Thần tiên Việt Nam

Khổng Tử Bái Sư 孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

 

 

Khổng Tử Bái Sư  

孔子拜师的故事

 164fa4d5-9c8d-4c1c-9065-45bcd2a58dfa.jpg

 

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

                     

2820_103330_1.jpg

越南道教 道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

CHUYỆN KHỔNG TỬ VÀ HẠNG THÁC – Tuhai.vn

Trích: Tuhai.com.vn
Một lần, Khổng Tử ngồi trên chiếc xe nhỏ có ngựa kéo chu du khắp các nước.
Đến một vùng nọ thấy có chú bé lấy đất đắp một tòa thành, rồi ngồi vào trong đó, Khổng Tử liền hỏi:
“Này cháu, cháu trông thấy xe ta đi tới cớ sao không chịu tránh?”
Chú bé trả lời:
“Cháu nghe người ta đồn rằng, Khổng Phu Tử trên thông Thiên Văn, dưới tường Địa Lý, giữa hiểu lòng người. Vậy mà hôm nay cháu gặp Phu Tử thì không phải vậy. Bởi vì từ xưa đến nay, chỉ nghe nói đến chuyện xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe đâu?”.
Khổng Tử ngạc nhiên quá, liền hỏi:
– Cháu tên là gì?
– Dạ Hạng Thác
– Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?
– Dạ, 7 tuổi ạ.
– Mới 7 tuổi mà đã khôn ngoan vậy sao?
– Dạ thưa, cháu nghe nói, con cá nở được 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ sang hồ kia. Con thỏ 6 ngày tuổi đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra đến nay đã được 7 tuổi, lấy gì làm khôn?
Lần này thì Khổng Tử thật sự kinh ngạc, bèn đưa ra liền 16 câu hỏi khó để thử tài Hạng Thác. Thế nhưng Hạng Thác đã trả lời trôi chảy, rồi nói:
– Vừa nãy Khổng Phu Tử hỏi cháu nhiều quá. Bây giờ, cháu xin hỏi Phu Tử: Tại sao con ngỗng và con vịt nổi trên mặt nước? Tại sao chim hồng, chim hộc lại kêu to? Tại sao cây tùng, cây bách lại xanh cả mùa hè lẫn mùa đông?
Khổng Tử đáp: Con ngỗng, con vịt nổi được trên mặt nước là nhờ hai bàn chân vuông làm phương tiện. Chim hồng, chim hộc kêu to, là vì cổ chúng dài. Tùng bách xanh tươi bốn mùa là vì thân chúng đặc.
– Thưa, không đúng! Hạng Thác reo lên – con rùa nổi lên mặt nước, đâu có phải nhờ đôi bàn chân vuông làm bàn đạp. Con ễnh ương kêu to mà cổ nó đâu có dài. Cây trúc cũng xanh bốn mùa, mà ruột nó rỗng đấy thôi.
Khổng Tử chưa biết giải thích ra sao, thì chú bé lại hỏi:
– Thưa Phu Tử, cho phép cháu hỏi thêm. Tại sao mặt trời buổi sáng lại to mà buổi trưa lại nhỏ?
Khổng Tử nói:
– Là vì buổi sáng, mặt trời gần ta hơn.
– Không phải ạ! – Hạng Thác vặn lại – Buổi sáng mặt trời gần ta hơn, sao lại mát, còn buổi trưa mặt trời xa ta hơn, sao lại nóng?
Rồi Hạng Thác lý sự một hồi, khiến Khổng Tử phải thốt lên:
– Cháu còn ít tuổi mà lại thích hỏi những chuyện xa xôi, viễn vông, ở tận đẩu tận đâu, chuyện trước mắt thì không hỏi.
Hạng Thác cười khanh khách nói:
– Vâng, cháu xin hỏi chuyện ngay trước mắt ngài: Vậy lông mày của Phu Tử có bao nhiêu sợi ạ?
Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và than rằng: “Hậu sinh khả úy!”. Câu “hậu sinh khả úy” ra đời từ đấy. Hạng Thác mất năm 10 tuổi, được lập đền thờ, gọi là Tiểu Nhi Thần, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là thần đồng. Chữ “Thần Đồng” cũng có từ ngày đó.

Bình:

Đại gia nọ vốn ít chữ, nhờ mánh mung mà nhanh chóng phất thành tỉ phú, giàu có nổi tiếng một vùng. Tuy tiền bạc, của nả chẳng thiếu nhưng vị đại gia vẫn mặc cảm mình chỉ là kẻ trọc phú ít học. Bởi thế ông ta quyết chí tầm sư cho con mình trở thành thiên tài để khoe khoang với thiên hạ.
Nghe đồn, muốn thành tài phải vào học những trường có tiếng, phải lựa chọn những thầy tên tuổi nâng đỡ kèm cặp, vị đại gia nọ bèn sắm sinh lễ vật lên đường tìm thầy giỏi, chọn trường hay cho con.
Đại gia đi mãi, hết thành phố này đến thành phố khác vẫn chưa chọn được những lão sư có khả năng đào tạo thiên tài. Đang lúc mệt mỏi, vị đại gia nọ bỗng gặp một ông già quắc thước, râu tóc bạc phơ, tướng mạo tựa tiên ông, đại gia vội kể lể mục đích chuyến đi và nhờ ông lão chỉ đường đi tìm thầy giỏi. Ông lão cả cười hỏi: “Ông muốn con trai thành thiên tài, vậy có biết thiên tài học thầy nào không ?”.
Đại gia lúng túng một lúc rồi thưa: “Các danh sĩ tài năng như Lý Bạch, Đỗ Phủ đều theo học các danh gia từng là học trò của học trò thầy Khổng Tử như Tử Lộ, Tử Cống ạ”. “Thế Tử Lộ, Tử Cống học ai ?”. Đại gia nọ kiêu hãnh bảo: “Tất nhiên Tử Lộ, Tử Cống học giáo sư thiên tài là thầy Khổng Tử rồi”. Ông lão vuốt chòm râu bạc hỏi tiếp: “Thế thầy Khổng Tử học ai ?”. Đại gia nọ luống cuống không biết trả lời ra sao, bèn nói bừa: “Thầy Khổng là bậc Thánh nhân, cần gì phải học ai !”. Ông lão ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Người đời lầm to. Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, con trai của Khổng Thúc Lương Ngột, là người chứ không phải thánh. Khổng Tử từng vái Hạng Thác tôn làm thầy”. Nghe tới đó vị đại gia nọ mừng quá reo to: “Vậy lão hãy chỉ đường để tôi gặp thầy Hạng Thác, xin thầy dạy con tôi thành thiên tài như Khổng Tử, mất bao nhiêu tiền tôi cũng theo !”.
Ông lão mỉm cười bảo: “Được thôi, ta sẽ giúp ông gặp Hạng Thác. Nhưng ta nói trước, Hạng Thác chỉ là đứa trẻ bảy tuổi chưa biết chữ. Sở dĩ đức Khổng Tử tôn Hạng Thác làm thầy bởi ngài muốn đề cao đức khiêm tốn học hỏi cho người đời”. Vị đại gia nghe ông lão nói vậy, tức giận thét lên: “Lão đừng có lừa tôi ! Tôi nhiều tiền, nhất định sẽ mời được thầy Hạng Thác về dạy con tôi thành thiên tài”.

Trích dẫn từ: 屈老 trong Tháng Tư 09, 2011, 09:26:19 PM
Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và than rằng: “Hậu sinh khả úy!”. Câu “hậu sinh khả úy” ra đời từ đấy. Hạng Thác mất năm 10 tuổi, được lập đền thờ, gọi là Tiểu Nhi Thần, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là thần đồng. Chữ “Thần Đồng” cũng có từ ngày đó.
23734.jpg

 

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

 

kt04703.jpg

 

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

2011112815553773739.jpg

 

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

 

Khổng Tử Đến Hỏi Lão Tử Về Lễ

72_100122090305_1.jpg

Sách Sử Ký của Tư Mã Thiên đã chép rằng Khổng Tử đến hỏi Lão Tử về Lễ

 

khong_tu_w23d.jpg

 

越南道教 道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

Ông tổ ba đời của Khổng Tử vốn gốc người nước Tống (Hà Nam), dời sang nước Lỗ (Sơn Đông). Thân phụ của Khổng Tử tên là Thúc Lương Ngột, làm quan võ, lấy bà vợ trước sinh được 9 người con gái. Bà vợ lẽ sinh được một người con trai có tật ở chân, đặt tên là Mạnh Bì. Khi đã về già, ông Thúc Lương Ngột mới lấy bà Nhan Thị và sinh ra Khổng Tử, vào mùa đông, tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu, tức năm 551 trước Tây Lịch. Chuyện kể rằng bà Nhan Thị có lên núi Ni Khâu để cầu tự, vì thế khi sinh ra, Khổng Tử được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni (K’ung Chung-ni). Có sách lại chép rằng Khổng Tử có tên là Khâu vì trán cao và gồ lên như cái gò, vì khâu theo ý nghĩa chữ Trung Hoa là cái gò.

 Một truyền thuyết khác lại kể rằng trước khi Khổng Tử chào đời, bà Nhan Thị đã thấy một con kỳ lân nhả ra tờ ngọc thư trên đó có viết “Thủy tinh chi tử, kế suy Chu vi tố vương = con của Vua Thủy tinh, nối tiếp nhà Chu đã suy để làm Vua không ngai”. Bà Nhan Thị bèn lấy dây lụa, buộc sừng con kỳ lân. Vài ngày sau, con kỳ lân biến mất.

 Khi Khổng Tử lên 3 tuổi, thân phụ mất. Sách Sử không nói rõ về tuổi trẻ của Khổng Tử mà chỉ ghi rằng phu tử hay cùng các bạn nhỏ tuổi bày đồ cúng tế, một điều tỏ rõ bản tính quý trọng các điều lễ nghĩa. Năm 19 tuổi, Khổng Tử lập gia đình và sau đó nhậm chức Ủy Lại với công việc là cai quản việc đong thóc ở kho, sau lại làm “Tu chức lại” coi việc nuôi bò, dê, để dùng vào việc cúng tế. Vào lúc này, Khổng Phu Tử đã nổi tiếng là một người tài giỏi vì vậy một vị quan nước Lỗ tên là Trọng Tôn Cồ đã cho hai người con theo học là Hà Kỵ và Nam Cung Quát.

 Khổng Tử nghiên cứu về Nho Thuật nên rất chú ý đến các lễ nghi và phép tắc của các bậc đế vương đời trước và muốn tìm hiểu các bản văn, tài liệu, hình tượng liên hệ, thời đó đang được lưu trữ tại Lạc Dương (Loyang) là kinh đô của nhà Chu. Năm 28 hay 29 tuổi, Khổng Tử muốn đi Lạc Dương nhưng vì đường xa, lộ phí quá cao nên đã không thể đi được. Lúc bấy giờ người học trò cũ là Nam Cung Quát liền tâu với Lỗ Hầu và nhà vua đã cho Khổng Tử một cỗ xe hai con ngựa và vài người hầu hạ để ra đi.

 Thời đó, người phụ trách tòa nhà lưu trữ các văn thư cổ ghi chép các biến cố từ thế kỷ thứ 23 trước Tây Lịch trở về sau là Lão Tử (Lao-tze). Các văn kiện của thời đại đó được khắc bằng chữ cổ lên trên ngói, tre hay mu rùa. Lão Tử đã giúp Khổng Tử xử dụng các văn khố, sao chép tài liệu để về sau này dùng làm căn bản cho việc san định sách. Khổng Tử cũng học về “Lễ” với Lão Tử và về “Nhạc” với Trành Hoằng.

 

Sách Sử Ký của Tư Mã Thiên đã chép rằng Khổng Tử đến hỏi Lão Tử về Lễ:

Tương truyền, Khổng Tử qua Chu thăm Lão Tử. Lão Tử cưỡi trâu ra tận đầu làng đón Khổng Tử. Hai người đàm đạo với nhau trong ba ngày về Đạo

Khổng Tử bái kiến Lão Tử. Lão Tử hỏi Khổng Tử đọc sách gì, ông trả lời là đọc “Chu Dịch”, và Thánh nhân đều đọc sách này. Lão tử nói: “Thánh nhân đọc sách này thì được, còn ông vì sao cần phải đọc nó? Tinh hoa của quyển sách này là gì?”.

Khổng Tử trả lời: “Tinh hoa của nó là tuyên dương Nhân Nghĩa“.

Lão Tử nói: “Cái gọi là nhân nghĩa, đó là một thứ mê lòng người, giống như như muỗi rận ban đêm cắn người, chỉ có thể làm người ta thêm hỗn loạn và phiền não mà thôi. Ông xem, con chim Thiên nga kia không cần tắm rửa mà lông vũ tự nhiên vẫn trắng như tuyết, Quạ đen hàng ngày không nhuộm lông mà tự nhiên vẫn đen. Trời vốn là cao, đất vốn là dày, mặt trời mặt trăng từ trước tới nay đã phát ra ánh sáng rực rỡ, tinh thần từ trước tới nay chính là đã được an bài có trật tự, cây cỏ từ lúc sinh ra thì đã khác nhau. Nếu như ông tu Đạo, vậy cũng thuận theo quy luật tồn tại của tự nhiên, tự nhiên là có thể đắc Đạo. Tuyên dương những thứ nhân nghĩa để làm gì đây? Chẳng phải điều đó cũng đáng tức cười như việc vừa đánh trống vừa đi tìm một con dê thất lạc hay sao?”

Lão Tử lại hỏi Khổng Tử: “Ông cho rằng tự mình đắc Đạo rồi chưa?”.

Khổng Tử nói: “Tôi đã tìm cầu 27 năm rồi, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ hữu hình có thể tìm kiếm và dâng hiến cho con người, thì người ta sẽ tranh giành nó đem dâng tặng cho quân vương. Nếu như Đạo có thể đem tặng cho người khác, thì người ta sẽ đem tặng nó cho người thân. Nếu như Đạo có thể giảng rõ ra được, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của mình. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, thì người ta đều sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình. Song những chuyện như thế là không thể được. Nguyên nhất rất đơn giản, Đạo ấy chính là thứ mà một người bình thường không thể nhận thức một cách chính xác được, Đạo tuyệt đối sẽ không thể nhập vào tâm của người thường được”.

Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’, ‘Lễ’, ‘Nhạc’, ‘Dịch’, ‘Xuân Thu’, giảng nói đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để bái kiến 70 quân vương, nhưng họ đều không chọn dùng chủ trương của tôi. Xem ra người ta thật là khó thuyết phục được!”.

Lão Tử nói: “Ông nói ‘Lục Nghệ’ ấy tất cả đều là những thứ xưa cũ của thời đại các tiên vương, ông nói những thứ đó để làm gì đây? Thành tựu tu học mà ông đạt được hôm nay cũng đều là những thứ xưa cũ rồi”.

 Khổng Tử thỉnh giáo xong Lễ chế nhà Chu, liền quyết tâm trở về nước Lỗ khôi phục lại nguyên xi Lễ nghi của nhà Chu. Lão Tử đối với việc này vẫn bảo lưu ý kiến. Bởi vì Lễ tuy là cần phải có, nhưng muốn khôi phục toàn diện Lễ nghi nhà Chu, e rằng không thể làm được. Thời thế thay đổi, chút Lễ nghi nhà Chu ấy cũng không thích hợp với tình huống đương thời nữa. Vì vậy Lão Tử nói với Khổng Tử:

  “Ông theo lời những người đó, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ là những lời bàn luận của họ là còn tồn tại mà thôi. Hơn nữa quân tử gặp được thời cơ chính trị 1 thì liền theo chính, thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: Người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người thác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia đi, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia đi, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.

Đức Khổng đáp: «Tôi xin kính cẩn phụng giáo.»

Khổng Tử về đến nhà suốt ba ngày không ra khỏi cửa, bảo với môn sinh rằng:

“Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó bơi được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, bơi thì dùng câu để bắt, bay thì dùng tên để bắn. Còn loài rồng cưỡi gió cưỡi mây mà bay lên trời thì ta không sao biết được. Nay ta gặp ông Lão Tử; ông là con rồng chăng ?”

Khổng Tử sau khi về nước Lỗ, nghiên cứu về đạo tạng thiên thư. Đạo Thánh Hiền soạn chép lại sách xử dụng các văn khố, sao chép tài liệu để về sau này dùng làm căn bản cho nho giáo và mở trường dạy học, nội dung giáo dục gồm Lễ nghĩa, Thiên Địa, Tổ Tiên, Đạo làm người, Nhạc, Sử và Văn Thơ.

 Năm Khổng Tử 51 tuổi, vua nước Lỗ mời ông làm quan Trung Đô Tể tức là vị quan quản trị kinh thành rồi thăng lên cấp Đại Tư Khấu tức là Bộ Trưởng Tư Pháp ngày nay. Trong 4 năm đảm nhiệm chức vụ này, Khổng Tử đã đặt ra các phép tắc, đề ra viêïc cứu giúp các người nghèo khó, quy định việc chôn cất người chết… Nhờ luật lệ phân minh, mọi người dân được dạy bảo các điều lễ nghĩa, trai gái theo lễ giáo, gọi là Nho Giáo từ bấy giờ.

 Sau đó, vua nước Lỗ lại cất nhắc Khổng Tử lên chức Nhiếp Tướng Sự, được quyền bàn việc nước. Chuyện còn kể rằng khi cầm quyền, Khổng Tử đã giết kẻ gian thần là Nhiếp Chính Mão và giúp nước Lỗ trở thành một miền đất thanh bình, thịnh trị.

8227e8d3-ef22-4036-b436-0dc0b5bed65b.jpg

 

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

U8235P1433DT20121206165150.jpg

Khổng Tử Bái Sư  孔子拜师的故事 – Đạo Giáo Việt Nam 越南道教

———o0o———

Theo sử ký Tư Mã Thiên ghi: Lão Tử là hóa thân đời thứ tám mươi mốt của Thái Thượng Lão Quân và để lại pho sách kinh điển cho hậu thế đó là “Đạo đức kinh

[30] Trong Lễ ký   nơi thiên Tăng tử vấn    có ghi nhận Lão Tử đã dạy Khổng Tử về tang lễ, táng lễ (xem Couvreur, Li Ki, t1, pp 434-435, 457-459, 460, 461, 463)

Trong Khổng Tử gia ngữ    , chương 3, tr 1a, đức Khổng nhận Lão Tử đã dạy ngài về nguồn gốc lễ, nhạc.

Theo sử ký Tư Mã Thiên ghi: Lão Tử là hóa thân đời thứ tám mươi mốt của Thái Thượng Lão Quân.

Liên quan các đời Thái Thượng Lão Quân hóa thân và giáng hạ tại Việt Nam nguồn gốc như sau:

Thái Thượng lão quân, là đấng tối cao nhất trong vũ trụ, do khí Tiên Thiên kết tụ, dịch chuyển rồi hóa sinh từ thuở chưa khai thiên lập địa. Thái Thượng Lão Quân là Thủy Tổ của Đạo Tiên. Ngài có pháp lực vô biên, biến hóa vô cùng, hiện xuống cõi trần để truyền thụ pháp thuật cho người có tiên duyên, bảo hộ cho những người đang gặp nạn trên nhân gian, và trở về cõi Thượng Thiên.

qua Khảo thư tịch của Đạo Lão, các Đạo gia mà hầu hết dân gian đều tin rằng: Thái Thượng thuộc một trong ba ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ba ngôi đó là:

– Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thiên Bảo Quân hay Ngọc Hoàng ở Ngọc Thanh cung.

– Linh Bảo Thiên tôn, hay Linh Bảo quân ở Thượng Thanh cung

– Đạo đức Thiên tôn, ở cung Thái Thanh.

Ba ngôi trong tam cung, Đạo giáo vẫn thường gọi là Tam Thanh Đạo Tổ và Tam Thanh luôn song hành cùng Ngọc Hoàng Thiên Tôn, tồn tại trước khi vũ trụ và vạn vật được sinh ra, bản thân trường sinh bất tử cho dù trời đất có hủy diệt thì sự sống của ba vị vẫn không bị ảnh hưởng, ngay khi trời đất còn chưa hình thành, vạn vật hỗn độn, các vị đã hóa thân và sắp xếp.

Trong kỷ nguyên vũ trụ được hình thành ở đại thế kỷ thứ nhất, lúc đó Thái Thượng Đạo Đức Thiên Tôn hạ giáng xuống dương gian ban truyền đạo huyền bí gọi là khai kiếp độ nhân.

Giải mã bí ẩn bốn chữ Thái Thượng Lão Quân, cho thấy:

– Thái Thượng là bậc tối cao và thông linh trong tam giới.

Đấng Rất Cao chính là danh từ mà Âu Châu hiện nay dùng để chỉ Thượng Đế (Le Très Haut).

– Lão Quân, là vị Vua già Có trước đất trời, làm chủ tể quần sinh, mà gọi là Vua già là Lão Quân, thì chẳng xứng đáng hay sao?

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Thái Thượng lão quân hiện thân xuống cõi trần rất nhiều lần thành các vị thần tiên.

Lần thứ nhất Thái Thượng Lão Quân hóa thân:

Theo sử ký Tư Mã Thiên viết:

Ngọc Hoàng Đại đế là hóa thân thứ nhất của Thái Thượng Lão Quân và được gọi là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn.

– Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn tự nhiên diệu hữu di la chí chân Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị thần tối cao là vua của các vị thần khác.Thần thông quảng đại pháp thuật vô biên. Cai quản khắp nhân gian thống trị hết các thần tiên trên trời dưới đất và ba giáo: Nho, Đạo, Phật. Điều động hết thiên thần địa kỳ nhân, Quỷ Thiên Thần là những vật tự nhiên có như: Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao, Phong Bá (Thần Gió, Thần Mưa, Tư Mệnh Tam Quan Đại Đế, Ngũ Hiển Đại Đế, Thần Tài …), đều dưới quyền của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn và ở Địa Kỳ như Thổ Điạ, Thần Xã Tắc, Thần Núi Non, Thần Sông, Biển, cai quản năm tháng ngày giờ. Nói chung bao quát cả Bách Thần. Nhân Quỷ là những nhân vật lịch sử và sau khi chết được hóa thần. Gồm tổ tiên, bậc công thần, văn nhân…

Ngọc Hoàng Thượng Đế thống lãnh trời đất, người, thần linh, ba cõi cùng quản lý mọi sinh linh. Thịnh suy, xấu tốt của vũ trụ vạn vật. 

Tại Việt Nam, Theo truyền thuyết, Ngọc Hoàng giáng xuống từ thuở khai thiên lập địa và có Ngũ lão tiên ông nhận lệnh của Ngọc Hoàng xuống trần gian khai khẩn đất hoang, dạy dân chúng biết săn bắn, hái lượm, diệt trừ thú dữ và còn dạy dân chúng vùng đồng bằng sông Hồng biết làm lúa nước. sau này nhân gian lập đền thờ Ngọc Hoàng có tên là Đền Đậu An. Đền Đậu An chính thức được ghi tên vào lịch sử với tên gọi là Thụy Ứng Quán vào năm 226 trước Công nguyên. ở Việt Nam giáng hạ, Ngọc Hoàng còn có Con gái thứ hai là Liễu Hạnh công chúa là Mẫu Nghi thiên hạ, con gái thứ ba của Ngọc Hoàng là Bà Chúa Ba tu tại Hương Tích động gọi là Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay.

Lần thứ ba Thái Thượng hóa thân: Thời Thần Nông  , ngài tên Xuân Thành tử    hay Trần Dự  .Tại Việt Nam Lạc Long Quân là cháu ba đời của Thần Nông Viêm Đế.

Lần thứ sáu Thái Thượng hóa thân: Đông Hoa Mộc Công Đế Quân. Tại Việt Nam Chử Đồng Tử Đế Quân là do Đông Hoa Đế Quân nguyên khí của Thái Dương Tinh Quân nắm sách sinh tử y thần giáng hạ đầu thai tại bãi cát tự nhiên Việt Nam.

Lần thứ tám Thái Thượng hóa thân: Thái Bạch Kin Tinh. Tại Việt Nam Tản Viên Sơn Thánh là do Thái Bạch Kim Tinh hóa thân giáng hạ, giao gậy đầu sinh đầu tử và sách thần thư bí pháp truyền do Long Vương tặng giáng hạ và đầu thai tại núi Tản Viên Việt Nam.

Lần thứ chín Thái Thượng hóa thân: Thái Ất Chân Nhân tại Việt Nam sau này Lưỡng Quốc Trạng Nguyên – Nguyễn Bỉnh Khiêm là do Thái Ất Chân Nhân hóa thân nhận sách “mật thư Thái Ất Thần Kinh” giáng trần đầu thai tại Thôn Trung Am, huyện Vĩnh Bảo ở Việt Nam.

Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng chỉ các Thần Tiên giáng hạ.

– Vào đời Vua Hùng đánh giặc Ân. Nhận lệnh của Ngọc Hoàng tại Việt Nam Thánh Gióng giáng hạ – Phù Đổng Thiên Vương là do con trai út của Thiên Vương hóa thân đầu thai. Trên trời tức là tam thái tử 3 tuổi nhận lệnh cầm hỏa luân thần giáng trần và đầu thai ở Sóc Sơn Việt Nam

Vào thời Lê Liễu hạnh Công Chúa là con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng Thượng Đế nhận bút sách văn chương giáng hạ và đầu thai 3 lần “tam sinh tam hóa” cứu độ chúng sinh là Mẫu Nghi thiên hạ tại Việt Nam

– Vào thời Trần. Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương ) là Thanh Tiên Đồng Tử giữ Càn Khôn luyện linh đơn hộ mệnh Thái Thương Lão Quân. Nhận lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm ấn và bảo kiếm giáng trần và đầu thai tại phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng Nam Định) ở Việt Nam.

Và còn rất nhiều các vị Thần Tiên giáng hạ bảo hộ đất nước con người Việt Nam, các vị là chân nhân Thiên tài văn, võ, y thuật …

Các vị trên đều do Thái Thượng hóa thân và nhận lệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáng hạ và đầu thai tại Việt Nam nên mới có Đạo của người Việt Nam – Đạo thờ cúng tổ tiên, gia tiên đó là Đạo Thần Tiên.

Vì vậy nguyên khí của Lão Tử Thần Tiên và các vị Thần Tiên Việt Nam đều là sự hóa thân của Thái Thượng Lão Quân và được gọi là Đạo Giáo Thần Tiên.


 ———o0o———

ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI HỌC LỜI ĐỨC KHỔNG THÁNH VÀ TIÊN NHO

Trích: nhipcaugiaoly.com

LỜI ĐỨC KHỔNG THÁNH VÀ CÁC ĐẤNG TIÊN NHO DẠY

Trích: Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý ngày 01-9 canh Dần (08-10-2010)

DẪN NHẬP

Cuộc đời và sự nghiệp của Đức Khổng Tử rất đa dạng, phong phú về nhiều mặt. Ngài đã gặp bao nhiêu vương, công, hầu, khanh, tướng, hiền giả triết nhân. Riêng cuộc hội ngộ bất ngờ giữa Ngài và thần đồng Hạng Thác là một sự kiện nhiều ý nghĩa. Chuyện xảy ra như sau:

Đức Khổng Tử cùng một số học trò, trên đường qua nước Tần, gặp một số thiếu nhi chơi đùa giữa đường. Ngài ngồi trên xe nhìn đám trẻ, thấy một cậu bé cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa giỡn. Ngài hỏi cậu bé:

– Này cậu bé, cớ sao cậu không chơi đùa cùng với mấy đứa trẻ kia?

Cậu bé đáp:

– Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi không giỡn.

Nói xong, cậu tiếp tục lo đắp thành. Đức Khổng Tử lại hỏi:

– Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao?

Cậu bé thản nhiên đáp:

– Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chứ có bao giờ thành phải tránh xe đâu!

Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời một câu bất ngờ, liền xuống xe lại gần hỏi nhiều điều, được cậu trả lời thông suốt, sau đó cậu hỏi lại Đức Khổng Tử mấy câu mà Ngài bối rối.

– Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?

– Thưa phu tử, cháu 6 tuổi

Khổng Tử liền nói:

– Cháu mới 6 tuổi mà sao đã hiểu biết sớm thế?

– Thưa Phu Tử, cháu nghe nói con cá nở ra 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ đến hồ kia. Con thỏ 6 ngày đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra 6 năm thì mới được thế.

Lần này thì Đức Khổng Tử thật sự ngạc nhiên:

– Này cháu! Ta xem cháu cũng khá lanh lợi đấy. Nay ta hỏi nhé: Trên núi nào không có đá? Trong thứ nước nào không có cá? Có loại cửa nào không có cổng? Loại xe nào không có bánh? Trâu nào không sinh con, ngựa nào không đẻ? Con dao nào không có cán? Thứ lửa nào mà không khói? Chàng trai nào mà không có vợ? Cô gái nào mà không có chồng? Thứ chi không có trống không có mái? Ngày nào thì ngắn, ngày nào thì dài? Loại cây gì không có cành? Thành nào không có quan viên? Con người nào không có tên riêng?

Hạng Thác nghĩ một thoáng rồi đáp:

– Trên núi đất thì không có đá. Trong nước giếng thì không có cá. Loại cửa không có cánh thì không có cổng. Kiệu dùng người khiêng thì không có bánh. Trâu đất không sinh con, ngựa gỗ không đẻ. Dao cùn không có cán. Lửa đom đóm không có khói. Thần tiên không có vợ. Tiên nữ không có chồng. Chim mái cô đơn không có trống, chim đực cô đơn không có mái. Ngày mùa đông ngắn, ngày mùa hạ dài. Cây chết không có cành. Thành bỏ không có quan viên. Trẻ em mới sinh không có tên riêng . 1

Lúc này Hạng Thác liền hỏi:

– Vừa rồi Phu Tử hỏi cháu nhiều, đến lượt cháu hỏi Phu Tử: Tại sao mà con ngỗng con vịt lại nổi bồng bềnh trên mặt nước được ạ? Chim Hồng Hạc sao lại kêu to thế. Cây tùng cây bách xanh cả mùa hè lại cả mùa đông là vì sao?

Khổng Tử đáp:

– Con ngỗng con vịt có thể nổi bồng bềnh trên mặt nước là nhờ 2 bàn chân vuông là phương tiện. Chim Hồng hạc kêu to là vì cổ chúng dài, tùng bách xanh tươi 4 mùa là vì thân chúng đặc rắn.

-Thưa không. Con rùa nổi trên mặt nước đâu có phải nhờ đôi bàn chân vuông làm bàn đạp. Con ễnh ương kêu to mà cổ nó có dài đâu. Cây trúc 4 mùa cũng xanh mà ruột chúng rỗng đấy thôi

Chú bé lại nói:

– Thưa Phu Tử cho phép cháu hỏi thêm. Tại sao mặt trời buổi sáng lại to mà buổi trưa lại nhỏ?

– Là bởi mặt trời buổi sáng gần hơn!

– Thế tại sao buổi sáng trời lại mát, buổi trưa mặt trời xa hơn mà lại nóng như thế?

Khổng Tử đang ngập ngừng thì Hạng Thác hỏi tiếp:

– Cháu không làm sao hiểu buổi sáng mặt trời mọc ở phương Đông, buổi chiều lặn ở phương Tây, rồi sáng hôm sau lại mọc ở phương Đông (mà không từ phương Tây mọc lại) và sao người ta lại đặt tên 1 trái núi là Bất Chu (không tròn).Trên trời có bao nhiêu ngôi sao?

Khổng Tử thở dài trách:

– Mình đang ở dưới đất mà lại hỏi chuyện trên trời!

– Vậy thưa ngài dưới đất có mấy cái nhà?

– Cháu còn ít tuổi mà lại thích hỏi những chuyện xa xôi viển vông ở tận nơi đâu. Chuyện trước mắt thì không hỏi.

Hạng Thác cười:

– Thưa Phu Tử, vâng, cháu xin hỏi chuyện ngay trước mắt đây thôi. Lông mày của Phu Tử có bao nhiêu sợi ạ?

Đức Khổng Tử quay sang nói với môn đệ: “Thật hậu sinh khả úy!”

Đến khi ngộ Đạo cùng Hạng Thác, người trì trai thủ giới, nên mới có câu:

Thiên sinh Khổng Tử chân kỳ trí,

Tánh mạng công phu thỉ bất minh,

Vãng trần lộ ngộ Hạng Thác vi sư,

Lão tắc đồ ty thiểu vi tôn.

1. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG THÁNH.

Đức Khổng Tử sinh ngày Canh Tý tháng 11 (tháng Tý) năm 21 đời vua Linh Vương Nhà Chu năm Canh Tuất (năm 551 trước tây lịch), tại huyện Khúc Phụ, Làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Cha đặt tên Khổng Khâu, tên chữ là Trọng Ni.

Cha là Ông Thúc Lương Hột. Mẹ là bà Nhan thị Trưng Tại.

– Năm ba tuổi đã thích cúng tế.

– Thành nhân làm Uy lại coi việc tính toán đo lường.

– Kế làm Tư chức lại coi việc chăn nuôi trồng tỉa.

– Năm 34 tuổi diện kiến với Đức Lão Tử. Sau đó đi chu du liệt quốc.

– Năm 56 tuổi về nước Lỗ giữ chức Trung Đô Tể (giữ quốc thành của nước Lỗ), kế làm quan Tư Không rồi Đại Tư Khấu kiêm Tướng quan (Tể tướng). Ngài thi hành pháp công chém đại phu Thiếu Chính Mão.

– Khi hội với nước Tề ở Giáp Cốc, tài ngoại giao của Ngài buộc Tề phải trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Tài cao đức trọng thì bị nhiều dèm pha, Ngài phải từ chức ra đi.

Từ năm 68 tuổi, Ngài chuyên vào công tác văn hóa để lại sự nghiệp cho muôn đời là san định Kinh: Thi, Thư, Lễ; tự viết kinh Xuân Thu và viết Thập Dực cho Kinh Dịch.

2. ĐẠO NGHIỆP

Sự nghiệp của Ngài là đạo đức dạy về Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, nhưng học trò và người đời sau phần lớn chỉ học Nhân Đạo và Thần Đạo còn Thánh đạo thì chỉ một số ít học trò theo được mà thôi. Cụ thể là Ngài Nhan Hồi, người mà Đức Khổng Tử chọn là Trưởng Tràng để kế nghiệp lại sống như một đạo sĩ.

Một kiếp con người ngắn tợ gang,

Phù dung sớm nở lại chiều tàn,

Công danh phú quý dường mây nổi,

Vinh nhục tồn vong thể bọt tan.

Thẻ ngọc đai vàng thêm mệt trí,

Túi cơm bầu nước khỏe thanh nhàn,

Vui mùi đạo lý ham tu học,

Hạnh đức trau tria được vẹn toàn.

2.1. PHẦN TRỊ THẾ:

Đức Khổng Tử chủ trương “chính danh về mặt Nhân đạo và tôn Chu về mặt chính trị Thần đạo.”

Con Người đối với Ngài không phải là một sinh vật hai tay, hai chân về mặt sinh học, nhưng mang giá trị đạo đức khi làm tròn danh phận của mình. Câu mà chúng ta thường đọc là “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con.)

Ngài Mạnh Tử triển khai thuyết chính danh này rõ ràng. Khi có một người hỏi “Ngài dạy tam cang: quân thần cang đứng đầu mà sao có kẻ giết vua Trụ?”. Ngài đáp lại liền: “Ta chưa từng nghe ai giết vua, chỉ là kết liễu cuộc đời một ác nhân tên Trụ mà thôi, kẻ đã nhẫn tâm mổ bụng phụ nữ xem thai bào, ném người vào ao rắn.”

Chính vì thế Đức Khổng Tử than “vi nhân nan, vi nhân nan!” (làm người khó, làm người khó). 2

Muốn làm đạo thì phải học, Đức Khổng Tử kể lại kinh nghiệm đời Ngài và giúp cho đời sau noi theo:

“Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học. Tam thập nhi lập. Tứ thập nhi bất hoặc. Ngũ thập tri thiên mệnh. Lục thập nhi nhĩ thuận. Thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ”.

A. CÔNG THỨC = ĐỨC CÔNG BÌNH

Đức Khổng Thánh dạy “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (việc gì mình không muốn thì đừng cho người khác.) 3

B. LẬP CHÍ:

Lập chí là sự định hướng tư tưởng, lời nói, hành động và mục đích cao thượng và kiên trì thực hành. Thời của Đức Khổng Tử đi học là để học đạo lý, hành đạo là ứng dụng đạo vào gia đình, quốc gia, xã hội. Về sau đi học chỉ để tìm công danh phú quý, mất ý nghĩa cao đẹp ban đầu.

Đức Khổng Tử dạy:

“Người tu trong Đại Đạo phải có một đại chí, phải có một lòng đại độ bao dung thì mới thành công đắc quả trên đường Đạo.

Ví người tu học đã bước lên nấc thang tiến hóa có thể đi đến tột bực gọi là “siêu nhân loại”, thì người có chí ấy đâu phải thấp hèn nhỏ nhen, phải có một tấm lòng quảng đại mới dám hy sinh cả thân tâm, gia đình, sự nghiệp vật chất dưới thế trần này để tu tạo sự nghiệp tinh thần thiêng liêng nơi thượng giới, để ảnh hưởng trường tồn bất diệt, chớ những điều danh lợi dưới thế trần này đều mộng ảo như phù vân, như sương đeo ngọn cỏ. Vì có câu: “phú quý như môn tiền tuyết, ân tình như thảo thượng sương”, chỉ có đạo đức là lẽ thật mà thôi.

Bởi vậy, từ cổ chí kim, biết bao những bực hiền triết, thánh nhân, kẻ thì ẩn sĩ nơi lâm sơn cùng cốc, còn người thì vui thú nơi chốn điền viên, lấy trời đất làm nhà, lấy non sông làm thê tử, lấy nhân loại làm sự nghiệp, vui thú cờ Tiên rượu Thánh, tâm hồn bao la man mác trên cõi hư không, coi quả địa cầu này còn chật hẹp.

Người có đại chí như thế mới đạt thành sở nguyện trên đường đạo đức.”

 2011112815553773739.jpg

越南道教 道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 95
  • 25
  • 4.149
  • 927
  • 1.193.438
  • 279.263