết chí biên đông

 Nhập yêu tác huyệt oa vi quý

 Vạn khoảnh điền trang, gia phú ông

CÁCH THỨ 20

 Khởi Tố mạch lai chú hữu cung,

 Quay ngang một tiết tới bên đông,

 Mạch vào lưng huyệt khai oa quý,

 Vạn mẫu điền viên đích phú ông.

PHỤ LỤC 1

Giải thích câu thứ 62 của chương 12 nói về “Long Thượng Bát Sát”.

Câu 62 chương 12 sách nói về Long Thượng Bát Sát quá đơn giản nên phải giải thích thêm:

Có 8 sát của long và thủy mà nhà địa lý phải biết để tránh tai họa cho thân chủ. Nếu gặp Bát sát này mà không biết tránh sẽ tạo nên hung họa và bại tuyệt cho con cháu gia đình để đất.

Câu 62 nói về Long Thượng Bát Sát cần phải giải thích cho rõ thêm và mạch lạc hơn là nguyên văn sách có của nhà cụ Tả Ao để quý vị nghiên cứu đỡ mất thời giờ tìm hiểu. Tài liệu này chúng tôi lấy ở một bộ sách địa lý đặc biệt của dòng họ Dương Quán Tùng. Họ Dương là dòng họ chính tông địa lý nổi danh nhất Trung Hoa và nổi danh lâu đời nhất. Không phải cụ Tả Ao không biết Long Thượng Bát Sát, nhưng đây là tài liệu cụ học ở bên tàu mang về, con cháu cứ theo như thế ghi lại, mà sách Tàu cổ xưa thường trình bày kém mạch lạc. Do đó nên chúng ta là con cháu của cụ Tả Ao phải bổ túc.

Long Thượng Bát Sát là 8 loại long sát ở trên long

1. Thứ nhất là: Khảm Long

– Nếu là Khảm Long thì hướng Thìn rất xấu.

2. Thứ hai là: Khôn Thỏ.

– Nếu là Khôn long thì hướng Mão rất xấu.

3. Thứ ba là: Chấn Sơn Hầu

– Nếu là Chấn long thì hướng Thân rất xấu.

4. Thứ tư là: Tốn Kê.

– Nếu là Tốn long thì hướng Dậu rất xấu.

5. Thứ năm là: Kiền Mã

– Nếu là Càn Long thì hướng Ngọ rất xấu.

6. Thứ sáu là: Đoài Sà Đầu

– Nếu là Đoài long thì hướng Tỵ rất xấu

7. Thứ bảy là: Cấn Hổ

– Nếu là Cấn Long thì hướng Dần rất xấu.

8. Thứ tám là: Ly Trư

– Nếu là Ly long thì hướng Hợi rất xấu.

Đễ dễ nhớ người ta đọc thuộc lòng như sau:

1. Khảm Long Khôn Thỏ, Chấn Sơn Hầu

2. Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà Đầu

3. Cấn Hổ, Ly Chư vi sát diệu

4. Mộ trạch phùng chi nhất tề hưu

Ý nghĩa của 4 câu thơ như sau:

Câu thứ nhất:

Khảm Long, Khôn Thỏ, Chấn Sơn Hầu.

a. Có nghĩa là quẻ Khảm (gồm 3 chữ Nhâm Tý Quý) cấm kỵ Long (tức là cấm kỵ Thìn). Do đó cấm tọa Thìn cấm hướng Thìn, cấm thủy từ Thìn lại và cấm có sơn ứng tự Thìn.

b. Tiếp theo là quẻ Khôn (gồm ba chữ Mùi, Khôn, Thân) cấm kỵ Mão (thỏ), do đó cấm tọa Mão, cấm hướng Mão, cấm thủy từ Mão lại và cấm sơn ứng ở Mão.

NGOẠI CẦM NỘI THÚ

20110411105105601.jpg

ĐẠI TIỂU NOA TINH CÁCH

Thập thất cách (17)

HỮU THẬP THẤT CÁCH

 Tổ sơn đại khởi nhập Long kiên

 Thủy nhiễu loan hồi hậu đáo tiền

 Tả hữu loan hoàn lai hướng phục

 Tế vi nhất tiết nhập yêu thiên.

CÁCH THỨ 17

 Tổ sơn cao khởi, chuyển vai Long,

 Tu hậu lai tiên, thủy uốn cong

 Long, Hổ, sa loan, triều, củng, phục.

 Tinh vi nhất mạch nhập yêu cong.

c. Tiếp theo là quẻ Chấn (gồm 3 chữ Giáp Mão, Ất, mạch từ quẻ chấn đến thì kỵ Hầu (hầu là Thân). Do đó cấm tọa Thân, cấm hướng Thân, cấm thủy từ Thân lại và cấm sơn ứng ở Thân.

2. Câu thứ hai:

Tốn Kê, Kiền Mã Đoài Xà Đầu

a. Có nghĩa là quẻ Tốn (gồm 3 chữ Thìn Tốn Tỵ), long mạch từ quẻ Tốn đến thì kỵ Kê (kê là dậu). Do đó cấm tọa Dậu, hướng Dậu, cấm thủy từ Dậu lại và cấm có sơn ứng tại Dậu.

b. Tiếp theo là Kiền Mã là quẻ Kiền (gồm 3 chữ Tuất Kiền Hợi), nếu long mạch từ Kiến đến thì kỵ Mã (Ngọ). Do đó cấm tọa Ngọ, hướng Ngọ, cấm thủy từ Ngọ lại, và cấm sơn ứng ở Ngọ.

c. Tiếp theo là quẻ Đoài (gồm 3 chữ Canh, Dậu, Tân). Nếu long mạch tự Đoài đến thì kỵ Xà (xà tức là Tỵ). Do đó cấm tọa Tỵ hướng Tỵ, thủy tự Tỵ lai và cấm sơn ứng ở Tỵ.

3. Câu thứ ba:

Cấn Hổ, Ly Trư vi sát diệu

Có nghĩa là:

a. Quẻ Cấn (gồm 3 chữ Sửu Cấn Dần). Nếu long mạch từ Cấn lại (hay từ Sửu Cấn Dần lại) thì kỵ Hổ (Dần) do đó cấm tọa Dần, hướng Dần, cấm thủy từ Dần lại và cấm sơn ứng ở Dần.

b. Quẻ Ly (gồm 3 chữ Bính Ngọ Đinh). Nếu long mạch từ quẻ Ly hay hướng Ly lại thì kỵ Trư (trư tức là Hợi). Do đó cấm tọa Hợi, hướng Hợi, cấm thủy từ Hợi lại và cấm sơn ứng tại Hợi.

Tám cách trên là sát diệu ta gọi là Bát Sát.

4. Câu thứ tư:

Mộ trạch phùng chi nhất tề hưu

Có nghĩa là âm phần và dương trạch nếu gặp phải tám loại sát như trên thì mọi sự đều hư hỏng, tai hại nguy hiểm cho cả tính mệnh con người, phải nên cẩn thận đề phòng, tránh những điều cấm kỵ như trên.

Nếu những điều cấm kỵ trên mà còn có mũi nhọn (nha đao) đâm vào tim huyệt thì chắc chắn tai họa không thể tránh được. Cho nên khi điểm huyệt phải công phu làm sao tránh né được bát sát. Cụ Tả Ao có khuyên ta thu cái tốt, tránh cái xấu như sau:

Mình sinh ám tử vô di

Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn

Quả nhiên huyệt chính long chân

Tiêu sa nạp thủy chớ lầm một ly

Táng thôi phúc lý tuy chi

Trâm anh bất tuyệt thu thi gia truyền

THẠCH THẠCH CAO PHI

TIÊU MÔN GIÁ QUÝ

Nhị thập nhất cách (21)

HỮU NHỊ THẬP NHẤT CÁCH

Chú vân: Sơn lai sổ lý, chi cán phân hành, đại hình đại thế, nội minh ngoại minh, long lai hổ bão, vạn thủy truùg thanh, tiêu môn giá quý, địa chấn khoa danh, đa sinh cự phú, thế xuất anh hùng, thử giai quy cách dã, dĩ thượng nhị thập nhất đồ, giai vi quý cách dã, đích vi chân huyệt. Hoặc tác âm phần, hoặc tác dương trạch, giai đoạn phú qu, chi cách dã, thử vị minh sinh lai chi, pháp dã.

CÁCH THỨ 21

Lời chú: Sơn mạch chạy từ nhiều dặm lại, chi can phân chia mà đi, hình lớn thế lớn; trong rõ ngoài rõ. Long vòng Hổ bão, vạn ngọn nước lắng trong, là cách. TIÊU MÔN GIÁ QUÝ, đất phát khoa danh chấn động thiên hạ, thường sinh cự phú, đời đời phát xuất anh hùng, thật là quý cách vậy.

Trong cách này: đúng là chân huyệt, nếu táng mộ hoặc làm nhà đều được đại phú, đại quý.

THẠCH THẠCH CAO PHI

TIÊU MÔN GIÁ QUÝ

Nhị thập nhất cách (21)

 

PHỤ LỤC 2

Giải thích câu 63 của chương 12 về Bát Đại Hoàng Tuyền.

Câu 63 chương 12 nói về Bát Đại Hoàng Tuyền quá cô đọng nay xin giải thích thêm.

Có 8 loại hoàng tuyền hướng và thủy (nước lại nước đi) sát mà làm địa lý cần phải biết để tránh hung họa cho giả chu. Phép đó thu vào 4 câu thơ như sau:

Khứ lai thủy lộ bát đại hoàng tuyền.

1. Đinh, Canh, Khôn thường thị hoàng tuyền.

2. Ất, Bính tu phòng Tốn thủy tiên.

3. Giáp, Quý hướng lai hưu Kiến, Cấn.

4. Tân, Nhâm thủy lộ phạ dương Kiền.

Giải nghĩa: Nước lại, nước đi tám lại hoàng tuyền sát (tục gọi là Sát nhân Đại Hoàng Tuyền).

Câu thứ nhất:

Đinh, Canh, Khôn thượng thị Hoàng Tuyền.

Có nghĩa là: ở Mộc cuộc long bị hoàng tuyền hướng và thủy sát, nếu ta:

– Thu Canh (Thai) thủy

– Thu Đinh (Mộ) thủy lên minh đường.

– Hoặc lập Khôn (Tuyệt) thủy lên minh đường

– Hoặc lập Đinh (Mộ) hướng Canh (Thai) hươớg.

Là bị Hoàng Tuyền hướng hoặc thủy sát.

(Tài liệu photo mờ)

– Hoặc lập Tốn (tuyệt) hướng, thu Tốn (tuyệt) thủy lên minh đường.

– Hoặc lập Ất (mộ) hướng, Bính (thai) hướng là bị hướng hoặc thủy sát.

Câu thứ ba:

Giáp, Quý hướng trung hưu Kiến, Cấn.

Có nghĩa là ở Kim cuộc long bị hoàng tuyền hướng và thủy sát nếu ta:

– Thu Giáp (thai) thủy, Quý (mộ) thủy lên minh đường.

– Hoặc lập Cấn (tuyệt) hướng, thu Cấn (tuyệt) thủy lên minh đường.

– Hoặc lập Giáp (thai) hướng, Quý (mộ) hướng là bị hướng hoặc thủy sát.

Câu thứ tư:

Tân, Nhâm thủy lộ phạ dương Kiền.

Có nghĩa là ở hỏa cuộc long bị hoàng tuyền hướng và thủy sát nếu ta:

– Thu tân (Mộ), Nhâm (thai) hướng lên minh đường.

– Lập Càn (tuyệt) hướng, thu Càn (tuyệt) thủy lên minh đường.

– Lập Tân (mộ) hướng Nhâm (thai) hướng lên minh đường là bị hướng hoặc thủy sát.

Thu thủy như trên là bị hoàng tuyền sát. Hoàng tuyền thủy nên phóng cho chảy đi, không nên cho nhập cuộc lên minh đường. Lại lập những hướng trên vừa kể là hoàng truyền thủy và hướng sát. Tức là thu Hướng và Thủy giết người, phải nên hết sức kiêng kỵ.

Làm địa lý không nắm vững Long Thượng Bát sát và Bát Đại Hoàng Tuyền thì tạo hóa cho người để đất. Vậy phải hết sức kiêng kỵ.

Bởi quan trọng nên Cao Trung xin trình bày kỹ lưỡng phụ lục này lên quý vị độc giả.

PHỤ LỤC 3

THỦY PHÁP

Hướng dẫn: Thủy pháp trong khoa Địa lý là phần quan trọng nhất. Nó là phần bí truyền của khoa Địa lý. Có nhiều vị học Địa lý 30, 40 năm mà vẫn không nắm được Thủy pháp. Làm địa lý mà không biết thủy pháp thì không thể biết được đâu là chân huyệt, đâu là giả huyệt do đó 10 ngôi có thể lầm đến 9 ngôi.

Nội cuộc của một cuộc đất đầy đủ rồi mà Thủy pháp trúng thì 10 ngôi trúng cả 10.

Phần Thủy pháp này nếu muốn nắm vững thì phải biết phân biệt tổng quát như sau:

1. Tất cả có 4 cuộc long là: Kim cuộc, Mộc cuộc, Thủy cuộc và Hỏa cuộc long.

2. Mỗi cuộc long có 6 huyệt là:

– Chính sinh hướng

– Chính vượng hướng

– Tự sinh hướng

– Mộ hướng

– Dương hướng

3. Mỗi cuộc long đều có nước từ đâu đến Minh đường và từ minh đường chảy đi là thủy khẩu.

4. Nước có thể chảy xuôi, hay chảy ngược chiều kim đồng hồ, chảy xuôi là thuận, chảy ngược chiều kim đồng hồ gọi là chảy nghịch.

5. Các chính sinh của các cuộc long đều giống nhau duy chỉ có hướng và thủy khẩu khác nhau.

Các chính vượng, tự sinh, tự vượng và mộ, dưỡng cũng vậy.

20137520355853898.jpg