Thần tiên Việt Nam

Đạo giáo Việt Nam và Triều đình các đời Đế Vương mở khoa thi Lão Giáo 越南道教- 道教神仙- 越南道士Thần Tiên Việt Nam

 

 

Đạo giáo Việt Nam và Triều đình các đời Đế Vương mở khoa thi Lão Giáo

Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam 越南道教 教神仙 南道士

25.9a.jpg

 

 

 

Đạo Giáo Thần Tiên và Tục lệ cổ của người dân Việt .

1. Thờ phụng trời đất, thần, Thánh, Tiên.

Tục thờ tổ tiên, gia tiên

Tục thờ thổ địa, cầu đất bình an cho con người

Tục thờ thành hoàng. Cầu xã tắc, dân an nước thịnh

Tục thờ thổ công táo vương bảo hộ con người, gia tiên, tiền tổ.

Tục thờ hậu thổ long mạch, đất đai, linh khí của người Việt. Các vị Thần Tiên ứng hiện đã được thờ phụng từ đời xưa đến nay.

Thái Thượng Lão Quân

Ngọc Hoàng Thượng Đế

Tây Vương Mẫu

Thần Nông Viêm Đế

Hùng Vương Thánh

Liễu Hạnh Công Chúa,
Đức Trần Hưng đạo Đại thiên tôn.
Đức Phù Đổng Thiên vương Đại thiên tôn.
Thần núi Tản Viên Đại thiên tôn.
Chử Đồng Tử Đế quân Đại thiên tôn.

Thần Bạch Mã

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm….

( Các vị đều là những thần tiên của Việt Nam, là nguyên khí tinh túy của các vì sao trên trời đầu thai xuống nhân gian. Là những người trần do tu luyện mà thành. Có công với đất nước, với dân tộc Việt Nam, lập nên những chiến công hiển hách và được phong vương, phong thánh, phong thần. Đã từng nghiên cứu ra những văn minh, tri thức bất hủ để lại cho đời mà chỉ có những bậc tối cao, thần thánh cao nhân mới có được. Nên được người đời lưu truyền sử sách, nơi nơi lập điện thờ, là tấm gương sáng để lại cho các thế hệ sau noi theo. Con cháu muôn đời hương hỏa. )

Do vậy từ xưa rất nhiều các đời Đế Vương đã lập đàn cầu trời, chọn nhân tài cho đất nước và đã mở khoa thi Đạo giáo.
Khoa thi nhằm chọn những hiền tài như: Trạng nguyên, Đăng khoa, Võ khoa, y khoa…

Điển Hình Triều Đình Từng Mở Khoa Thi
Đạo Giáo Vào Đời Vua Lý Cao Tông (1195) Và Vua Trần Thái Tông (1247).

Triều đình từng mở khoa thi Về nội dung thi Lão Giáo ,
Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm được một đề thi và một bài trả lời các câu hỏi ra trong đề đó.
[24] Nghiên cứu tài liệu này, có thể hiểu được phần nào sự học Lão của người Việt đời trước. Sau đây là bài thi:
(1) PHÁP MÔN LÀ GÌ?
Mọi pháp quy tôn(g), muôn đời chẳng đổi, muôn thánh ngàn thần, một môn đồng hội, ấy gọi là pháp môn vậy.
(2) PHÙ THỦY LÀ GÌ? 
Khí âm khí dương hỗn hợp mà thành ra thiêng, dùng nước đại bi phun cho ma sợ, ấy gọi là vậy.
(3) PHÁP MÔN LẤY AI LÀM THÁNH? 
Pháp môn do Thái Thượng Lão quân lập ra cho nên tôn Ngài làm Thánh.
(4) PHÙ THỦY LẤY AI LÀM THẦY? 
do Chân vũ Tiên sinh lập ra cho nên tôn Ngài làm Thầy

(5) TỨ THÁNH, TỨ GIÁC, TỨ TUNG, TỨ DUY LÀ Ý THẾ NÀO? 
Thiên bồng Thiên du, Bảo đức,
Hắc sát gọi là Tứ thánh.
Càn, Khôn, Tốn, Cấn gọi là Tứ giác.
Thiên hoa, Địa hoa, Lão hạc, Đồng trụ
gọi là Tứ tung. Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là Tứ duy.
(6) TAM GIỚI, TAM THANH, TAM ĐỘNG, TAM TY LÀ THẾ NÀO? 
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới ấy là Tam giới.
Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, ấy là Tam thanh.
Động chân, Động huyền, Động vi ấy là Tam động. Lôi đình, Linh bảo, Thái huyền ấy là Tam ty.
(7) ÔN, HOÀNG, DỊCH, LỆ SINH VÀO BUỔI NÀO? 
Vua Hoàng đế có bốn người con bất tài tên là Ôn, Hoàng, Dịch, Lệ sinh vào đời Chuyên Húc.
( TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI SINH ĐƯỢC MẤY CON? 
Tốn sinh ra được bốn con là Đông, Tây, Nam, Bắc. Ly sinh được chín con từ Nhất bạch, Nhị hắc đến Bát bạch, Cửu tử. Khôn sinh ra sáu con tức là Thái âm, Lục khí. Đoài sinh ra bảy con tức là Bắc đẩu Thất tinh. Ấy là Tốn, Ly, Khôn, Đoài có hai mươi sáu con vậy.
(9
) HÀNH MÃN TAM THIÊN SỐ, THỜI ĐƯƠNG TỨ VẠN NIÊN LÀ GÌ? 
Số Trời thành 1. 000, số đất thành 1. 000, số người thành 1. 000, ấy là hành mãn tam thiên số. Từ Thái dịch đến Thái sơ là 10. 000 năm, từ Thái sơ đến Thái thủy 10. 000 năm, từ Thái thủy đến Thái tố 10. 000 năm, từ Thái tố đến Thái cực 10. 000 năm. Ấy là thời đương tứ vạn niên.
(10) ĐẠO CAO LONG HỔ PHỤC, ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH CHỈ VỀ THẦY NÀO?
Đạo chí cao không thể vượt qua được, mà rồng là dương tinh, cọp là âm tinh đều phục đạo cao. Đức chí hậu không thể vượt qua được, mà quỷ là khí tán, thần là khí tinh đều sợ đức trọng. Ấy là Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh, chính là chỉ sư Phổ Am vậy.
(11) PHÉP BẮT TÀ TRÓI QUỶ DÙNG LINH PHÙ NÀO? ĐỌC THẦN CHÚ NÀO? 
Nếu được đàn tràng cho chỉnh túc, pháp tịch cho hẳn hoi, niệm thấy tam giới mà muôn thánh đều đến, trống đánh ba hồi mà muôn thần đều nhóm họp, trước phải gọi tướng, thứ phải sai đi.
Tưởng đến thiên võng mà kín đáo ra bùa, bắt tay ấn mà thiêng liêng chú bút, bốn chữ thánh đè năm chữ quỷ, chữ (. . . ?) hợp với vạn linh.
Dùng những bùa thiêng Bạch xà, Độc cước, đọc những thần chú Thái thượng, Tề thiên.
(12) MUỐN CHO ĐỜI NÀY, DÂN NÀY ĐỀU VÀO TRONG ĐÀI XUÂN, CÙNG BƯỚC LÊN CÕI THỌ THÌ PHẢI DÙNG THUẬT GÌ? 
Nếu trước hết chính tâm thì bọn tà mị không thể rục rịch. Trước hết chính thân thì khí tà không thể xâm phạm. Tâm chính rồi thì lấy đó ra ơn cho dân. Thân chính rồi thì lấy đó mà giúp.

——-o0o——-

 

KHOA THI TIẾN SĨ NĂM MINH MỆNH THỨ MƯỜI (1829)

Danh Thần Đăng Huân Thạch Am tiên sinh 阮登勳

25.9.jpg

Nguyễn Đăng Huân (1805-1838), tên tự là Hy Khiêm, người xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, nay là thôn Hương Ngải, xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

* Bài đối sách của Nguyễn Đăng Huân được phiên âm, dịch nghĩa từ văn bản chữ Hán trong Lịch khoa Hội Đình văn tuyển, ký hiệu A. 1759/2 (Thư viện Viện nghiên cứu Hám Nôm). Bản chữ Hán được in kèm theo.

(Bài thi và lời hồi đáp bất hủ)

Bài thi như sau:

Hoàng đế ban Chế sách rằng:

Hữu vi là gốc để đạt đến vô vi, vô vi là để thu hiệu quả hữu vi. Xét đời thượng cổ, thuận việc để trị. Nghiêu, Thuấn bắt đầu có đạo trị, công tích rõ rệt, có thể làm phép thường. Không có gì khác, chỉ là trời đất dần dần mở, thánh nhân theo lời chế tác. Phu tử san định Kinh Thư, bắt đầu từ Đường, Ngu là vốn có cớ vậy. 1 Người bàn lại nói rằng “vô vi mà trị”, thực có biết được khí tượng đương thời không? Thánh nhân trị thiên hạ, có chế độ ruộng đất, có thiết lập trường học, có lễ để tiết chế, có nhạc để hài hòa, cái đó gọi là “không thể hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành” 2, quả có chung cái dụng với trời đất không? có viết rằng: “Tâm vô vi vậy” 3. Kinh dịch có viết rằng: “Vô tư vô vi” 4. Nếu vậy thì cái học của thánh hiền chỉ lấy vô vi làm tông chỉ sao? Việc chia ruộng, ban lộc, triều sính, tuần thú, dùng quan, chọn tài, pháp độ giảng bàn quy hoạch. Lưới, cày, bừa, thuyền, chèo, xiêm, áo, chợ búa, xe cộ, làm ra các đồ dùng để thích nghi cho dân, sao lại làm ra như thế? 5. Để Chính, để Đốc, để Mục, để Tề, 6, trước sửa sang việc người. Rõ Vật, rõ Văn, rõ Độ, rõ Số, tỏ rõ cho cháu con. Vậy thì đủ phẩm vật, trọn lễ tiết 8 không đủ để nhận phúc trời; tỏ rõ đức, chặn tà nghịch 9 chưa đủ để truyền đời sau chăng? Triều nghi, quân pháp, quy mô xa rộng; phủ vệ, tô dung 10, quy hoạch có pháp độ. Cùng là trọng nho, dùng sĩ, chế binh, lo của, một triều đại ắt có chế độ của một triều đại. Theo thời gìn giữ, không cần hữu vi, nho gia các đời đại khái cũng có bàn bạc, luận thuyết có thể suy xét được chăng? Pháp chế không có gì thay đổi, đó là nguyên nhân mà nền trị đời Hán không được tốt, nhưng mà việc làm đời Nguyên Thú 11 lại là gây mối hư hao. Thuận theo không có thay đổi, đó là nguyên nhân mà sự thế đời Tống rút cục hư hỏng, nhưng mà việc làm đời Hy, Phong lại mở mối tệ lung lay. Thế thì sao mà hữu vi vô vi đều vô bổ với trị đạo vậy?

Sự hưng thịnh của các triều Đinh, Lý, Trần, Lê nước Việt ta, trong đó há không có các bậc vua sáng tôi hiền, làm được các việc, nhưng trị hiệu cuối cùng cũng không bằng thời cổ, vậy thì tại sao?

Trẫm kế thừa nghiệp lớn, kính tuân đạo xưa, quy củ noi theo, luôn nghĩ đến trọng trách to lớn gian nan mà tổ tiên giao phó; đổi mới phấn sức 12, luôn xét suy, chấn chỉnh. Giảng luận nơi miếu đường, trù tính trong sớm tối, luôn mong làm những điều chưa làm được. Kính trời, theo phép tổ tiên, yêu dân, cầu hiền, tức là điều mà Kinh Thi nói là “noi theo phép cũ” 13 vậy. Rất muốn ngày ngày mới mẻ không ngừng để đạt công hữu vi, ắt là có gốc. Dựng kỷ bày cương, ban bố vương chính, thi hành nhân nghĩa, tức là điều mà Kinh Thư gọi là “quản lĩnh trăm quan chấn hưng công việc” 14 vậy. Rất muốn chắp tay rủ áo mà thành công để được hưởng nền trị vô vi, ắt là có nguyên do. Giảng bàn kỹ mưu quân kế nước, làm trong sạch công việc quan viên sửa sang trị lý ắt có đạo. Việc lớn việc nhỏ đều được thi hành, quan lớn theo phép mà quan nhỏ liêm chính, làm gì để có thể đạt được thế? Chấn hưng văn giáo vũ vệ 15; mở rộng sửa trong, chống ngoài, quy hoạch sắp xếp, ắt có thứ tự. Nghỉ việc võ mà sửa việc văn, làm người gần yên mà người xa đến, theo đạo gì để có thể đạt đến thế? Tựu trung hữu vi vô vi, không gì không ổn đáng, để kéo lại nền thịnh thái hòa thiên cổ, để kéo dài cơ nghiệp thịnh lớn muôn năm, gốc rễ ở đâu?

Các ngươi hiểu kinh đợi hỏi, bái lạy dâng lời, hãy phô bày ý nghĩa, đừng phù phiếm, chớ giản lược, ngõ hầu có ích cho thực dụng, trẫm sẽ đích thân xem xét.

Chú thích:

1 Khổng Tử san định Kinh Thư: Khi san định Kinh Thư, Khổng Tử cắt giữ đoạn từ Đường Nghiêu cho đến Tần Mục Công. Kinh Thư mở đầu là thiên Nghiêu điển, kết thúc là thiên Tần thệ.

2 Trích dẫn từ Trung dung: Đoạn này nói về đạo “chí thành”, thánh nhân hợp một thể với trời đất cho nên có thể “bất hiện nhi chương, bất động nhi biến, vô vi nhi thành” (không thể hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành).

3 Trích dẫn từ “Lễ vận” – Lễ ký: “Tâm vô vi dã, dĩ thủ chí chính” (Tâm vô vi vậy để giữ chí chính).

4 Trích dẫn từ “Hệ từ thượng truyện” – Kinh dịch: “Dịch, vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố” (Dịch, không nghĩ vậy, không làm vậy, tịch nhiên không động, cảm mà thông suốt việc thiên hạ).

5 Làm các đồ dùng để thích nghi cho dân …: Đoạn này dùng ý từ Hệ từ hạ chuyện – Kinh dịch. Theo sách này, thánh nhân chế ra lưới đánh cá là theo tượng quẻ Ly; làm ra cầy bừa là theo tượng quẻ Ích; đặt ra chợ búa để buôn bán trao đổi là theo tượng quẻ Phệ hạp; rủ áo xiêm mà thiên hạ trị là theo tượng quẻ Càn, quẻ Khôn; chế ra thuyền, chèo là theo tượng quẻ Hoán; thuần dưỡng trâu ngựa là theo tượng quẻ Tùy; đóng cửa, gõ mõ báo hiệu cảnh giác kẻ gian là theo tượng quẻ Dự; làm ra chày cối là theo tượng quẻ Tiểu quá; làm ra cung tên là theo tượng quẻ Khuê; làm ra nhà cửa là theo tượng quẻ Đại tráng; chế ra quan quách để mai táng là theo tượng quẻ Đại quá; chế ra nét khắc vạch văn tự là theo tượng quẻ Quải.

6 Chính, Đốc, Mục, Tề: Dùng chữ trong “Lễ vận” – Lễ ký: ”Dĩ chính quân thần, dĩ đốc phụ tử, dĩ mục huynh đệ, dĩ tề thượng hạ, phu phụ hữu sơ, thị vị thừa thiên chi hỗ” (Để chính đạo vua tôi, để vun đắp đạo cha con, để hòa thuận đạo anh em, chỉnh tề trên dưới, vợ chồng có phận vị, gọi là được nhận phúc trời).

7 Văn, Vật, Độ, Số: Chỉ những phép tắc, chế độ đầy đủ, cụ thể, chi tiết.

8 Đủ phẩm vật, trọn lễ tiết (Bị vật tận lễ): Chú giải cho “Lễ vận”– Lễ ký, tiên nho Chu Diên Bình có nói: “Đủ phẩm vật, trọn lễ tiết không đủ để được nhận phúc trời, mà được nhận phúc trời là ở chỗ tu sửa việc người” (Dẫn theo Lễ ký tập thuyết của Vệ Thực đời Tống).

9 Tỏ rõ đức, chặn tà nghịch (Chiêu đức tắc vi): Dùng chữ trong Hoàn Công năm thứ hai – Tả truyện, Sách đoạn này có viết: “Quân nhân giả tương chiêu đức tắc vi dĩ lâm chiếu bách quan” (Người làm vua cần phải tỏ rõ đức, chặn tà nghịch để soi xét trăm quan).

10 Phủ vệ, tô dung:

* Phủ vệ là binh chế thời Tùy, Đường, Thời Đường Thái Tông kiện toàn chế độ Phủ binh, toàn quốc thiết lập 643 Phủ, lệ thuộc 16 Vệ, đứng đầu Phủ là Chiết xung Đô úy, Phủ binh chia ba loại: Thượng phủ có 1200 quân, Trung phủ có 1000 quân, Hạ phủ có 800 quân. Phủ binh được trang bị cả vũ khí và nông cụ, vừa cày cấy, vừa luyện tập chiến đấu.

* Tô dung là phép thuế thời Đường. là thuế ruộng, mỗi đinh nam và trung nam được nhận một khoảnh ruộng, mỗi năm thu hai thạch thóc. Dung là sưu dịch. Đinh nam mỗi năm phải đi sưu dịch 20 ngày, nếu không đi sưu dịch thì mỗi ngày phải nộp ba thước vải.

11 Nguyên Thú: Niên hiệu của Hán Vũ Đế từ 122 – 117 TrCN. Đoạn này có ý nói vào đầu các triều Hán, Tống giữ nguyên phép cũ không thay đổi là không đúng, nhưng những thi hành cải cách của Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông thì cũng không có hiệu quả, lại thêm mối tệ.

12 Đổi mới phấn sức (Nguyên văn “Đỉnh tân Bí sức”): Ý nói là đổi mới như nghĩa quẻ Đỉnh, phấn sức như nghĩa quẻ trong Kinh dịch.

13 Trích dẫn từ thơ “Gia lạc – Đại nhã” – Kinh Thi: “Bất khiên bất vương (vong), suất do cựu chương” (Không lỗi, không quên, noi theo phép cũ).

14 Trích dẫn từ “Ích tắc” – Kinh Thư: “Suất tác hưng sự, thận nãi hiến, khâm tai” (Quản lĩnh trăm quan chấn hưng công việc, thận trọng phép tắc, kính thay!)

15 Chấn hưng văn giáo vũ vệ (Văn giáo vũ vệ chi phấn quỹ): Dùng chữ trong “Vũ cống” – Kinh thư. Thiên sách có ghi: “Ngũ bách lý Tuy phục. Tam bách lý quỹ văn giáo, nhị bách lý phấn vũ vệ” (Cõi Tuy năm trăm dặm. Ba trăm dặm thi hành văn giáo, hai trăm dặm chấn chỉnh võ vệ).

Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Đăng Huân đối lại như sau:

Thần xin thưa, Thần nghe:

Có công hữu vi thì được hưởng hiệu quả vô vi, cho nên “không dám phóng túng rỗi nhàn” mà hiệu quả đạt đến “trị yên”16; “không rỗi rãi ăn cơm” mà hiệu quả đạt đến “đều hòa”17. Từ xưa đạt đến thịnh trị là có nguyên do vậy.

Kính nghĩ: Hoàng đế Bệ hạ, thông minh làm phép, khoan hòa làm giềng. Lấy tư chất sáng suốt văn minh 18 để thi hành vào trị lý. Các bề tôi lớn nhỏ không ai không kính cẩn, bốn bể trong ngoài đều yên ổn thịnh giàu. Nhưng lòng vua khiêm nhún, không bỏ rau phỉ rau phong, thể nhận chí thiện vô cùng, lời nói tầm thường cũng xét. Nhân lúc nhàn rỗi trong muôn việc bận, cho chúng thần vào điện đình, hỏi về hữu vi vô vi cùng những việc làm của các đời và nguyên nhân đạt đến thịnh trị đời nay. Xét thần ngu muội, đâu đủ để biết những điều đó. Nhưng dâng lòng thành của kẻ quê mùa là nghĩa của kẻ làm tôi, nay đã thẹn vâng ban hỏi, dám chẳng dốc hết kiến thức cạn nông để gắng một lời của kẻ hái rau kiếm củi hay sao?

Thần cúi đọc Chế sách có hỏi: Hữu vi là gốc để đạt đến vô vi, vô vi là để thu hiệu quả hữu vi, cùng với trị đạo xưa nay như thế nào. Lớn lao thay lời nói của nhà vua. Thực đã hiểu sâu sắc yếu lĩnh của việc trị vậy.

Thần trộm nghĩ: Có rõ ở hữu vi thì mới có thể hưởng vô vi. Làm vua thiên hạ có biết bao việc, cho nên ắt phải lấy gốc ở sự chăm chỉ “đặt mình vào chỗ không nhàn rỗi”, rồi phát huy đến “việc chấn hưng tạo dựng”, rồi sau mới đạt đến hiệu quả “lập chính trí trị”. Cái đó gọi là công hiệu dựa vào nhau vậy. Từ xưa trị nước, có ai không thế? Thời thượng cổ ở vào lúc đời thuần người phác, thuận việc mà trị. Đến Nghiêu, Thuấn gặp hội văn minh, chân nguyên hội hợp, nhân đó mà khởi đầu trị đạo, tự có thể làm phép thường muôn đời. Không gì khác, trời đất dần dần mở, thánh nhân theo lời mà chế tác. Phu tử san định Kinh Thư, năm điển mà bỏ ba19, chỉ lấy từ Đường, Ngu trở xuống, ý là vì thế vậy. Nhưng Nghiêu, Thuấn sở dĩ sáng tỏ ở trị đạo đâu từng có nhiều việc vất vả đâu. Co duỗi tác dụng gốc ở tự nhiên, “chương, dung, đôn, dụng” dựa vào lý trời20, đạt đến mức cực điểm lê dân biến đổi tốt đẹp, bách tính hợp về trung đạo21, cũng ngầm ngụ trong phong thái không lời không giận22. Người bàn nói rằng “vô vi mà trị”, thực quả đã thấy được nền trị đời Đường, Ngu vậy.

Ôi! Nền trị của hai đế23 chỉ thế mà thôi. Từ xưa thánh nhân trị thiên hạ, có ai không theo đạo đó đâu. Ruộng đất xóm làng là để định dân cư nên nhân đó mà chế điền, lập ấp. Trường học là để làm mới đức dân nên nhân đó mà dựng nhà học. “Trời cao đất thấp, muôn vật phân tán khác nhau mà lễ hưng”24, rồi sau mới có lễ tiết lên xuống, lui nhường. “Lưu hành không nghỉ, hợp đồng mà hóa mà nhạc hưng”25, rồi sau mới có tiếng trống, chuông, tiêu, sáo. Thánh nhân trị thiên hạ, tuy như có làm nhưng cốt yếu đều căn cứ vào sự lý đương nhiên để ứng phó với mọi việc trong thiên hạ, tận tính bản nhiên của ta để tận tính người, tính vật26. Có lẽ cũng là trời đất phổ vật vô tâm cùng cực đến mức như “không thể hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành”(2). Vậy thì cùng Dụng với trời đất vậy. Xem Chu Tử Tập chú chương này mà lấy điều đó để nói thì có thể biết được vậy27. Lễ ký viết rằng: “Tâm vô vi vậy”(3). Hệ từ của Kinh dịch viết rằng: “Vô tư vô vi”(4). Đại khái ý nói tâm vô vi mà giữ chí chính để chính những điều bất chính của người khác, tâm vô tư mà lấy tĩnh để chế động để ứng phó với các việc trong thiên hạ; đương nhiên là giống với họ Lão28 lấy “vô vi” làm tông chỉ vậy. Có thể thấy được cái học của thánh hiền lấy chính tâm làm gốc mà suy ra phép trị, cho nên một triều đại dấy lên ắt có chế độ của một triều đại. Chia ruộng, ban lộc, triều sính, tuần thú, dùng quan, chọn tài, phàm thấy ở hữu vi chế tác kỹ càng, pháp độ giảng bàn quy hoạch, tiên vương lấy đó để kinh luân thiên hạ. Có đạo hình nhi thượng ắt có khí hình nhi hạ29. Lưới, cày, bừa, thuyền, chèo, xiêm, áo, chợ búa, xe cộ lấy ở tượng quẻ Ly, quẻ Ích, quẻ Phệ Hạp, quẻ Tùy, làm ra khí cụ để thích nghi cho dân, thánh nhân lấy đó để sinh nuôi dân chúng(5). Làm ra như thế đều là thấy rõ lý mà làm vậy. Vậy thì có gì nghi ngờ không giống yếu chỉ của Lễ ký Kinh Dịch đâu?

Ôi! Trị thiên hạ không thể không có pháp độ, nhưng mà trị phải có gốc. Cho nên các đấng tiên vương trị thiên hạ, đủ phẩm vật, trọn lễ tiết(8) để tế hưởng quỷ thần, không phải là không đủ để nhận phúc trời, nhưng ắt phải chính đạo vua tôi, dốc đạo cha con, hài hòa anh em, chỉnh tề lớn bé, cực vui hòa nghiêm kính rồi sau mới thấy được chỗ tột cùng của phúc trời. Tỏ rõ đức, chặn tà nghịch (9), trị xét trăm quan cố nhiên là đủ để truyền hậu thế, nhưng ắt phải xe áo để rõ vật, cờ miện để rõ văn, ngọc bội để rõ độ, cân đấu để rõ số, đầy đủ văn vật nghi dung rồi sau mới thấy được mưu kế để lại yên con cháu 30. Xem đó thì biết trước phải làm việc chính, đốc, mục, tề(6); phải tỏ rõ văn, vật, độ, số (7) là vì thế. Há đủ phẩm vật, trọn lễ tiết không đủ để nhận phúc trời; tỏ rõ đức, chặn tà nghịch không đủ để truyền đời sau hay sao?

Ôi! Phép trị của tiên vương, đời sau ít người biết khôi phục được. Nhà Hán triều nghi có chế độ, quân pháp có tỏ bày, quy mô dường như là xa rộng, nhưng đại để là noi theo nhà Tần, vậy thì quy chế nhà Hán không phục cổ. Nhà Đường việc quân có phủ vệ, việc dân có tô dung (10), quy hoạch dường như có pháp độ, nhưng chỉ làm như Tấn, Ngụy, vậy thì pháp độ nhà Đường không thuần nhất vương đạo. Cùng đời Tống trọng nho, chọn sĩ, chế binh, lo của, nhưng điều mục phần nhiều theo thời Ngũ quý, không phải là quy mô có thể lâu dài, có thể noi theo. Tóm lại, Hán, Đường về sau, theo thời duy trì, không trở lại hữu vi, là không biết cái nghĩa “lai phục”31. Cho nên tiên nho Trình Tử vì thế mà có lời bàn bạc. Suy từ đó thì các vua nhà Hán, nhà Tống không biết sửa sang khôi phục trị đạo, những người nối tiếp thì hoặc theo, hoặc đổi, đều không thích đáng, vậy lấy gì để nói về trị đây?

Lễ cổ không khôi phục, nhạc cổ không chấn hưng, vì thế pháp độ đầu đời Hán phải thay đổi, thế mà Huệ Đế chỉ giữ không thay, vì thế mà nền trị chưa được tốt. Còn như coi nhẹ chế độ nhà Hán mà thay đổi, nhưng nhận thức phóng túng, chỉ dụng công ở hình pháp hẹp hòi, sự thay đổi thời Nguyên Thú(11) bị sai lầm ở chỗ thái quá, há lại không thành mối hư hao? Kế nước chưa tốt, mưu quân chưa tinh, vì thế pháp chế đầu đời Tống nên sửa đổi, thế nhưng Thái Tông chỉ giữ mà không sửa, vì thế mà thế nước rút cục hỏng. Còn như coi thường quy chế trước mà bỏ cả, thiết lập mới mà phép Thanh miêu, Miễn dịch23 chỉ lý hội về mặt pháp độ, vậy thì sự sáng chế thời Hy, Phong bị sai lầm, há lại không thành tệ lung lay? Vậy nên vô vi hữu vi mà đều vô bổ với trị đạo là thế.

Sách trời đã định, Dực Chẩn cương vực đã chia33. Nước Việt ta dựng nước, nhà Đinh thì đặt triều nghi, định quân lữ, làm việc dường như khả quan, nhưng trường học không sửa thì trái với đạo làm chính trị của tiên vương. Nhà Lý tha thuế dân, lập quốc học, chế tác cũng có thể cao, nhưng đam mê kinh Phật thì trái với gốc làm chính phong tục của cổ nhân. Nhà Trần quy mô khai sáng nhưng khuê môn đáng thẹn, không thể đoan chính tiêu chuẩn lập giáo. Nhà Lê văn chương thịnh vượng nhưng quyền bính về tay kẻ dưới, không đủ để làm phép giữ nước. Trị hiệu rút cục không bằng thời cổ là vì thế vậy.

Chế sách lại lấy việc Trẫm kế thừa nghiệp lớn, kính tuân đạo xưa, quy củ noi theo, luôn nghĩ đến trọng trách to lớn gian nan mà tổ tiên giao phó; đổi mới phấn sức, luôn luôn xét suy, chấn chỉnh; cùng là kính trời, theo phép tổ tông, yêu dân, cầu hiền, dựng kỷ, bày cương, ban bố vương chính, thi hành nhân nghĩa; giảng bàn kỹ mưu quân kế nước, làm trong sạch công việc quan viên chấn hưng văn giáo vũ vệ, mở rộng yên trong chống ngoài mà hỏi.

Thần qua đây có thể kính thấy Hoàng đế Bệ hạ mong trị sâu sắc, cầu trị thiết tha vậy, chỉ đem những việc ấy để thi chúng thần mà thôi.

Thần kính nghĩ: Hoàng đế Bệ hạ lấy đức Càn mạnh mẽ, chăm vận Thái hanh thông. Ở ngôi trên nắm đại quyền mà kế thừa nghiệp lớn, ở trung tâm mưu việc lớn mà kính tuân đạo xưa. Quy củ noi theo, luôn nghĩ đến trọng trách to lớn gian nan mà tổ tông giao phó. Đổi mới phấn sức(12), thường hết sức suy tư xét mức độ, răn công việc. Giảng bàn nơi miếu đường, trù tính trong sớm tối, luôn mong làm những điều chưa làm được.

Kính trời thì thấy ở việc kính tế đàn Nam giao, theo phép tổ tông thì thấy ở việc biên soạn sách Thực lục. Chăm dân khốn khổ, lòng yêu dân sâu sắc. Rộng mở khoa thi, ý cầu hiền thiết tha, tức là điều mà Đại nhã gọi là “noi theo phép cũ”(13) vậy. Ngửa trông nền chính trị trong sáng buổi đầu của thánh thượng thì những việc mà cổ nhân dùng để đạt đến hữu vi cũng không ngoài thế. Nay chỉ khuếch sung lòng thành kính, chú trọng ý kế thừa34. Dân chúng đã yên mà vẫn thêm lòng chăm lo ấp ủ, người hiền được tiến mà vẫn mở rộng đường thu hút sử dụng35. Vậy thì người hiền cùng tiến, muôn nước đều yên, đạt đến công nghiệp hữu vi ắt có gốc từ đó. Dựng kỷ cương thì thấy ở việc ban bố giáo điều, lập phép tắc thì thấy ở việc thi hành điều lệ. Tha tô giảm thuế, mở rộng nhân ân; thương hoạn cứu tai, ban nhiều nhân chính, tức là điều mà Ngu điển của Kinh thư gọi là “quản lĩnh trăm quan chấn hưng công việc”(14) vậy. Ngửa trông quy mô bình trị của thánh triều, tuy cổ nhân được hưởng hiệu quả vô vi cũng không hơn thế. Nay chỉ cần thêm kỹ càng phẩm tiết, trọn đạo sửa sang. Nhân đã ban mà càng nghĩ mở rộng thêm Nhân, Chính đã hành mà càng nghĩ làm tốt thêm Chính. Vậy thì chính trị sửa sang, muôn dân hưởng phúc, đưa đến chính trị vô vi thực là từ đó vậy. Giảng bàn mưu quân kế nước thì lựa chọn kẻ mạnh mẽ, tính toán số thu chi. Làm trong sạch công việc quan viên thì khảo xét hơn kém, sắp xếp ưu bình. Sửa sang tiết lý đã có đạo rồi. Theo đạo ấy mà thi hành lâu dài thì của nhiều quân mạnh, quan lại thanh liêm, việc lớn việc nhỏ đều cử hành, quan lớn theo phép, quan nhỏ liêm chính có thể đạt được vậy. Chấn hưng văn giáo vũ vệ(15) thì rèn rũa anh tài, chọn nghiêm quân sĩ. Mở rộng yên trong chống ngoài thì gắng gỏi tự trị, thận trọng mưu tính lâu dài. Quy hoạch sắp xếp đã có thứ tự. Theo thứ tự mà thi hành thì việc võ nghỉ, việc văn hưng, trong yên ngoài tĩnh, nghỉ võ sửa văn, người gần yên mà người xa theo đến, tự có thể đạt đến vậy.

Những việc nêu trên, hữu vi vô vi khiến cho đều được thỏa đáng, để kéo dài nền thịnh lớn thái hòa, gốc rễ vốn đã ở trong lòng vua sâu sắc ngầm định, không phải đợi thần điều trần sơ lược. Nhưng đã đội ơn che chở thì lại muốn trời càng thêm cao, chịu ơn sáng lớn36 thì lại muốn đất càng thêm dày. Thần nay đã may được vào nơi điện đình, thân vâng ban hỏi, vả lại ở cuối Chế sách lại khuyến khích thần rằng bái lạy dâng lời, mong thần rằng ngõ hầu có ích cho thực dụng. Cúi lạy đọc, cảm kích càng sâu sắc, dám không gắng lòng thành quỳ hoắc37 nhỏ mọn hay sao?

Thần rất mong Hoàng đế Bệ hạ thông minh theo phép trời38, ngày càng cao thánh kính39, vận lòng thành thuần nhất không nghỉ, giúp đỡ hóa dục chí thành của trời đất. Thế thì trị công lâu dài, hòa khí sinh ra, vãn hồi nền thịnh thái hòa thiên cổ, kéo dài cơ nghiệp thịnh lớn muôn năm. Quốc gia muôn vạn năm có đạo lâu dài, gốc nền ở đó vậy.

Thần là kẻ sơ học tân tiến, không biết những điều cấm kỵ, mạo phạm uy nghiêm nhà vua, run sợ khôn xiết.

Thần kính cẩn thưa.

——- Hết ——

Chú thích:

16 Không dám phóng túng rỗi nhàn” (Võng cảm hoang ninh, kỳ hiệu chí vu gia tĩnh): Dùng chữ trong “vô dật” – Kinh Thư. Thiên này nói về vua Cao Tông nhà Ân, viết: “Bất cảm hoang ninh, gia tĩnh Ân bang” (Không dám phóng túng ở yên, trị yên được nước Ân).

17 “Không rỗi rãi ăn cơm” mà hiệu quả đạt đến “đều hòa” (bất hoàng hạ thực, kỳ hiệu chí vu hàm hòa): Dùng chữ trong “vô dật” – Kinh Thư; để nói về Chu Văn vương. Về “bất hoàng hạ thực”, xem …; về “hàm hòa” xem ….

18 Sáng suốt văn minh (văn minh tuấn triết): Dùng chữ trong “Thuấn điển” – Kinh Thư, nguyên để ca ngợi đức của Đế Thuấn.

19 Năm điển mà bỏ ba: Sách của Ngũ đế gọi là Ngũ điển (năm điển), nói về đạo thường. Khổng Tử khi san định Kinh Thư, chỉ lấy Nghiêu điển Thuấn điển mở đầu, còn bỏ đi ba điển.

20 Chương, dung, đôn, dụng: Dùng chữ trong ”Cao Dao mô” – Kinh Thư. Cũng như nói “Sùng điển, dùng lễ, rõ lễ phục, dùng hình pháp” (xem …)

21 Lê dân biến đổi tốt đẹp, bách tính hợp về trung đạo (Lê dân ô biến, bách tính hiệp trung): Dùng chữ trong Kinh Thư. Thiên “Nghiêu điển” – Kinh Thư có câu: “Lê dân ô biến thời ung” (Lê dân biến đổi, rất hòa). Thiên “Đại Vũ mô” – Kinh Thư có câu: “Dân hiệp vu trung” (Dân hợp theo Trung đạo).

22 Không lời không giận (bất nộ bất ngôn): Dùng chữ trong Trung dung, chỉ đức hóa tự nhiên, không lộ hình tích. Sách này có câu: “Quân tử bất ngôn nhi tín … bất nộ nhi dân uy ư phủ việt” (Quân tử không cần nói mà tin, không cần giận mà dân sợ hơn rìu búa).

23 Hai đế: Chỉ Đế Nghiêu và Đế Thuấn.

24 Trích dẫn từ “Nhạc ký” – Kinh Lễ: “Thiên cao địa hạ, vạn vật tán thù, nhi lễ hưng yên”. Lễ chủ phân biệt đẳng cấp, trật tự, vốn bắt nguồn từ thiên đạo tự nhiên như trời cao đất thấp, muôn vật phô bày khác nhau.

25 Trích dẫn từ “Nhạc ký” – Kinh Lễ: “Lưu hành bất tức, hợp đồng nhi hóa nhi nhạc hưng yên”. Nhạc chủ hài hòa, vốn có gốc từ thiên đạo thái hòa, âm dương hai khí lưu hành, hòa hợp mà hóa sinh vạn vật.

26 Tận tính bản nhiên của ta để tận tính người, tính vật (thuận ngô tính chi bản nhiên dĩ tận nhân vật chi tính): Dùng chữ trong Trung dung. Sách này có viết: “Duy thiên hạ chí thành vi năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân chi tính, năng tận nhân chi tính tắc năng tận vật chi tính, năng tận vật chi tính tắc khả dĩ tán thiên địa chi hóa dục, khả dĩ tán thiên địa chi hóa dục tắc khả dĩ dữ thiên địa tham hỹ” (Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ là trọn vẹn được tính mình, trọn vẹn được tính mình thì trọn vẹn được tính người, trọn vẹn được tính người thì trọn vẹn được tính vật, trọn vẹn được tính vật thì có thể giúp đỡ hóa dục của trời đất, giúp đỡ hóa dục của trời đất thì có thể tham dự với trời đất thành ba ngôi).

27 Chu Tử Tập chú chương này …:Đây nói về chú giải của Chu Tử (xem …) trong Trung dung chương cú cho câu “bất hiện nhi chương, bất động nhi biến, vô vi nhi thành” (không thể hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành).

28 Họ Lão: Tức Lão Tử. Trong sách Đạo đức kinh, Lão Tử đề cao vô vi, tức thuận theo quy luật tự nhiên.

29 Đạo hình nhi thượng, khí hình nhi hạ: “Hệ từ thượng chuyện” – Kinh dịch viết: “Hình nhi thượng giả vị chi Đạo, hình nhi hạ giả vị chi Khí”. (Hình nhi thượng [cái ở trên hình thể, siêu hình] gọi là Đạo; Hình nhi hạ [cái ở dưới hình thể, có tính vật chất] gọi là Khí.

30 Mưu kế để lại yên cho con cháu (yếu dực chi mưu): Dùng chữ trong thơ “Văn vương hữu thanh – Đại nhã” – Kinh Thi. Thơ này có câu: “Di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử” (Để lại mưu cho cháu, để giúp cho con được yên).

31 Lai phục: Dùng chữ trong Thoán từ quẻ Phục – Kinh dịch. Lời Thoán từ có câu: ”Phản phúc kỳ đạo, thất nhật lai phục” (Trở đi trở lại đạo, bảy ngày lại trở lại). Trong Kinh dịch, từ quẻ Cấu là dương bắt đầu tiêu, qua bảy lần biến mà thành quẻ Phục, dương lại sinh trở lại, nên gọi là “Bảy ngày lại trở lại”. Âm dương tiêu trưởng, đến quẻ Phục dương bắt đầu sinh, dương dần trưởng, đạo quân tử lớn dần, có thể hữu vi.

32 Thanh miêu, Miễn dịch: Hai biện pháp trong tân pháp của Vương An Thạch được thi hành vào thời Tống Thần Tông. Phép Thanh miêu là khi dân cấy lúa, triều đình cho dân vay, đến khi thu hoạch phải trả với lãi hai phân. Phép Miễn dịch là những người phải đi sưu dịch thì theo thứ bậc nộp tiền thay cho sưu dịch.

33 Dực, Chẩn: Tên hai ngôi sao trong chùm Chu tước, chùm sao phía nam trong Nhị thập bát tú. Thời cổ quan niệm bờ cõi dưới đất tương ứng với tinh phận các sao trên trời, nước Nam ta tương ứng vào tinh phận của sao Dực, sao Chẩn.

34 Kế thừa (Dịch thoát chữ “ký đồ”): Dùng chữ trong “Tử tài” – Kinh Thư. Thiên sách có câu: “Nhược tác thất gia, ký cần viên dung, duy kỳ đồ ký từ” (Như xây nhà, đã dựng tường, phải tiếp tục sơn trát lợp).

35 Thu hút sử dụng (phu thi): Dùng chữ trong “Cao Dao mô” – Kinh Thư. Thiên này có câu: “Hấp thụ phu thi” (Thu hút sử dụng hiền tài).

36 Sáng lớn (quang đại): Dùng chữ trong Thoán truyện quẻ Khôn – Kinh Dịch, chỉ đức của đất. Thoán truyện có câu: “Hàm hoằng quang đại” (To rộng sáng lớn).

37 Quỳ hoắc: Loại cây hướng về phía mặt trời; chỉ lòng thành của kẻ dưới hướng về quân vương.

38 Thông minh theo phép trời (thiên thông thời hiến): Dùng chữ trong “Duyệt mệnh trung” – Kinh Thư. Thiên sách có câu: “Duy thiên thông minh, duy thánh thời hiến” (Chỉ trời thông minh, chỉ thánh theo phép trời).

39 Ngày càng cao thánh kính (thánh kính nhật tê): Dùng chữ trong thơ “Trường phát – Thương tụng” – Kinh Thi. Thơ này ca ngợi Thành Thang có câu: “Thánh kính nhật tê” (Thánh kính ngày càng cao).

Trích:Viện Nghiên cứu Hán Nôm


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 6.102
  • 984
  • 6.046
  • 999
  • 975.777
  • 228.248