Thần tiên Việt Nam

Đạo Quán Ngọc Thanh Và Hy Lăng (Đông Triều) Kết Quả Khai Quật Thăm Dò Khảo Cổ Học Di Tích – Thần Tiên Việt Nam 越南 神仙

Đạo Quán Ngọc Thanh Và Hy Lăng (Đông Triều)

Báo Cáo Đầu Bờ Kết Quả Khai Quật Thăm Dò Khảo Cổ Học Di Tích

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG NINH

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

23/12/2013 2:00:00 CH

    Ngày 20/12/2013, tại hiện trường di tích, Ban Quản lý các Di tích trọng điểm Quảng Ninh phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức báo cáo đầu bờ kết quả khai quật thăm dò khảo cổ học di tích, quán Ngọc Thanh và Hy Lăng thuộc Khu di tích Nhà Trần ở Đông Triều.

 

o_quán_Huyệt_Đan_Sa_1.jpg

Đạo Quán Ngọc Thanh Và Hy Lăng (Đông Triều) – Thần Tiên Việt Nam 越南 神仙

Huyệt Đan Sa được phát hiện tại khu vực, quán Ngọc Thanh

       Tới dự có PGS.TS Bùi Minh Trí, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Lãnh đạo Ban Quản lý các Di tích trọng điểm Quảng Ninh, các phòng chuyên môn thuộc Trung tâm, Ban Quản lý các Di tích trọng điểm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, huyện Đông Triều và xã Thủy An, nơi có di tích.

       Cũng như các di tích khác trong quần thể Khu di tích Nhà Trần ở Đông Triều,, quán Ngọc Thanh và Hy Lăng đã bị hỏng hoàn toàn. Ngày 17/5/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số 1904/QĐ-BVHTTDL cho phép khai quật thăm dò khảo cổ học. Sau hai tháng triển khai, kết quả khai quật thăm dò bước đầu về hai di tích này như sau:

       Khu vực, quán Ngọc Thanh: Tại đây đã mở 6 hố khai quật, phát lộ nhiều dấu vết bó nền và nhiều vật liệu kiến trúc như gạch, ngói mũi lá, ngói mũi sen, gốm sứ thời Trần và các thời Lê, Nguyễn. Tìm thấy một đế bia bằng đá xanh, hình hộp chữ nhật có họa tiết dáng sập chân quỳ, giống như bia đá do vua Minh Mạng cho dựng tại lăng tẩm của các vua Trần ở An Sinh, Đông Triều vào năm 1840. Đặc biệt tại đây đã phát hiện dấu vết giếng nước có dáng hình phễu, kè xếp bằng đá sa thạch với nhiều hình dáng, kích thước khác nhau. Thành giếng đã bị đổ vào trong lòng giếng, đường kính phía trên đo được 3,4m, đáy rộng 1,4m, độ sâu 1,2m so với mặt bằng của nền kiến trúc. Việc phát hiện dấu vết giếng nước là chìa khóa cho việc tìm kiếm kiến trúc trung tâm của quán Ngọc Thanh. Trong cấu trúc của một đạo quán, giếng không phải là nơi cung cấp nước sinh hoạt mà được gọi là huyệt Đan Sa, vị trí quan trọng, không thể thiếu của đạo quán.

      Ngọc Thanh vốn là một quán đạo nổi tiếng. Tương truyền có từ thời Lý, đến thời Lê Sơ vẫn là nơi nổi tiếng. Nguyễn Trãi đã từng đến đây chơi nhiều lần và có bài thơ “Đề Ngọc Thanh quán”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Kỷ Mão, Kiến Tân năm thứ 2 (1399), mùa hạ, tháng 4, Quý Ly bắt ép vua (Trần Thuận Tông) phải xuất gia theo đạo giáo, ở quán Ngọc Thanh, thuộc thôn Đạm Thủy”. Theo sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ: Ngọc Thanh quán nằm ở phía Đông Nam của núi Ngọc Thanh, phía dưới là, phía trên là quán Ngọc Thanh, bên kia núi (Tây Bắc) là Hy Lăng. Kết quả điều tra, thăm dò khai quật khảo cổ di tích, quán Ngọc Thanh kết hợp với các nguồn sử liệu đã xác định được vị trí của, quán Ngọc Thanh nằm ở sườn phía Đông Nam của núi Ngọc Thanh, tức là vị trí hiện nay. Việc đồn đoán trước đây cho rằng vốn ở sườn phía Tây Bắc núi Ngọc Thanh (tức khu vực Hy Lăng), sau mới chuyển lên vị trí hiện nay là không chính xác.

      Khu vực Hy Lăng: Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Thu, tháng 9… chiêu hồn (của Duệ Tông) chôn ở Hy Lăng, miếu hiệu là Duệ Tôn”. Tương truyền, năm 1399, sau khi bị bức tử tại quán Ngọc Thanh, vua Trần Thuận Tông cũng được táng vào Hy Lăng. Như vậy Hy Lăng là lăng của vua Trần Duệ Tông và Trần Thuận Tông.

     Dấu vết của Hy Lăng được tìm thấy ở sườn Tây Bắc của núi Ngọc Thanh, cách, quán Ngọc Thanh khoảng 200m về phía Tây Bắc và thấp hơn khoảng 20-30m so với, quán. Hy Lăng đã bị biến dạng do việc mở đường, san gạt đào lấy đất của người dân quanh đây. Con đường bê tông từ chân núi dẫn lên chia cắt di tích thành hai khu vực.

      Khu vực thứ nhất nằm ở phía Đông đường đi. Tại đây xuất lộ các dấu vết kiến trúc như: mặt bằng, nền, móng tường phía Tây, Bắc, Đông, 10 tảng đá kê chân cột, trong đó có 3 tảng đá xanh thời Trần chạm hình hoa sen. Qua các dấu vết này xác định kiến trúc quay hướng Bắc lệch Đông 48 độ, hình chữ nhật, kết cấu 3 gian, 2 chái. Gian giữa rộng 2,7m, hai gian kế bên rộng 2,4m, hai gian chái rộng 1,3m. Vật liệu kiến trúc được sử dụng tại đây rất phong phú, có cả thời Trần, Lê Trung Hưng và Nguyễn, cho thấy công trình này được xây dựng khá muộn, khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tận dụng lại các loại vật liệu của các giai đoạn trước đó.

        Khu vực thứ hai nằm ở phía Tây đường đi, cao hơn khu vực thứ nhất. Tại đây đã bị san gạt lấy đất, chỉ còn lại một phần di tích. Qua hố khai quật và rãnh thăm dò với dấu vết bó nền tìm thấy cùng với các tư liệu khác có thể suy đoán đây là khu vực Hy Lăng. Tuy nhiên với các dấu vết xuất lộ hiện nay chưa đủ để xác định mặt bằng cấu trúc chính tẩm của Hy Lăng.

       Kết quả cuộc khai quật này mới chỉ là mang tính chất thăm dò, khảo sát. Để làm rõ hơn mặt bằng cấu trúc của từng di tích, phục vụ công tác nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch chi tiết trùng tu, bảo tồn, tôn tạo di tích, quán Ngọc Thanh và Hy Lăng trong quần thể Khu di tích nhà Trần ở Đông triều đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể và xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt, cần phải được tiếp tục đầu tư kinh phí nghiên cứu với quy mô tổng thể, lớn hơn.

* Một số hình ảnh tại hiện trường khai quật:

 

o_quán_Khu_vực_chính_tẩm_của_Hy_Lăng_2.jpg

 

Đạo Quán Ngọc Thanh Và Hy Lăng (Đông Triều) – Thần Tiên Việt Nam 越南 神仙

 

 o_quán_Mặt_bằng_kiến_trúc_ở_khu_vực_Hy_Lăng_3_.jpg

 Đạo Quán Ngọc Thanh Và Hy Lăng (Đông Triều) – Thần Tiên Việt Nam 越南 神仙

o_quán_Chân_cột_chạm_hoa_sen_thời_Trần_tìm_thấy_ở_Hy_Lăng_4_.jpg

 

Phan Thị Thúy Vân, phòng TTQB

——————————–o0o————————

Bài thơ: Đề Ngọc Thanh quán – 題玉清館 (Nguyễn Trãi – 阮廌)

題玉清館

Đề Ngọc Thanh quán

Đề quán Ngọc Thanh (Người dịch: Lê Cao Phan)

 

紫府樓臺倚碧岑,

十年今夕一登臨。

松花落地金壇靜,

磬響穿雲道院深。

金鼎丹成人已去,

黃梁夢覺事難尋。

猿愁鶴怨無窮意,

寒日蕭蕭竹隔林。

Tử phủ lâu đài ỷ bích sầm,

Thập niên kim tịch nhất đăng lâm.

Tùng hoa lạc địa kim đàn tĩnh,

Khánh hưởng xuyên vân đạo viện thâm.

Kim đỉnh đơn thành nhân dĩ khứ,

Hoàng lương mộng giác sự nan tầm.

Viên sầu hạc oán vô cùng ý,

Hàn nhạc tiêu tiêu trúc cách lâm.

Lâu đài tía dựa non cao

Chiều nay nhớ lại chuyến nào mười năm

Kim đàn đầy rụng hoa thông

Rung mây tiếng khánh viễn thâm đạo tràng

Người tiên rời khỏi đĩnh vàng

Tiếc khi tỉnh mộng hoàng lương khó tìm

Vượn sầu hạc oán bao niềm

Lao xao tiếng trúc rừng bên lạnh lùng.

 

» Hiện dịch nghĩa

Lâu đài phủ tía dựa trên núi biếc

Mười năm qua, chiều nay mới trở lại thăm

Hoa thông rụng, kim đàn tĩnh mịch

Tiếng khách vang tận mây, đạo viện thẳm sâu

Đĩnh vàng luyện thuốc xong, người tiên đã đi mất

Tỉnh giấc mộng kê vàng, sự việc cũng khó tìm

Vượn sầu hạc oán, ý vô cùng khôn xiết

Ngày lạnh có tiếng lao xao của rừng trúc bên kia.

 

Ngọc Thanh quán (quán là nơi cư trú của đạo sĩ): tại núi Đạm Thủy, huyện Đông Triều (Quảng Yên, Bắc Việt) là một danh lam thắng cảnh. Xưa đây là nơi Hồ Quý Ly bắt ép vua Trần Nghệ Tông đến tu sau khi buộc phải nhường ngôi cho Thái tử An mới lê 3 (Trần Thiếu Đế), rồi tổ chức giết luôn vua tại đây (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Ngô Sĩ Liên).

Phủ đô sơn mùa tía tức là chỗ ở của các vị quyền quý trong triều đình. Theo cổ chế Việt Nam cũng như Trung quốc, màu vàng dành cho vua, màu tía dành cho các vị đại thần.

kim đàn

(cái nền, bệ vàng) Nơi tế tự tôn kính.

Ức Trai Thi Tập ghi là bích hưởng (tiếng ngọc), thiển nghĩ không thích hợp bằng khánh hưởng.

Cái vạc vàng dùng để luyện linh đơn.

Viên, hạc: vượn và hạc, hai loại cầm thú tượng trưng cho hạng quân tử. Cho nên những hình tượng này thường được khắc họa tại những nơi tôn kính.

           ————————–o0o————-

Trích :QUYẾT ĐỊNH

Về việc khai quật khảo cổ tỉnh Quảng Ninh

  

QUYẾT ĐỊNH


Về việc khai quật khảo cổ

BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

 

Căn cứ Luật di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá;
Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Căn cứ Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ban hành Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ;
Xét đề nghị của Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh tại Công văn số 59/DTTĐ-NV ngày 03 tháng 4 năm 2013; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh tại Công văn số 802/SVHTTDL-NVVH ngày 10 tháng 4 năm 2013; Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành tại Công văn số 70/TTKT ngày 08 tháng 5 năm 2013;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa,

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Cho phép Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam khai quật tại di tích chùa, quán Ngọc Thanh và di tích Hi lăng nằm trên núi Đạm Thủy, xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
– Thời gian khai quật: từ ngày 20/5/2013 đến ngày 20/7/2013.
– Diện tích khai quật: 370m2, trong đó: di tích chùa, quán Ngọc Thanh : 250m2 ; di tích Hy lăng: 120m2
– Chủ trì khai quật: Ông Lê Ngọc Định, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Điều 2. Trong thời gian khai quật, các cơ quan được cấp giấy phép có trách nhiệm tuyên truyền cho nhân dân về việc bảo vệ di sản văn hoá ở địa phương, không công bố những kết luận khi chưa được cơ quan chủ quản và Cục Di sản văn hóa đồng ý.
Những hiện vật thu thập được trong quá trình khai quật giao cho Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh giữ gìn, bảo quản; khi bàn giao phải có biên bản giao nhận, tránh để hiện vật bị hư hỏng, thất lạc.
Điều 3.
Sau khi kết thúc đợt khai quật, chậm nhất 03 (ba) tháng Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phải có báo cáo sơ bộ và sau 01 (một) năm phải có báo cáo khoa học gửi về Cục Di sản văn hóa.
Khi công bố kết quả của đợt khai quật, các cơ quan được cấp giấy phép cần trao đối với Cục Di sản văn hóa.
Điều 4. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra đợt khai quật nói trên đúng với nội dung Quyết định.
Điều 5. Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Thủ trưởng Cơ quan được cấp giấy phép chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:

– Như Điều 5;

 

– Bộ trưởng;

 

– Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên;

 

– Sở VH.TTDL tỉnh Quảng Ninh (02);

 

– BQLDTTĐ tỉnh Quảng Ninh;

 

– TTNC Kinh thành;

 

-Lưu: VT, DSVH        

 

KT. BỘ TRƯỞNG

 

THỨ TRƯỞNG

 

(đã ký)

 

 

Đặng Thị Bích Liên

 

———————-o0o——————–

 


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 84
  • 22
  • 4.149
  • 927
  • 1.193.427
  • 279.260