Thần tiên Việt Nam

Khám phá Đạo Quán Ngọc Thanh 玉清道观 – Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Khám phá Đạo Quán Ngọc Thanh 清道

 

Cập nhật lúc 05:07, Thứ Bảy, 04/01/2014 (GMT+7)

Trích Báo Quảng Ninh Điện Tử.

Ngọc Thanh vốn là một quán đạo nổi tiếng, tương truyền có từ thời Lý, đến thời Lê sơ đây vẫn là nơi nổi tiếng. Nhưng cùng chung số phận với các lăng tẩm khác của nhà Trần tại Đông Triều, đến nay đạo quán Ngọc Thanh cũng đã trở thành phế tích. Vừa qua, việc khai quật thăm dò khảo cổ tại di tích được tiến hành, cung cấp nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc khoanh vùng, bảo vệ và phát huy giá trị của đạo quán Ngọc Thanh.

o_quán_Việt_Nam.jpg

Dấu vết giếng nước tìm thấy tại di tích – Đạo quán Ngọc Thanh. Ảnh: Phan Thuý Vân (BQL các di tích trọng điểm tỉnh)

 

Quán Ngọc Thanh được xây dựng trên núi Ngọc Thanh, nay thuộc thôn Đạm Thuỷ, xã Thuỷ An (Đông Triều). Không chỉ nổi tiếng từ xưa, đây còn là nơi gắn với sự kiện Hồ Quý Ly đã từng buộc vua Trần Thuận Tông đến đây để tu đạo vào cuối thời Trần. Chép về việc này, Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Kỷ Mão, Kiến Tân năm thứ 2 (1399), mùa hạ, tháng 4, Quý Ly bắt ép vua (Trần Thuận Tông) phải xuất gia theo đạo giáo, ở quán Ngọc Thanh thuộc thôn Đạm Thuỷ”. Sau này, danh nhân Nguyễn Trãi cũng từng đến đây chơi nhiều lần và có bài thơ về quán đạo với tựa đề “Đề Ngọc Thanh quán”:

Lâu đài tía dựa non cao

Chiều nay nhớ lại chuyến nào mười năm

Kim đàn đầy rụng hoa thông

Rung mây tiếng khánh viễn thâm đạo tràng

Người tiên rời khỏi đỉnh vàng

Tiếc khi tỉnh mộng hoàng lương khó tìm

Vượn sầu hạc oán bao niềm

Lao xao tiếng trúc rừng bên lạnh lùng.

Theo sách “Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ”, Ngọc Thanh quán nằm ở phía Đông Nam của núi Ngọc Thanh. Cũng theo sách này thì phía dưới là chùa Ngọc Thanh và phía trên là quán Ngọc Thanh. Hiện trạng của Ngọc Thanh hiện nay khá tương đồng với mặt bằng được vẽ trong sách trên: Phần trên là Ngọc Thanh quán, còn được gọi là “đền vua”, tại đây hiện thờ 3 vua là Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông; khu phía dưới là chùa Ngọc Thanh.

Quan sát tổng thể di tích hiện nay cho thấy, toàn bộ sườn phía Đông Nam, từ vị trí chùa đến hết vị trí “đền vua” hiện nay đều được kè xếp đá tạo thành đường đi và bó nền gia cố cho toàn bộ khu vực. Ở phía sau “đền vua” và ở phía dưới chân kè còn lại dấu vết đường đi xếp cuội và một số bó nền hình chữ nhật, hầu hết các dấu vết nền này hiện nhà chùa đã xây các thất đè lên trên. Các dấu vết nền này có thể trước đây cũng là những thất, nơi tu luyện của các nhà tu hành hoặc đạo sĩ… Nhìn chung, toàn bộ khu di tích đã bị cải tạo và thay đổi nhiều, các hiện vật thu được chủ yếu là các loại hình vật liệu kiến trúc của các thời Trần, Lê, Nguyễn, trong đó có các chân tảng bằng đá. Tổng cộng đã thu gom được 13 chân tảng bằng đá xanh (trong đó có 1 chân tảng thời Trần) gồm hai loại là chân tảng cổ bồng và chân tảng u tròn, kích thước tảng trung bình 39-36cm x 29-36cm.

Việc khai quật tại chùa, quán Ngọc Thanh cũng đã phát lộ một số di tích có nền móng kiến trúc từ thời Trần đến thời Nguyễn, trong đó có cả dấu vết kiến trúc thuần Trần. Đặc biệt, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu vết giếng nước. Giếng này xuất lộ ở độ sâu từ 0,5 đến 0,7m so với mặt đất hiện tại. Giếng có hình phễu, thành giếng đã bị sập đổ vào trong lòng, các viên đá xếp thành đổ lấp kín lòng giếng. Dấu vết hiện còn có đường kính lớn nhất trên miệng là 3,4m, đáy là 1,4m, sâu 1,2m, giếng được kè xếp hoàn toàn bằng đá gạo với nhiều hình dáng và kích thước khác nhau, chồng xếp, đan cài vào nhau. Độ sâu hiện tại của giếng là 1,2m, song cấu trúc và tính chất đất trong lòng giếng đều là đất bùn màu đen, các viên đá xếp thành giếng cũng bị bao phủ bởi một màu đen đã cho thấy giếng vốn thường xuyên có nước. Đây là phát hiện rất quan trọng, có thể là chìa khoá mở ra cơ hội tìm kiếm kiến trúc trung tâm của quán Ngọc Thanh. Bởi lẽ, trong cấu trúc của một đạo quán, giếng có vị trí đặc biệt quan trọng, nó không phải là nơi cấp nguồn nước sinh hoạt, mà mang ý nghĩa biểu trưng quan trọng, được gọi là “huyệt đan sa”, một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc của đạo quán.

Qua đây cũng đã có thể xác định vị trí của chùa – quán Ngọc Thanh chính là ở vị trí chùa hiện nay, chứ không phải chùa vốn ở sườn phía Tây Bắc núi Ngọc Thanh, rồi sau mới được chuyển lên vị trí hiện nay như những suy đoán trước đây.

Ngọc Mai

Trích Báo Quảng Ninh Điện Tử.

Giấy phép xuất bản số: 161/GP-TTĐT cấp ngày 31 tháng 8 năm 2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông. Tổng biên tập: Nguyễn Tiến Mạnh

 

Trụ sở tòa soạn: Số 71, đường Nguyễn Văn Cừ, TP Hạ Long.

 

————–o0o—————

 

Thăng Long Tứ Quán Là Bốn Quán Của Đạo Giáo

 

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Trấn Vũ quán (Đền Quán Thánh), một trong Thăng Long tứ quán vào những năm đầu thế kỷ 20.

 

Thăng Long tứ quán là bốn quán của Đạo giáo ở đất Thăng Long xưa. Quán là nơi tu hành của những người theo Đạo giáo. Ở Thăng Long có bốn Đạo quán lớn, bao gồm:

 

    * Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh.

 

    * Huyền Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai.

 

    * Đồng Thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành.

 

    * Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên.

 

Những Đạo quán này đều xây dựng từ thời kỳ phát triển của Đạo giáo ở Việt Nam từ xa xưa, nhưng cũng chỉ đến hết đời Mạc. Từ đời Lê Trung Hưng, do Đạo giáo suy thoái, những đạo quán bị Phật giáo hóa, trở thành chùa. Bên cạnh tượng các thánh của Đạo giáo còn có thêm tượng Phật. Ngoại trừ Trấn Vũ quán có tượng Trấn Vũ quá lớn nên vẫn còn giữ được bản chất đạo quán, những quán còn lại đều đổi tên thành chùa, trở thành nơi thờ Phật.

 

———————–o0o———————–

 

 

 Thăng Long Tứ Trấn Là Khái Niệm Xuất Hiện Trong Dân Gian

 

Thăng Long tứ trấn là khái niệm xuất hiện trong dân gian để chỉ về bốn ngôi đền thiêng trấn giữ các hướng Đông Tây Nam Bắc của thành Thăng Long đó là:

 

Trấn Đông: Đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm) thờ thần Long Đỗ – thành hoàng Hà Nội. Đền được xây dựng từ thế kỷ 9

 

Trấn Tây: Đền Voi Phục (hiện nằm trong Công viên Thủ Lệ) thờ Linh Lang – một hoàng tử thời nhà Lý. Đền được xây dựng từ thế kỷ 11

 

Trấn Nam: Đền Kim Liên, trước đây thuộc phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (nay là phường Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội), thờ Cao Sơn Đại Vương. Đền được xây dựng từ thế kỷ 17

 

Trấn Bắc: Đền Quán Thánh (cuối đường Thanh Niên) thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền được xây dựng từ thế kỷ 10.

 

Đạo quán ở Việt Nam bây giờ chỉ còn là phế tích hoặc thành chùa, hoặc thành am đền, không còn đúng nghĩa là đạo quán nữa.

 

Sách sử chép biên xưa là nơi sinh hoạt tôn giáo của Lão Giáo, thờ Tam Thanh và cát vị chân nhân đắc quả. Có sinh hoạt tôn giáo tâm linh, bao gồm giáo lý, giáo luật, giáo luận, giáo chủ và có tín đồ hoặc người thực hiện công việc tín ngưỡng như tín đồ, có người coi sóc cơ sở thờ tự và hiểu được ít nhiều giáo lý. Tuy nhiên hiện nay, người canh giữ các am quán vẫn có nhưng họ không biết gì về Thái Thanh, Thương Thanh, Ngọc Thanh cả, chỉ biết hình tượng để lại thì thờ, nhưng họ không rành gì cả.

 

Một số đạo quán thì gian chính thờ Tam Thanh nhưng mà không xôm tụ bằng gian thờ bên trên, cạnh bên thờ chư Phật và Bồ Tát, cho nên vô hình chung nó mang tên Đạo Quán nhưng mà thật ra nó đã là chùa mất rồi, kinh thì tụng kinh phật, cúng kiếng theo nghi thức nhà Phật lun.

 

Nói ra cũng thấy tiếc vì Lão Giao đã thật sự thất truyền ở Việt Nam, bây giờ, nhiều người nghiên cứu, tu tập thì cũng chỉ tự tha, chứ không có sự liên lạc với những người cùng chí hướng và đức tin với nhau được.

 

Đa phần Đạo Quán ở Việt Nam chỉ tồn tại đến đầu TK 20. về sau thì lụi mất. Chỉ còn là phế tích.

 

Nhưng am cốc trên Thiên Cấm Sơn không coi là Đạo Quán được vì nó không tùng theo nghi tiết của Tam Thanh Giáo hay là những nhánh của Lão Giáo, thậm chí ngay cả Trung Quốc, các am, quán của Lão Giáo bây giờ cũng dần dần hoang tàn lần, những cái lập ở trung tâm đông dân thì còn có người nhang đèn, thờ tự nhưng người ròng chuyên tu hành như các nhà sư của Phật Giáo thì cũng ít dần, còn những đạo quán được xây dựng ở những nơi heo lánh, thâm sơn thì bâu giờ dường như hoang phế, dân đi núi đi rừng gặp thì ghé đốt cây hương, bằng như không người thì nhện đeo, bụi bám.

 

Thật thấy đau lòng bởi Lão Giáo dạy sự huyền vi đến tột bậc, nhưng Lão Giáo với lý Vô Vi là cực kỳ cao thâm nên càng ngày càng khó học, thế hệ sau làm thất Chân  truyền dần dần:

 

——————o0o——————

 

 


Ai đang trực tuyến

  • 2
  • 1.214
  • 294
  • 5.892
  • 928
  • 964.843
  • 226.559