Thần tiên Việt Nam

Việt Nam Phong Tục Phần 2 – 越南道教 – 道教神仙 – 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

Việt Nam Phong Tục Phần 2

越南道教道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

VIỆT NAM PHONG TỤC

 

Phan Kế Bính

        

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XV.   VỢ LẺ

Phận lấy lẽ – Người giàu có hoặc người hiếm hoi thường có vợ lẽ. Người chịu lấy lẽ là người: một là vì nghèo hèn, hai là vì sa cơ thất thế, ba là vì tham giàu, tham danh giá, bốn là vì tuổi trẻ góa chồng, chưa có con, phải bước đi bước nữa thì mới chịu lấy, chớ con nhà tử tế không mây người chịu.

Lấy vợ lẽ không mây người cưới xin như khi lấy vợ cả, chỉ dùng lễ cưới sơ sài, đưa ít tiền bạc và nộp cheo cho làng mà thôi.

Người phú quý có khi lấy năm, lấy bảy vợ lẽ, mỗi người có riêng một dinh cơ, phận ai người nấy. Người bình thường vì hiếm hoi mà lấy, hoặc là vợ cả lấy cho, hoặc là tự mình lấy, nhưng cũng phải nói cho vợ cả bằng lòng mới được. Có khi vợ cả ghen tuông không cho lấy thì chồng lại lấy giấu mà để ở riêng một nơi.

Đối với chồng – Vợ lẽ đối với chồng thì trọng về sự nâng khăn sửa túi, hoặc người thì trọng về sự kế tự, chớ không có trách nhiệm đảm đang công việc nhà chồng như người vợ cả.

Khi nào người vợ cả hèn yếu, không cáng đáng nổi công kia việc nọ, thì cũng cậy về vợ lẽ nhiều.

Vợ lẽ ở vối chồng, cũng nhiều người rất trọng hậu, hết lòng lo cho chồng, biết chiều chuộng chồng, biết phân trách nhiệm cho vợ cả. Có người chỉ cốt lấy chỗ nương nhò, chẳng biết lo lắng cho nhà chồng một tí gì.

Đối với vợ cả – Vợ lẽ không có quyền bằng người vợ cả, phải phục tòng vợ cả như là chồng. Được người vợ cả có lượng khoan dung, thì coi vợ lẽ ‘như chị em một nhà. Nếu phải người vợ cả cay nghiệt, thì sai bảo hành hạ như kẻ ăn người ở, vợ lẽ cũng phải chịu.

Nhiều khi vợ lẽ can cường, không chịu người vợ cả áp chế thì thường sinh ra sự cãi nhau. Đàn ông thì có người ở công bình, mà phần nhiều thì hay bênh vực vợ bé. Có khi vợ lẽ cậy được thế chồng yêu mà lăng ngược người vợ cả, có khi vợ lẽ cậy giàu có của, lo được cho chồng nên danh phận thì lại khinh bỉ vợ cả mà tranh lấy quyền trên.

Đôi với con chồng – Con chồng gọi vợ lẽ của cha là dì ghẻ nếu mẹ mất rồi, phải nương nhờ dì ghẻ, thì người vợ lẽ ấy có quyền làm kế mẫu, coi được con chồng như con mình, thì con chồng cũng phải coi mình như mẹ đẻ. Nhưng ít được hiền hậu, nhiều người không thương đến con chồng.

Tục vợ lẽ cũng là một tục trái với cách văn minh đời nay, vì là làm cho loài người mất tự do, mất bình đẳng, thì là trái với đạo công bằng của tạo hóa, tức là không hợp cách văn minh, vả lại vợ cả vợ lẽ, ít người biết lấy cách hòa thuận ở với nhau, còn phần nhiều thường hay ghen tuông nhau.

Người chồng cũng ít người khéo khu xử, mà cũng rất khó khu xử cho vừa lòng cả đôi bên. Có câu rằng: “Cai trăm quân không khó bằng cai bốn vó đàn bà”. Vì thế trong nhà hay sinh ra lục đục, chồng ở giữa thật là khó nghĩ, bênh vợ cả thì vợ lẽ oán, bênh vực vợ lẽ thì vợ cả giận, thành ra gia đình giảm thất sự vui vẻ. Mà lắm khi người vợ cả ác nghiệt, thì vại dấm chua cũng khá chê thay! Hoặc gặp phải ngưòi vợ lẽ tai ngược thì cũng khó chịu! Cầu lấy lớn ra phận lớn, nhỏ ra phận nhỏ, hồ dễ đã được mấy người.

Song cứ suy cái tình thế trong phong tục ta thì chưa có thể bỏ được. Ta trọng nhất là việc thừa tự, nếu người vợ cả không có con mà không lấy vợ lẽ thì không nghĩ đến việc thừa tự, tục cho là bất hiếu, vả người nước ta, đàn bà thì nhiều mà lại lắm người nghèo khó vất vả. Có cái tục lấy vợ lẽ cũng giúp được cho nhiều người có chỗ nương nhờ.

Cứ như thế thì lấy vợ lẽ cũng là phải. Song thiết tưởng có ngươi nên lấy, có ngưòi không nên lấy. Ai mà lượng cái sức mình có thể bao dung được vợ lẽ và đàn con của vợ lẽ hãy nên lấy, chớ lấy mà đê cho ngưòi ta khổ sở và để cho đàn con nheo nhóc thì đừng. Ai mà tin cái tài mình có thế giữ được hòa mục trong gia đình hãy lấy, chứ lấy mà nay tiếng này mai tiếng khác, sinh ra tan cửa nát nhà thì đừng. Mà lấy thì phải coi người ta là một ngưòi vợ khác của mình, chớ đừng coi là kẻ sai khiến của nhà mình, đừng đê cho vợ lẽ đê tiện, mà cũng đừng đê cho vợ cả mất lòng.

Sau nữa là cái đạo vợ lẽ ở với chồng, ở với vợ cả, cũng phải giữ hai chữ kính thuận mới được. Mình đã chẳng may sa cơ thất thế, phận hẩm duyên hôi, thân cát đằng đà phải nương đến bóng tùng quân thì đừng có nên cậy nhan sắc, cậy có con, cậy chồng vêu mà hoành hành với người vợ cả, dẫu ở chung ở riêng mặc lòng’, phải cho trên thuận dưới hòa thì mới vui vẻ.

Người vợ cả ở với vợ lẽ, nên giữ lấy lượng bao dong chớ đừng giữ thói ghen tuông mà mang tiếng nhỏ nhen làm bia cho miệng cười.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XVI.   CẦU TỰ

Nhà nào hiếm muộn thì cầu tự. cầu tự có nhiều cách: Người thì uống thuốc cho bổ huyết, người thì cho tại đất tuyệt đinh, nhờ thầy địa lý dịch mả, người thì đi lễ bái chùa này miếu nọ để cầu Phật, Thánh độ cho có con.

Về tháng giêng, tháng hai, vợ chồng thiên hạ thường dắt díu nhau vào lễ chừa Hương Tích (thuộc phủ Mỹ Đức tỉnh Hà Nội) cầu tự. Trong chùa có một hang đá, thạch nhũ mọc lổm chổm hai bên, tục gọi là núi Cô, núi Cậu. Các ngưòi cầu tự đem vàng hương oản lễ đến chùa, rồi thì đem quà bánh đến chỗ hang thạch nhũ ấy, coi hòn nào thích mắt thì xoa tay vào đầu mà khấn: Cậu về ở với vợ chồng nhà tôi nhá. Ai nhiều con trai rồi muôn cầu con gái thì sang dãy núi Cô cũng nói như vậy. Khấn xong lúc trở ra về, ăn thì thêm bát thêm đũa, đi đò thì trả thêm một xuất tiền cho người lái đò, làm như đã có một ngưòi đi theo vậy.

Nếu về nhà mà sau vợ có mang sinh con thì mỗi năm phải đem con về chùa lễ tạ ơn Phật.

Có người về lễ đền Kiếp Bạc (đền thờ ông Trần Hưng Đạo, thuộc tỉnh Hải Đương) cầu tự. Hạng ngươi này thì phần nhiều là người sinh con khó nuôi, cho là có tiền oan nghiệp chướng, cho nên đến lễ bái trừ tà thì về sau đẻ con mối nuôi được.   ‘

Xét cái tục cầu tự của ta, cũng bởi tin sự quỷ thần mà ra. Tục này từ thượng cổ đã có, như vua Đế Cốc cầu tự ồ đền Cao Môi mà sinh ra ông Hậu Tắc, ông Thúc Lương Ngột cầu tự ở núi Ni Sơn mà sinh ra Đức Khổng Tử. Nhưng thiết tưởng toàn là do bụng tin tưởng mà ra, chớ không có lẽ gì cho đích đáng tin được.

Cứ lấy sự hiển nhiên mà nói thì người không có con hay là đẻ con mà không nuôi được, hoặc là vì người đàn ông hay đàn bà có tật bệnh gì, hoặc là vì đẻ con ra tiên thiên suy nhược khó nuôi, hay là nuôi trái phép vệ sinh thì không nuôi được. Còn như người chỉ sinh con gái mà không sinh con trai, cũng bởi có một lẽ riêng nào đó, quyết không có thần thánh nào chủ trương về việc sinh con đẻ cái gì đâu.

Có người nói rằng: Sự cầu tự cũng nhiều khi linh nghiệm, xem như các người vợ chồng đã ngoài bốn mươi tuổi chưa có con, đi cầu tự rồi mới có, mà cũng nhiều khi người con ấy làm nên thế này thế khác, nếu không nghiệm thì sao thế được.

Thiết tưởng sự ấy cũng là sự ngẫu nhiên, dẫu chẳng cầu đâu cũng có. vả lại muôn sự thường hay nên ở lòng người tin tưởng. Cái bụng người ta đã tin mê ở điểu gì thì lại hay cố’ sức làm cho điều ấy phải nghiệm, vậy thì lại có một lẽ chắc được, chớ cũng không phải có chi lạ hết.

Còn như con hay con dở, bởi ở cách dạy dỗ, con thọ con yểu, bởi ở cách dưỡng sinh, không nên cho là con trời, con Phật mà nhảm quá.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XVII.   NUÔI NGHĨA TỬ

Người không có con, thường nuôi con nhà anh em hay là người ngoài làm nghĩa tử. Nghĩa tử ấy cũng như con đẻ ra.

Cha mẹ nuôi con phải vun trồng dạy dỗ, con nuôi ở với cha mẹ, ọũng phải hiếu kính phụng dưỡng, coi như cha mẹ đẻ, mai sau cũng được thừa hưởng gia tài.

Người phú quý có nhiều con rồi, thường cũng có nuôi nghĩa tử. Nghĩa tử này, một là vì ngưòi nuôi thương kẻ cơ hàn mà nuôi, hai là vì người muốn nương thân vào cửa quyền quý mà tình nguyện làm con nuôi. Những con nuôi ấy có người ở hết lòng trung nghĩa, như Quan Bình ở với Quan Công, có người ở phản trắc bất nhân như Lộc Sơn ồ với Đường Minh Hoàng.

Nhiều người nuôi con nuôi từ khi đứa trẻ còn thơ bé, hoặc vì cha mẹ nó mất sớm, thấy trẻ mồ côi mà nuôi, hoặc vì cha mẹ nó nghèo khó đem bán, người hiếm hoi thì nuôi cho nó đứng đầu đứng số. Đứa con ấy lớn lên, nhiều khi không nhớ đến bản thân phụ mẫu là đâu. Mà dẫu cò nhớ cũng không có phép coi cha mẹ đẻ trọng hơn cha mẹ nuôi được vì cha sinh không bằng mẹ dưỡng, nếu quên ơn người nuôi thì bất nghĩa.

Ta trọng nhất là việc kế tự, nếu không có người kế tự cho mình, thì mình tức là người bất hiếu với tổ phụ. Cho nên không có con, thì phải nuôi, chủ ý là để mai sau có người giữ hương hỏa cho nhà mình.

Cái bổn tâm đối với tổ tiên như thế thì cũng phải, nhưng xét cho kỹ thì cũng có điều nên bàn: Giả thử người bất hạnh mà không có con, nuôi được con anh em hoặc con nuôi đồng họ, để mà nối dõi tông đường, thì dẫu là con nuôi, nhưng cũng là huyết mạch, trong một nhà, chẳng hại gì. Còn những người nuôi con người ngoài, mà thường lại yêu thương quý trọng hơn con anh em, thì tưởng cũng là không phải.

Về phần người con nuôi, người ta đã có công nuôi dạy dỗ mình như con, thì mình cũng phải nên mong mà đền báo cái ơn ấy, chớ đừng nên nghĩ người ta không phải là người sinh ra mình, mà ăn ở phụ bạc.

Còn như những người thấy người ta có quyền thế mà hạ cái mình quý báu để xin vào làm con nuôi người ta thì là một thói du mị nịnh đời, để cầu lấy các sự ước ao của mình, ấy là một cách rất đê tiện.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

Thiên thứ nhì

NÓI VỀ PHONG TỤC HƯƠNG ĐẢNG

I.   SỰ THẦN

Thần Hoàng – Mỗi làng phụng sự một vị Thần Hoàng, có làng thò hai ba vị, có làng thờ năm, bảy vị tục gọi là Phúc thần. Phúc thần chia làm ba hạng:

Thượng đẳng thần.

Trung đẳng thần.

Hạ đẳng thần.

Thượng đắng thần là những thần Danh Sơn Đại Xuyên, và các bậc Thiên thần như Đông  Sóc , sử Đồng Tử, Liễu Hạnh v.v…

Các vị ấy có sự tích linh dị, mằ không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Hai là các vị Nhân thần như là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, v.v… Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước, lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ.

Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần.

Trung đắng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những thần có chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tình đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điên, mà phong làm Trung đẳng thần.

Hạ đắng thần dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần. Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều nơi thờ bậy thờ bạ, nơi thì thờ thần bán lợn, nơi thì thờ thần trẻ con, và thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết v.v… Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân ngu xuẩn tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển không có phong tặng gì.

Đình miếu – Mỗi làng thờ thần phải có một tòa miếu. Có nơi thì vừa có miếu vừa có đình. Làng nào to thì mỗi thôn lại có lập riêng một đình.

Miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng, và để làm nơi công sở cho dân hội họp. Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao, hoặc ở nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay. Đình thì tùy chỗ nào trung độ, tiện cho dân lành hội họp thì thôi. Đình và miếu rất thường triồng nhiều cây cốĩ cho sầm uất, nơi nào lắm cổ thụ, tức là nơi thắng cảnh và là đình miếu rất lâu đời.

Đình miếu cũng theo một kiểu mẫu chỉ khác nhau to với nhỏ mà thôi. Đại để đình miếu nào cũng có một nội điện là chỗ rất thâm nghiêm, để an phụng thần vị. Ở ngoài thì nhà đại bái, chia làm ba khoảng: khoảng giữa gọi là trung đình, để làm nơi tế tự, và các người có ngôi thứ cao mới được ngồi. Hai bên gọi là tả gian, hữu gian, ở trong có bàn thờ thổ công, hoặc thờ bộ hạ của thần, hoặc thờ hậu thần, ở ngoài thì làm chỗ cho tư văn, hàng giáp ngồi giải lao.

Đình nhiều nơi làm rộng rãi đến năm bảy gian, tám chín gian, cột to tới hai người ôm. Các dân xã lớn, đình miếu nguy nga, cột sơn son vẽ rồng, rui hoành trổ chạm sơn thếp, hoành biển, cửa võng rực rỡ trang hoàng.

Phía ngoài nhà đại bái có hai bàn Tả mạc, hữu mạc, tục gọi là hai dãy muống, để làm chỗ quan viên áo mũ vào tế và để khi có việc to thì lấy chỗ ngồi.

Ngoài cùng có cửa tam quan, làm cách tôn nghiêm rộng rãi, tường hoa cột trụ, xây đắp chung quanh. Hai bên vách tường, nhiều nơi đắp con rồng con cọp, hoặc vẽ hình đôi võ tướng cầm long đao, hoặc vẽ voi, vẽ ngựa, hoặc làm voi đá đứng đối bên, trên đầu cột trụ thì xây đắp con sấu sành.

Đồ phụng sự – Mỗi vị thần có một bài vị an phụng vào một bộ long ngai, hoặc an phụng ở trong long khám. Bình nhật để khi có việc hội hè thì phong áo mũ đai mãng đại trào để thò hoặc để rước. Vị thần nào có sắc phong thì dùng các chữ mỹ tự trong lòng sắp làm duệ hiệu của thần. Phải có hòm sắc để chứa sắc, có kim sách để ghi chép sự tích của thần. Còn đồ thờ như đồ tam sự, ngủ sự, đài rượu, quả trầu thì cũng đồ thờ tư gia. Ngoại giả thì đại để các đồ nghi trượng, loan giá, lộ bộ như long kiệu, long đình, cờ quạt, tàn tán, bát bỉu, gươm trường, biển tĩnh túc, biển hồi ty, tay văn, tay võ, dùi đồng phủ việt, chiêng trông v.v…

Có nơi làm đôi hạc gỗ đứng chầu đôi bên cửa điện.

Có nơi làm đôi ngựa gỗ hoặc hai con voi rút bằng mây để thờ.

Tự điển tự trạch – Mỗi làng phải để riêng mấy mẫu ruộng làm tự điền. Hoặc có hồ có đầm riêng của làng thì để làm tự trạch mỗi năm lấy hoa lợi, ngư lợi ở đó ra mà cúng vào việc tế tự. Làng nào không có tự điển, tự trạch thì lấy vào khoản công nho nào hoặc phải đóng góp với nhau.

Người thủ từ – Mỗi đình miếu làng cắt một ngưòi thủ từ. Người thủ từ ấy phải ngày đêm ở luôn chốn đình miếu, coi việc đèn hương, giữ đồ phúng tự và coi việc sai tảo cho được sạch sẽ. Nhiều nơi bắt ngưòi thủ từ phải chay sạch, không được ở gần đàn bà. Cũng có nơi thì cho ngưòi thủ từ đem cả vợ con đến ở gian ngoài, trông nom trồng trọt những đất chung quanh mà kiếm ăn.

Người thủ từ được hưỏng hoa lợi ở chỗ đình miếu và được phép miễn trừ SƯU thuế tạp dịch. Nơi nào lắm linh tích, thiên hạ khách khứa đến lễ bái đông, thì ngươi thủ từ lại được hưởng nhiều lộc thánh.

Xét về cái tục thờ Thần Hoàng này từ đời Tam quốc trở về vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tưống, mới bắt đầu lập miếu. Thần Hoàng ở Thành Đô, kế đến nhà Tổng, nhà Minh thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ.

Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi.

Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy đê làm chủ tể cho việc ấm tí một phương mà thôi. Kế sau triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy. Từ đó dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình. Làng nào có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì đi cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà thờ. Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị, việc bói khoa, việc tá khấu, tin là một sự linh dị mà thờ. Hoặc nơi thì vì một sự ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duệ hiệu để thờ. Té ra làng nào cũng có đền, xã nào cũng có miếu. Đến cả những xã mới lập, trước hết cũng nghĩ ngay đến việc thò thần.

Tổng chi là dân ta tin rằng: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có Thần Hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc sự thần một thịnh.

Quỷ thần là việc u minh huyền viễn, cũng chưa dám chắc thế nào mà nói được. Nnưng xét hai chữ quỷ thần của Thánh hiền đặt ra, thần là gì? Thần nghĩa là thần diệu, quỷ là gì? Quỷ nghĩa là quỷ tàng. Chỉ là nói cái lẽ tạo hóa huyền diệu, lúc đương không tự nhiên hóa có, thế là khéo, cho nên gọi là thần khi đang có tự nhiên hóa không, thế là về, cho nên gọi là quỷ. Vậy thì nói cái lẽ như thế mà thôi, chớ không phải có quỷ thần thực. Và thánh nhân có dạy rằng: “Vị tri sinh, yên trì tả. Vị tri sự nhân, yên tri sự quỷ” nghĩa là sự sống còn chưa biết hết, đã biết thế nào được sự chết, việc ăn ở với người còn chưa xong, đã biết thế nào mà thờ quỷ thần. Cứ như lời ấy thì ý thánh nhân cũng không muốn cho người ta nói đến việc quỷ thần. Ngài nói rằng: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” nghĩa là quỷ thần vẫn kính nhưng phải xa đi mới được. Lời ấy thì lại có ý khuyên người ta không nên thờ nhảm.

Vả lại muôn sự ở đời, do ở sức người làm ra mới gọi là tài trí, nếu cứ cậy về quỷ thần thì sức người chẳng hóa ra hèn đốn lắm ru?

Xem như các nước Ầu châu, trừ ra thờ Giáo tổ là để tỏ lòng kỷ niệm, còn không có thờ đến thần thánh nào, không phải nhờ đến sức âm phù mặc hộ bao giờ, vậy sao mà nước nào cũng thịnh vượng, dân nào cũng phú cường. Mà Á Đông này thờ thần thành kính là thế, sao thần lại chẳng phù hộ cho giàu mạnh bằng các nưổc đó? Một lẽ ấy đủ làm chứng cho sự ta tin nhảm.

Thiết tưởng chỉ những miếu trung thần nghĩa sĩ và miếu những bậc đại anh hùng hào kiệt, thì mới đáng nên thờ. Mà thờ thì là để tỏ cái lòng kỷ niệm, chớ không phải thờ mà cầu phúc. Ta nên coi cái miếu đó như một tượng đồng của người Âu châu.

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

II.   VIỆC TẾ TỰ

Lễ sóc vọng – Mỗi tháng ngày sóc (mồng một) ngày vọng (hôm rằm), dân làng biện lễ oản chuốỉ, trầu rượu, đem tại miếu hoặc tại đình để lễ thần. Năm bảy người hoặc mươi, mười lăm bô lão trong làng mặc áo thụng vào lễ. Đoạn đem ra chia lấy một nửa làm cỗ kiến viên đế các lão hiện có tại đó uống rượu, còn một nửa chia mỗi người một miếng cho được quân chiêm thần huệ. Phần dẫu một miếng trầu, một miếng oản, một quả chuối, cũng phải phân minh. Nếu ngưòi đương cai lỡ ra làm thiếu của ai thì sinh ra hiềm khích, có khi đi kiện nhau cũng nên.

Ngoài sự lễ Phúc thần, làng nào có thần miếu khác ở trong xã phận, cũng thường phải biện lễ oản gà, hoa quả đến lễ.

Các tuần tiết – Mỗi năm về các tuần tiết như ba ngày chính đán, ngày Đoan dương, ngày Thượng nguyên, ngày Trùng thập v.v… và ngày hạ điền là ngày mới bắt đầu bước chân xuống ruộng, ngày thượng điền là ngày mới có gạo mới; ngày thuần húy, ngày thần đản là ngày sinh nhật hóa nhật của thần, các ngày ây đều có lễ, tùy tục làng và tùy năm phong khiếm, hoặc dùng bò lợn hoặc dùng gà xôi, nơi thì tế, nơi thì lễ. Lễ thượng điền, hạ điền về làng nào có ruộng mới tế lễ, mà nhiều làng chỉ tế lễ vào ngày hạ điền mà thôi. Lễ ấy có làng tế Phúc thần có làng chỉ lễ thần Tiên nông. Tục thường kén một ông bô lão hiền lành phúc hậu( mà hai vợ chồng còn sống toàn để làm lễ hạ điền. Nghĩa là ông ây phải xuống cấy vài nắm mạ trước, rồi từ đó trở đi cả xã mới cấy.

Tế kỳ phúc – Mỗi năm trong tứ thời hoậc hai kỳ Xuân, Thu có một tuần đại tế gọi là tế kỳ phúc, nghĩa là cầu cho dân được bình an.

Trước một ngày, làm lễ cáo yết, dắt trâu bò ra xem xét rồi đổ một chén rượu vào đầu trâu bò, gọi là tỉnh sinh. Tỉnh sinh rồi mới được giết thịt

Trước khi tế phải rước văn. Dân làng đem long đình cờ quạt, tài tử đồng văn và cắt một người viên chức đội mũ, mặc áo thụng đến tại nhà người điển văn (người coi việc tả văn tế) mà rước bản văn về đình.

Người tả văn cũng phải đội mũ mặc áo thụng đi theo sau long đình.

Vào đến cửa đình, người tế chủ phải ra tại cửa ngoài mà nghênh tiếp bản văn đem vào an trí trong nội hương án, đâu đấy mới tế.

Tế phải có một người làm tê’ chủ, kén người nào có chức tước ngôi thứ cao nhất trong làng mới được làm. Có làng thì lại kén người ngôi thứ cao mà vợ chồng song toàn, con trai con gái đề huề mới được làm tế chủ.

Hai người hoặc bốn người bô lão làm bồi tế. Bồi tế đứng dưới người tế chủ và cứ trông mà lễ theo.

Có hai người Đông xướng, Tây xướng đứng đôi bên cạnh cái hương án bày đài rượu để xướng lễ. Lại có hai người nội tán đứng đôi bên người tế chủ, để dẫn người tế chủ khi ra khi vào, và trợ xướng những khi tế chủ đã vào chiếu xong.

Còn phải mươi mười hai người nữa đứng hai bên vào chấp sự, hoặc dâng hương, hoặc dâng rượu, hoặc chuyển chúc đọc chúc vân vân.

Trước chỗ hương án trải bốn chiếu tế: thứ nhất là chiếu thần vị, thứ nhì là chiếu tế chủ thụ lộ, thứ ba là chiếu ngôi tế chủ, thứ tư là chiếu bồi tế.

Lúc gần tế, tự người tế chủ cho chí các người viên chức vào chấp sự, ai nấy đội mũ, mặc áo thụng, đi hia chỉnh tề, đứng sắp hàng hai bên. Đồng văn (người đánh trông) rung xong ba hồi trống tế thì người Đông xướng, xưổng: khởi chinh cổ, thì có hai người chấp sự đi hai bên vào chỗ giá chiêng giá trống, một ngưòi đánh ba hồi chiêng, một người đánh ba hồi trông, rồi mỗi bên đánh thêm ba tiếng nữa, mối vái một vái mà lui ra.

Kế đến xướng: nhạc sinh tựu vị, thì phường bắt âm tài tử kéo nhị, thổi sáo, gẩy đờn, gõ kiểng và bọn đồng văn đánh trống rầm rĩ lên một lúc mới thôi.

Kế đến xướng: củ soát tế vật thì hai người mỗi người cầm một cây nến, một người phủng cái đế cắm một bó hương, dẫn người tế chủ vào mãi nội điện xem xét đồ lễ, có được thành kính hay thiếu thứ gì chăng. Đoạn rồi trở ra, khi vào thì vào phía hữu, khi ra thì ra phía tả, lúc nào ra vào cũng vậy.

Kế đến xướng: ế mao huyết thì có một người cầm một cái đĩa đựng một ít tiết và mấy cái lông trâu bò đổ đi.

Kế đến xưống: chấp sự giả các tư kỳ sự thì người nào việc gì phải chăm chú để giữ việc ấy.

Kế đến xướng: tế chủ giữ chấp sự giả các nghệ quân tẩy sở thì người tế chủ và các ngưòi chấp sự đến cả chỗ cạnh hương án có để một chậu nưóc trên cái kỷ vào treo một cái khăn tay.

Kế đến xướng: quán tẩy thì người tế chủ rửa tay vào chậu nước. Lại xướng thuế căn thì người tế chủ lấy cái khăn ấy lau tay.

Kế đến xướng: Bồi tế viên tựu vị thì mấy người bồi tế bưốc vào đứng sắp hàng chiếu cuối cùng.

Kế đến xưống: Tế chủ viên tựu vị thì người tế chủ bước vào chiếu vị mình.

Kế đến xướng: thượng hương thì hai người chấp sự, một người phủng một cái lư hương, một người phủng hộp trầm đem đến trước mặt tế chủ, tế chủ lấy gói trầm bỏ vào cái lư rồi cầm lấy cái lư vái một vái, lại đưa cho ngươi chấp sự bưng vào đặt trên hương án gian giữa.

Kế đến xướng: nghênh thần cúc cung bái thì tế chủ và mấy người bồi tế đều lạy thụp cả xu ông, ngươi Tây xướng, xướng một tiếng hưng thì đứng dậy. Lễ xong bôn lễ xướng bình thân thì đứng ngay mình cho nghiêm.

Kế đến xướng: hành sơ hiên lễ thì là lúc dâng rượu lần đầu.

Kế đến ngươi nội tán xướng: nghệ tửu tương sở, tư tôn giả cử mịch thì tế chủ đi ra chỗ án để đài rượu và ngươi chấp sự mở cái miếng vải phủ trên mâm đài ra, Xướng chước tửu thì rót rượu. Kế xướng: nghệ đại vương thần vị tiền thì hai người nội tán dẫn người tế chủ lên chiếu nhất. Xướng quy thì tế chủ và bồi tế đều quỳ cả xuống.

Kế xướng: tiến tước thì một ngươi chấp sự dưng đài rượu đưa cho tế chủ vái một vái lại giao trả ngưòi chấp sự. Xướng hiến tửu thì các ngươi chấp sự dưng rượu đi hai bên đểu phải phủng cao đài rượu mà dưng vào nội điện.

Xong rồi trở ra. Xướng: hưng, bình thân, phục vị. thì tế chủ, bồi tế cùng phục xuống rồi đứng dậy, tế chủ lui ra chiếu ngoài.   ,

Kế Xướng: độc chúc thì có hai người chấp sự vào bàn trong phủng văn tê ra. Người nội tán xướng, nghệ độc chúc vị rồi lại dẫn tế chủ lên chiếu trên xướng đai quy thì tế chủ, bồi tế và hai ngươi phủng chúc đọc chúc đều quỳ cả xuổng. Xướng chuyên chúc thì người phủng bản văn đưa cho tế chủ cầm lấy vái một vái rồi đưa cho ngươi đọc chúc.

Xướng: độc chúc lần nữa thì người đọc chúc tuyên đọc bài văn tế lên.

Trong văn tế trước hết kể niên hiệu ngày tháng, kế nói đến tỉnh, phủ, huyện, xã, rồi liệt hết tên các tiên thứ chỉ, chức sắc, kỳ mục và các ngưòi lão hạng trong xã, kính dưng lễ vật cáo với thần vị nào, kê hết duệ hiệu và những mỹ tự của nhà vua phong cho thần.

Đọc xong, tế chủ lạy hai lạy lui ra chiếu ngoài. Kế dưng hai tuần rượu nữa: tuần thứ hai gọi là á hiến tế, tuần thứ ba gọi là chung hiến tế. Cách xướng lễ cũng như tuần trước.

Xong cả ba tuần rượu rồi thì xướng ẩm phúc, có hai người vào nội điện bưng một chén rượu và một khay trầu. Xướng nghệ ẩm phúc vị thì người tế chủ quay ra bước lên chiêu thứ nhì. Xướng quỵ thì tê chủ quỳ xuống, rồi hai người đưa chén rượu khay trầu cho ngươi tế chủ. Xướng ẩm phúc thì ngưòi tế chủ bưng lấy chén rượu vái một vái rồi uống hết ngay một hơi. Xướng thụ lộ thì tế chủ cầm khay trầu cũng vái rồi mới ăn một miếng. Nghĩa là thần ban phúc lộc cho thì phải uống ngay ăn ngay mới là kính trọng thần.

Đoạn lễ hai lễ rồi đứng dậy lui,ra chiếu ngoài.

Kế xướng: tạ lễ cúc cung bái thì tế chủ, bồi tế, cùng lạy tạ bốn lạy, xưống phần chúc thì người đọc chúc đem bản văn phóng hỏa đi.

Đến xướng: lễ tất là việc tế xong hết.

Trong khi tế, những lúc dâng rượu, lúc phần chúc, nhạc sinh đều phải cử nhạc. Đến lúc tế xong, dân làng theo thứ tự vào lễ, cũng có đánh trông gọi là trông lễ.

Lễ xong đâu đấy thì đem làm cỗ ăn uống vui vẻ với nhau.

Trong việc tế tự, có điển đốt hương là do tự Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục Tàu tế Tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn vối mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời vua Vũ Đế nhà Hán, sai tướng sang đánh nước Hồn Gia xứ Tây Vực (thuộc về vùng Ân Độ), vua nước ấy phải đầu hàng, dâng một thần tượng bằng vàng, đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến dê bò, chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Từ đó Tàu mới có tục đốt hương.

Nước ta có tục đốt hương chưa biết tự đâu nhưng ở Ngộ truyện có nói rằng: Trương Tân làm Thứ sử Giao Châu thường đốt hương ở nhà Cát Lập tinh xá để đọc đạo thư. Tục ta có lẽ khởi từ đó.

Còn như hiến đồ tế vật, ngoài Bắc Kỳ ta chỉ hiến rượu chứ không hiến các món đồ ăn, vì ta hay để toàn sinh mới là thành kính, ở về Nam Kỳ thì món đồ ăn gì cũng có hiến. Trong khi hiến rượu, người ta đi một cách rẩt khoang thai nghiêm trang. Ớ Nam Kỳ khi hiến rượu hiến đồ ăn thường có hai người đóng tuồng, mặc đồ nhung trang cầm nến đi trước; kế đến mỗi bên ba bổn con hát, áo mũ rực rỡ, mỗi ả cầm vài nén hương, vừa đi vừa đọc câu chúc hỗ rồi mới đến các người hiến rượu hiến đồ ăn đi sau. Mà cách đi thì rất kỳ ngộ: người nào mắt cũng nhưng nhưng, nháo nháo, nghiêng đầu nghiêng cổ, chân bên nọ đá chân bên kia, làm cho ai lạ mắt cũng phải phì cười, mà họ thì cho thế mới là đi vào kiểu.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

III.   NHẬP TỊCH

Trà nhập tịch – Làng nào mỗi năm cũng có một trà nhập tịch (vào đám), nhất là hay làm về tháng giêng, tháng hai. Hôm ấy là hôm bắt đầu vào tiệc hội hát, nhưng hội hát thì thỉnh thoảng năm nào phong đăng mới mở to, còn thường thường mỗi năm chiếu lệ làm sơ sài dăm bảy ngày cho chí mười ngày là cùng.

Lễ mộc dục – Trưốc một ngày nhập tịch, hoặc nửa đêm, hoặc buổi sáng, dùng lễ trầu rượu gà xôi cáo yết rồi dùng nước trong lau tắm thần vị, tắm xong lại lau phủ một lượt nưóc trầm hương, gọi là lễ mộc dục. Tắm rửa xong thì phong áo mũ đại trào hoặc bằng thực, hoặc bằng đồ giấy, đâu đấy tế một tuần, gọi là tế gia quan. Lễ vật thì tùy tục riêng từng làng hoặc dùng bò lợn, hoặc dùng gà xôi, có nơi chỉ dùng bảy quả trứng luộc mà thôi, nhưng thế nào cũng phải có trầu rượu.

Tế lễ xong, các bô lão viên chức ngồi giải toạ, hạ đồ lễ làm cỗ ăn uốhg, rồi đem chậu nước trầm lau thần vị khi nãy, đồng dân theo thứ tự trên dưới mỗi ngưòi nhúng tay vào chậu nước lau lên ‘mặt một chút, gọi là quân chiêm thần huệ. Còn cái khăn vải đỏ dùng đê lau thần vị thì xé ra mà biếu viên chức và chia mỗi người một mảnh con cho đều. Mảnh ấy gọi là cái mụn đỏ, ai được phần đem về đeo cổ hoặc buộc cổ tay cho con thì con được mạnh khỏe, khước lắm.

Đại tế – Hôm sau, rước thần vị ở miếu về đình giết trâu mô bò tế một tuần. Tế xong suốt thượng hạ trong xã đều được ăn uống.

Xướng ca – Tối hôm nhập tịch hoặc cách một vài hôm, dùng cỗ bánh cỗ xôi hay là cỗ nấu tế một tuần nữa. Trong khi tế mỗi tuần hiến rượu, có ả đào ra múa nhạc. Tê xong, đào kép hát chúc thánh mừng dân rồi thì hát thờ suôt đêm. Cả hàng xã đều ngồi giải tọa nghe hát, viên chức cắt lần nhau ra đánh trông chầu. Được nửa chừng, ông thủ chỉ gõ cắc cắc vào tang trông một hồi, gọi là gia tang thì hàng xã mới uống rượu. Trong khi uống rượu, ông thủ chĩ đánh ba tiếng trông tiêu cô (trông khẩu) thì đàn em trong làng, một người đứng dậy reo hoan thanh ba tiếng: “hi, hả, hả, hả hà… !” mỗi một tiếng reo thì cả dân đều họa lại một tiếng dài: “hi…” rồi thì pháo đốt, tù và thổi um lên một lúc, cách một giờ nữa lại reo sáu tiếng như thế, cách một giò nữa thì lại reo chín tiếng như thế, cả thảy ba lần reo thì mới tan cuộc rượu. Rượu tan rồi vẫn cứ hát, đến sáng hát bỏ bộ rồi mới thôi.

Tự hôm ấy trở đi, ban ngày thì chèo hát hoặc đánh vật hoặc đánh cờ bỏi, ban đêm thì xướng ca cho đến hôm xuất tịch (giã đám) mới tan.

Có làng dùng cách giản dị, từ hôm nhập tịch trở đi, mỗi tối chỉ dùng trầu rượu làm lễ túc trực, mấy người bô lão ra lễ, ngủ tại đình để chầu chực nhà Thánh. Đến hôm xuất tịch, mới dùng cỗ bàn tế một tuần xướng ca một đêm gọi là chiếu lệ mà thôi.

Giao hiếu – Trong mấy hôm nhập tịch, các thôn xã gần nhau, hoặc 2, 3 xã, hoặc 5, 7 xã cùng thờ một vị, thì rước lẫn sang nhau, gọi là rước đánh giải, trước là lễ thần, sau là giải tọa uống rượu nghe hát, để tỏ tình hiếu với nhau. Cũng có nơi mỗi xã làm chủ một năm, các xã lân cận rước lại cả xã ấy mà hội tế. Cũng có nơi cách xa tổng khác huyện khác .mà cũng thờ một vị thì cũng rước giao hiếu với nhau.

Cơm quả, cơm quan viên – Khi xã này rước sang xã khác, các người đi rưóc thường làm sẵn một mâm cơm lịch sự, đựng vào cái quả đỏ cho người đem sang đám rước, gọi là cơm quả. Những viên chức thì đã có đương cai sửa năm ba mâm, nấu đồ ngũ trân bát vị, đủ các thứ bánh đường bánh ngọt, gọi là cơm quan viên. Khi rước sang đến xã khác rồi, lễ thánh đâu đấy thì nghỉ ngơi ra ăn uống. Thường dân trải chiếu cạp đỏ ra bờ đê bờ ruộng hoặc chỗ dưói gốc cây bóng mát mà ngồi, viên chức thì tìm kiêm chỗ sạch sẽ lịch sự, hoặc trong nhà tả mạc, trải chiếu ngồi ăn tiệc với nhau. Ăn uống đâu đấy, mới vào đình giải tọa nghe hát.

Khoản đãi – Cỗ bàn khoản đãi làng giao hiếu, hoặc dùng cỗ mặn (có thịt trâu thịt bò) hoặc dùng cỗ chay. Nhưng thường dùng cỗ chay nhiều hơn. Mỗi cỗ có một đĩa mía, một đĩa lạc luộc, một đĩa mứt, một đĩa trám, mơ, nhót, dừa v.v… Trong khi uống rượu, xã sở tại phải cử người mặc áo thụng ra mời mọc rất là cung kính, mà mời hạng người nào thì phải cử hạng người ấy, ví như mời hạng bô lão thì cử ngưòi bô lão, mời viên chức thì cử người viên chức v.v… Ngồi giải tọa một lúc, reo hoan thanh ba lần (lần trưốc ba tiếng, lần thứ nhì sáu tiếng, lần thứ ba chín tiêng), rồi mới tan.

Các làng giao hiếu, thường hay câu nệ giữ lễ phép vối nhau từng tí. Nếu hơi sai lệ một chút hay là sơ ý một điều gì thì hạch lạc nhau ngay, tức thì giận dỗi đứng dậy. Có khi xã nọ xã kia ganh tị nhau, mà sinh sự đánh nhau đến vỡ đầu sứt tai.

Lễ nhập tịch này cũng đồng ý nghĩ với cách ăn Têt đầu năm, nghĩa là dân mình khó nhọc vất vả quanh năm, thì phải có một dịp ăn uống vui chơi cho giải trí. Vả lại khi xưa nước ta chưa có giao thiệp với ngoại quốc, chỉ có thông thương với nước Tàu ít nhiều, mà cũng không có cách nào cho vui chung. Vậy mới nhân cái tục sùng thượng quỷ thần, bày ra trò này trò nọ, nhưng rút lại chỉ để cầu vui mà thôi.

Tuy vậy mỗi thời một khác, ngày xưa làm nhiều, ăn tiêu ít, dư tiền dư thóc. Bây giò đã mở mang, khắp hoàn cầu toàn là đường đất thông thương, nếu trí khôn ngoan kém đi chút nào là lợi quyền hao hụt đi chút nấy, mà cách ăn tiêu bây giờ lại tôn kém gấp trăm gấp mười khi trước. Người canh nông buôn bán, kiếm được đồng tiền rất khó khăn. Ngưòi đi làm thuê làm mướn, kiếm được đồng nào tiêu hết đồng ấy, mấy người có mà đê dư.

Vậy mà ta không biết xoay đổi cách khác, cứ giữ lối cổ mỗi năm trong việc sự thần tổn phí biết bao. Tuy vậy việc ấy cũng tùy làng phong kiệm, tùy năm được mùa mất mùa, có khi gia có khi giảm, nhưng giảm được ít nhiều chớ chưa thấy đâu bỏ được lệ gì. Con em ngoài sự sưu sai thuế má, lo lắng việc cửa việc nhà, lại lo về gánh vác đóng góp với làng xóm công kia việc nọ, một đồng một tốn, tính dồn lại kể biết chừng nào, trách nào mồ hôi nước mắt quanh năm, mà xơ xác vẫn hoàn xơ xác.

Xét ở luật lệ bản quốc “trong làng hát xướng thờ thần chỉ được phép làm một ngày một đêm, nếu làm quá thì lấy luật vị chế mà luận tội”. Đã có luật cấm như thế sao không thấy mấy nơi tuân hành được?

 

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

IV.   ĐẠI HỘI

Mở hội – Nhập tịch thì đệ niên năm nào cũng phải có, còn Đại Hội thì năm mười năm hoặc năm bảy mươi năm mới mở một lần. Nghĩa là khi nào hòa cốc phong đăng, dân gian làm ăn thịnh vượng mới dám hội, hoặc là khi nào được sắc phong của thần, hoặc là khánh thành việc làm đình làm miếu, cùng là việc gì là việc mừng chung của làng thì mới hội.

Đại hội tức cũng là nhập tịch, chỉ khác nhau nhập tịch thì dùng cách sơ sài, mà đại hội thì dùng trang sức thêm nhiều cách vui vẻ và ăn chơi hàng tháng mới thôi.

Nước ta, mỗi làng thờ thần là có sự tích riêng, mở hội thì làng nào theo sự tích làng ấy, nhưng đại khái cũng chẳng khác bao nhiêu.

Sửa sang – Làng nào mở hội, trước hết phải sửa sang đình miếu, chỗ nào nát thì tu bổ lại, chỗ nào cũ kỹ thì lau rửa sơn vẽ lại, tường thì quét vôi cho sạch sẽ, đồ thờ đồ phụng thứ thì sắm mới, thứ thì sơn thếp, cờ tàn rách thì may khác. Cửa đình cửa miếu treo đèn, kéo một lá cờ rất to, đường cái trong làng trồng cột đèn đôi bên, mỗi cột kéo một cái đèn lồng.

Về phần tư gia thì sắm may sắm mặc, nhất là những ngươi phải vào chân cai kiệu cai cờ, hoặc ngươi nào vào chân con cờ, con trai sắm quần sắm áo, con gái sắm hoa sắm hột, sắm vòng sắm nhẫn, trẻ con ngươi lớn, ai ai cũng sắm một bộ đồ đi hội.

Luyện tập – Trước nửa tháng hội, ai vào việc gì phải luyện tập việc ấy. Cai đồng văn mỗi tối dạy cho đồng văn tập đánh trống. Đánh trống có 3 điệu:

Trống rước, điểm trong khi rước xách.

Trông đổ hồi, điểm những khi rước đến cửa đình, cửa miếu, và khi sắp nghỉ tiếng trông.

Trống tế, điểm trong khi tế tự.

Cai kiệu thì mỗi ngày hội tụ các người đô tùy (trai khiêng kiệu) tụ họp tại đình để tập khiêng kiệu. Người cai cầm cái trông khẩu dẫn kiệu đi. Đánh trống có hai nhịp: một nhịp 3 tiếng, một nhịp 6 tiếng. Trong khi đi thì điểm tiếng khoan hòa. Khi lớp đô tùy khác vào thay, hoặc khi đổi vai, hoặc khi lên cao xuống thấp, hoặc khi xoay ra xoay vào, khi bò khi cúi, đều có trông nhịp để đô tùy đi cho đều.

Cai cờ cũng phải hội tụ tướng cờ quân cờ tại đình mà luyện lập. Tướng cờ nam cầm quân cờ nam, tướng cờ nữ cầm quân cờ nữ. Cai cờ nam cầm trống, cai cờ nữ cầm thanh la để ra hiệu cho quân cờ. Khi ngồi khi đứng, khi ra khi vào, khi tiến khi thoái, khi sắp hàng khi vào lễ, đều có phép tắc có thứ tự, chỉ nghe tiếng trống tiếng thanh la làm hiệu.

Trong khi luyện tập, ngưòi cai thường phải trầu nước cơm rượu khoản đãi cho đàn ’em, cho nên phải kén ngưòi nào giàu có mới bầu làm được cai cờ cai kiệu.

Luyện tập đâu đấy, thí nghiệm trưóc một hôm, dùng đủ đồ nghi trượng như khi rước thực, đi suốt trong làng rồi về đình, quan viên cũng áo mũ tập tế, gọi là hôm vào nghiễm, nghĩa là thử xem nghi vệ đã chỉnh tề đâu đây cả chưa, kẻo về sau lầm lỗi thiên hạ chê cười.

Rước nước – Trước khi vào đám một ngày, dùng đủ đồ nghi trượng đi rước nưóc. Rước nước là tìm gần miền có giếng nào trong sạch, thì đến tại đó mà lấy nưốc về.

Hoặc lấy nước ở hồ sông thì bơi thuyền ra giữa dòng mà lấy. Lấy nước xong rước về miếu, để dùng nước ấy tắm rửa thần vị và đế dùng làm nưốc cúng.

Gia quan – Đêm hôm ấy thì làm lễ mộc dục (đã nói ở mục nhập tịch), đoạn rồi làm lễ gia quan. Gia quan chỉ các người cai kiệu và các người đô tùy mới được vào. Các ngươi ấy phải chay sạch từ mấy hôm trước, đến lúc vào phòng áo mũ, mỗi người phải bịt cái khăn tay vào miệng, sợ hơi trần xông tới Thánh cung thì là bất kính.

Phong áo mũ đai mãng đâu đấy, an phụng lên long kiệu, tế một tuần rồi chờ đến tang tảng sáng thì rước về đình.

Phụng nghênh hồi đình – Hôm ấy phàm bao nhiêu ngươi dự vào việc rước xách, đều phải trai khiết, ăn mặc đồ mới, đồ tốt. Người thủ hiệu (ngươi đánh trông cái) phải gióng trống từ đêm, để ai nấy vào việc gì sắp sẵn mà đi rước. Đến sáng sắp rưốc từ cửa miếu trở đi. Ngươi thủ hiệu nổi trống thì tài tử đồng văn nổi nhạc điểm trống, pháo đôt đùng đùng một lúc thì các đô tùy rước long kiệu ở trong miếu ra.

Rưốc long kiệu ra đên cửa tam quan thì phải đứng lại chờ cho các xã giao hiếu đến đủ, sắp hàng đâu đấy để rước giúp, rồi mới nhúc nhích đi, có nơi phải chờ làng giao hiếu đem đô tùy đến thay vai kiệu, giở vài ba lần rồi mối đi.

Trong khi rước đi, các xã rưốc giúp, xã nào là đàn anh (xã nào thờ vị thần lớn hơn hay là dân xã to hơn thì là đàn anh) thì đi đầu tiên, kế đến các xã khác theo thứ tự lần lượt mà đi, cuối cùng đến chính xã mở hội.

Nghi trượng đại để xã nào cũng vậy: trước hết có đôi cờ tuyết mao, có năm hoặc bốn lá cờ đuôi nheo, hoặc cờ vuông bằng vóc bằng giạ, mỗi lá một sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen gọi là cờ ngũ hành. Bốn lá xanh, đỏ, trắng, đen thì gọi là tứ phương, kế đến bốn lá cờ tứ linh thì mỗi lá thêu một giống là long, lân, qui, phụng hoặc tám lá cờ Bát quái thì mỗi lá thêu một chữ: kiền, khảm, cấn, chấn, tôn, ly, khôn, đoài.

Những ngươi cầm cờ, đội nón dấu (nón lính của ta khi xưa) thắt lưng bó que, hoặc là mặc áo lậu, mỗi người đeo một cái cối gỗ con ở trong ngực để đỡ đốc cầm cờ cho nhẹ.

Cờ đi khỏi một loạt thì đến trống cái, có hai ngươi khiêng, một ngươi che lọng và có một người ăn mặc lịch sự cầm cái dùi con tiện đánh trống, gọi là người thủ hiệu. Trống rồi đến chiêng cũng vậy, mỗi một tiếng trông thì lại điểm một tiếng chiêng, có nơi chiêng trông làm xe kéo thì không phải người khiêng cũng tiện.

Kế đến voi rút mây, hoặc ngựa gỗ (có làng có, có làng không) thắng bành thắng cương như voi ngựa thực, cho trẻ con kéo. Voi ngựa cũng có tàn hoặc lọng; đế che mà chỗ xe ngựa thì có một người vác siêu đao đi kèm.

Kế đến hai ngươi cầm hai cái tán đi đôi bên, hoặc đi khoảng giữa thì mỗi người đi cách xa nhau một ít.

Kế đến các người chấp kích: nào là gươm trường, nào lát bát bửu, dùi đồng, phủ việt, tay văn, tay võ, biển tinh túc, biển hồi tỵ, ở giữa thì một người vác một biển bồ dục, đề mây chữ “Thượng đẳng tối linh” hoặc để chữ “Lịch triều phong tặng”. Người cầm biển ấy phải mặc áo thụng, có lọng che.

Kế đến là phường đồng văn, một vài người cai cầm trống khẩu, một người cầm thanh la, hai người đội nón dấu thắt lưng bó que, cầm sinh tiền: bảy, tám đứa mặc áo nẹp đỏ, mỗi đứa đeo một mặt trông bản ngang lưng, có đám lại thêm hai đứa con trai ăn mặc giả dạng con gái, mỗi đứa đeo một cái trống cơm gọi là con đĩ đánh bồng. Hễ trống khẩu, thanh la, sinh tiền khởi lên thì trống bản hoạ lại. Hai con đĩ đánh bồng thì vừa đập trổng vừa múa có nhịp nhàng, có khúc có điệu. Có nơi dùng điệu cà rồng (điệu trống hành quân khi xưa) thì một người điểm trống lớn, năm, bảy mặt trổng nhỏ hoạ lại. Kế đến một người mặc áo thụng cầm lá cờ vóc thêu chữ lệch gọi là cờ vía, có lọng vàng che, cờ ấy tức là cờ tướng lệnh của thần, tôn quí lắm.

Kế đến ba người đội nón dấu, thắt lưng bó que, mỗi người cầm một thanh gươm cẩn, gọi là gươm dàn mặt cũng là lệnh kiếm của thần.

Kế đến bọn tài tử độ bảy tám người, người thì thổi sáo, người thì gảy đàn, người thì kéo nhị, đánh tiêu, gõ cảnh, gẩy đàn tam, thổi kèn v.v…

Phường đồng văn thì quanh đi quẩn lại có ba nịp trống, phường bát âm thì quanh đi quẩn lại cũng có hai điệu lưu thủy ngũ đối, tự xưa đến giờ chưa hơn ít nào, nghe chán tai lắm.

Kế đến là long đình. Trên long đình bày đồ hương hoa, mâm ngũ quả. Có bốn người đô tùy đi kèm ngoài để phòng khi thay đổi, có hai người cầm trống khẩu hoặc cầm cảnh đi trước mặt long đình gióng hiệu. Cai và đô tùy mỗi người đeo một tràng hoa bưởi hoặc là mạng hương cho được thơm tho. Chung quanh long đình có tàn, có quạt, có lọng, có vải che kín rất là tôn nghiêm.

Mỗi một đoạn có long đình thì lại có một đoạn nghi trượng như thế. Sau cùng lại có một đoạn nghi trượng khác rồi đến long kiệu. Long kiệu phải có một bộ đô tùy tám người khiêng và tám người đi kèm ngoài, phòng khi thay đổi. Mỗi bộ có một người cai cầm hiệu. Năm bảy xã rước chung thì xã nào là đàn anh mới được cắt đô tùy để rước giúp.

Có xã thờ nhiều vị thần thì rước nhiều kiệu, như làng Nhật Tân rước bảy kiệu, làng Đình Bảng rước tám kiệu v.v…

Kiệu rước thánh ông thì đô tùy đàn ông, kiệu rưốc thánh bà thì đô tùy đàn bà. Cai và đô tùy, mỗi người cùng đeo vài ba cái mạng hương.

Đô tùy kiệu thắt lưng bó que, cai đội mũ. Có nơi đô tùy đầu đội mũ, mình đóng khố, quàng một mảnh nhiễu điểu hoặc vải đỏ ngang vai, che kín cả mình, cạnh khố lại đeo một cái quạt tàu, một cái túi đựng trầu, đựng thuốc, gọi là khố bao khăn vắt. Điển ây là vì khi xưa thần đi đánh giặc lội qua sông cho nên chiếu điển mà làm như vậy.

Đằng sau kiệu thì là các bô lão, các viên chức trong làng, mặc áo thụng đi hộ giá. Ai có một chút phẩm hàm mặc cái áo có bố tử, che cái lọng xanh, có vài đứa đầy tớ cắp điếu tráp đi hầu để ra người danh diện.

Long đình và kiệu có khi biết bay, nghĩa là những khi người khiêng hoặc người đi xem ngoài đông quá, xô đấy nhau không kìm giữ cho xuể, rồi mỗi người đi mau một bước, thành chạy chúi ra bên cạnh đường, hoặc chạy rẽ ngược, chạy rẽ xuôi. Tục thì tin là Thánh mừng hoặc giận mà bay, đổ xô nhau vào khấn, cũng khí nực cười.

Kiệu rước đi qua núi, khi lên khi xuống phải bò. Lúc bò thì các đô tùy xúm quanh đõ lấy, lên xuống rất êm, dẫu lấy bát nước để trên kiệu cũng không đổ được.

Rước đi đường xa phải có chỗ trí kiệu, để cho người đi trước nghỉ ngơi ăn uống, đoạn rồi lại rước đi.

Đám rước to thì có phường tuồng vẽ hề đeo mặt nạ đi đón đường. Có đám dùng điển tích mà rước, như làng Yên Lãng rước qua đền Đại Điên thì chỉ có bắn pháo thăng thiên vào trong đền để tỏ sự báo thù; tổng Phù Đổng thì dùng hai mươi tám người con gái đóng tướng để ghi sự đánh giặc v.v…

Rước xong về đến đình thì tế lễ. Lễ phải có thứ tự, người chức tước lễ trước, rồi đến các bô lão, các viên chức, kế đến các đô tùy kiệu, đô tùy long đình, các con cờ rồi đến các người chấp kích, sau hết đến phường bát âm, phường đồng văn, còn nữa cứ xô nhau mà lễ, có người chen không được đứng ngoài sân mà lễ vào.

Bọn đô tùy, bọn con cờ, bọn bát âm, bọn đồng văn, mỗi bọn lễ một cách riêng. Hoặc sắp hàng hai, hoặc sắp hàng tư hoặc sắp hàng chữ nhất, cứ theo tiếng’ trông của hai người cai mà tiến thoái. Bọn con cờ thì thường sắp làm hai hàng một bên trai một bên gái, ra vào có điều độ nhịp nhàng. Có con cờ lễ sắp hàng thành bốn chữ “thiên hạ thái bình” coi cũng ngộ.

Tế lễ hát xướng – Từ hôm sau trở đi, mỗi ngày một lần đi rước văn tại nhà điển văn và rước cỗ xôi hoặc cỗ bánh hoặc tam sinh tại nhà đăng cai đế về tế, tế tất thì hội ăn uống với nhau. Ban ngày bày đủ các trò vui, ban đêm thì hát chèo, hát ả đầu, khi tế cỗ chay, khi tế cỗ mặn, tùy tục riêng từng làng.

Bách hý – bách hý là các trò vui, mỗi trò đều có treo giải thưởng, giải treo nhiều ít tùy từng làng, nhưng giải nào cũng có phân làm hai, ba hạng. Giải thưởng hoặc tiền hoặc nhiễu, hoặc quạt tàu, chè tàu v.v… Hạng nhất thì được giải to, hạng kém thì được giải nhỏ, còn kém nữa thì gọi là giải hàng.

Các trò thì nơi dùng trò này, nơi dùng trò khác, nhưng đại khái các trò chơi như sau này:

Hát bội – Hát bội có rạp, hoặc bắc giàn dưới gốc cây to; hoặc hát tại nơi đình điếm. Phường hát bội độ chừng mười một, mười hai người, một vài anh đánh trống đánh phách, một vài anh vẽ hề đóng tướng, cũng dùng điển này tích nọ ra trò, mà nhất là hay pha tán nhảm, làm cho thiên hạ nực cười, ở ngoài có một người viên chức cầm trống chầu, hễ hát câu nào hay hoặc pha câu nào vui thì cắc một tiếng. Phường nào hát giỏi được thưởng nhiều, phường nào hát dở được thưởng ít, có khi hát khoán cứ mỗi buổi tối là mấy đồng bạc gì đó.

Hát tuồng – Hát tuồng hát bội chỉ khác nhau là hát tuồng thì hát một cách nghiêm chỉnh, người nhiều đồ tốt ít tán nhảm, thường dùng những điển tích đánh nhau như điển: Tam quốc, Bình đông, Bình Tây v.v…

Trò quỷ thuật – Quỷ thuật có nhiều cách làm cho kình nhân nhĩ mục. Ví như một chậu nước không, bọn ấy phù chú một lúc, rồi thả câu vào giật lên được cá. Lại như một cái chén không, họ trùm mảnh vải lên cái chén ấy một lúc mở ra có đầy chén rượu. Lại như họ úp một cái bu không, trùm vải kín, phù chú một lúc, mở ra thành đầy một bu chim. Lại như họ leo dây múa rối, dùng một sợi dây to buộc trên lưng chừng hai cái cột tre, căng đầu nọ đến đầu kia, dài độ mươi thước rồi một người tay cầm cái sào đi trên sợi dây ấy, vừa đi vừa múa, miệng thì hát, có khi vừa đi vừa tung ba con dao, hoặc ba quả lăn.

Đại để thuật này này thuật Tả Từ đời Tam quô”c.

Trò dưới nước – Bắc rạp dưối nưốc, phường hát ngồi trong rạp trông phách hát hỏng, một người đứng dưới nước cầm máy, làm cho các người gỗ đi chạy trên mặt nước, hoặc đánh nhau, hoặc làm hai con rồng chọi nhau, hoặc làm ông Lã Vọng câu cá, có cá nhảy ra đớp mồi, giật lên được cá.

Hát quan họ – Hát quan họ là một bên trai một bên gái, hát đối đáp với nhau, như kiểu hát trống quân, tục này ở vùng Bắc Ninh hay có.

Bắt bài – mười hai hoặc mười tám, hai mươi bốn ả đầu mỗi đứa mặc một màu áo, hoặc xanh hoặc đỏ, đầu đội mũ cài trâm, thắt lưng ra ngoài, mỗi vai cầm một cái đèn bóng, tay múa miệng hát, lượn đi lượn lại, có nhịp, có nhàng.

Múa bông – Phường múa bông có nhiều cấp: Một cấp là đầu họ đội chếch một cái đèn, nhảy lên nhảy xuôg, khi nghiêng khi ngả, tay thì múầ miệng thì hát mà đèn vẫn không đổ được. Một cấp là họ dùng một cái chai để nằm ngang trên đầu cái que, trên cái chai lại để một cái trứng gà, rồi họ chông cái que ấy lên mũi mà múa, mà chai và trứng gà không đổ. Một cấp nữa là họ để úp một cái đĩa lên đầu cái que, rồi họ quay cho cái đĩa cứ xoay tròn trên đầu que, thỉnh thoảng tung lên tung xuống mà đĩa không đổ. Một cách nữa là miệng họ ngậm một cái chân bàn (bàn viết nhỏ của ta) để hơi chếch ngược một góc, rồi hai tay họ cắp nách, lượn đi lượn lại được.

Trò ấy ở Nam Kỳ thường có.

Tổ tôm điếm – Làm một cái rạp thực rộng, trong rạp năm góc có năm điếm, ở khoảng giữa là chỗ chia bài, có giá cầm bài nọc. Mỗi điếm cũng có một cái giá cầm bài. Một người hoặc hai ba ngưòi chung nhau một điểm, đánh to đánh nhỏ, tùy hẹn ước với nhau. Đánh bài có trống có đồng la làm hiệu, có đầy tớ chạy bài, ăn cây bài, hoặc dậy khàn, dậy thiên khai, hoặc ù, đều có hiệu trống riêng, ví như ăn thì đánh một tiếng, phỗng thì đánh luôn hai tiếng, dậy khàn thì đánh ba tiếng, dậy thiên khai thì đánh bốn tiếng, ù thì đánh luôn một hồi, không ăn thì đánh một tiếng đồng la, còn xem chưa chắc rằng ăn hoặc ù hoặc phỗng hay không thì đánh một tiếng tùng một tiếng cắc v.v… Hễ đánh sai tiếng trống thì dù ù cũng không được ăn tiền, mà còn nhiều khi phải đền.

Ai ù được luôn ba ván đầu gọi là liên tam tiệp hoặc ai ù được chi chi, bạch định, thập hồng thì làng có giải thưởng. Người được giải thì đốt pháo ăn mừng.

Bài phu điếm – Bài phu cững có rạp như tổ tôm điếm, nhưng chỉ có bốn điếm mà thôi. Cách đánh cũng lấy tiếng trống tiếng đồng ra làm hiệu, ai đổ lớn cũng có giải thưởng nhưng không vui bằng tổ tôm.

Cờ người – Cờ người mỗi bên có mười sáu quân là môi bên có một tướng, hai sĩ, hai tượng, hai xe, hai pháo, hai mã, năm tốt, bàn cò vẽ giữa sân đình, hai bên có hai cái rạp để chỗ cai cờ ngồi. Trước mặt cai cờ dàn bày rất nghiêm chỉnh. Mỗi nước cờ có một cái ghế để cho tướng cờ và quân cờ ngồi. Tướng và quân, bên trai bên gái mỗi bên mưòi sáu ngưòi, cất toàn trạc mười hai, mười ba tuổi cho chí mười tám, hai mươi tuổi là cùng. Bên cờ trai mặc toàn một sắc áo, bên cờ gái cũng mặc toàn một sắc áo, ai vào quân gì phải cầm một cái biển quân cờ ấy, cái cờ sắp thành hàng rồi thì để cho thiên hạ vào đánh.

Ai muôn đánh cờ, trước phải khảo chịch, hễ cao cờ mới được vào đánh. Trước khi đánh, mỗi bên mỗi người cầm lá cờ nhỏ vào lễ thần, rồi trở ra mới đánh. Ai đi nưốc nào thì phất ngọn cờ mà chỉ vào con cờ, con cờ phải theo ngọn cờ mà đi. Mỗi bên có một vài đứa nhỏ cầm trống cầm đồng la để giục người đánh cờ, hễ ai chậm đi thì chúng nó khua trống khua đồng la vào mang tai cho rối trí lại.

Phía trong có dân làng cầm chịch, ai đi nhầm một nước cũng là thua.

Ai đánh được thì được giải thưởng, ai thua thì có kèn trông rước ra, nghĩa là làm cho sỉ nhục, coi như đưa. ma người chết vậy.

Hôm cuối cùng là hôm phá giải cờ, ai giữ được giải đến hôm ấy thì có thưởng to.   ‘

Thiên hạ lắm kẻ vì đánh cờ thua xấu hổ sinh thù, cho nên có làng ai được cờ thì phải cho tuần đưa về đến tận nhà.

Cờ hỏi – Xã nào to thì mở cò người, xã nào nhỏ thì mở cờ hỏi. Cờ hỏi thì viết con cờ vào đèn lồng, hoặc làm như hình cái thẻ mà cắm vào nước cờ, ai đánh thì xách đèn mà đi hoặc rút thẻ mà cắm, cũng có giải thương, nhưng không vui bằng cờ người.

Đánh vật – Đánh vật phải là phường đô vật mới đánh được, có miếng có mẹo, phải luyện tập từ trước, khi vào vật mỗi người đứng mỗi bên, hai bên đều cởi trần đóng khố. Có ngưòi cầm trống; hễ nghe trống mới được vào vật. Thoạt mới vào thì đôi bên còn vờn nhau từng miếng rồi lăn vào bá cổ nhau, anh thì kéo cẳng, anh thì nắm khố, một hồi lâu, ai ngã nằm xuổng dưới thì thua. Dân làng hồi trống thì đôi bên đều phải buông nhau ra, cùng vào lễ tạ trưốc sân đình rồi ai được thì lĩnh thưởng.

Đốt cây bông – Cây bông bằng thuốc pháo, nhưng người làm có khéo chế thuốc thì khi đốt mới đẹp. Lúc đốt, trước còn bắn ra hoa cà, hoa cải, kế đến có những pháo thăng thiên nổ ra cả màu sắc, rồi thuốc chạy đi chung quanh, lúc thì thành ra hình chú tiếu leo cây cau, vịt lặn, lúc thì thành ra hình bốn chữ “thái bình thiên hạ”, cũng là một xảo thuật của ta vậy.

Bơi chải – Gần hồ hoặc gần sông thì thi bơi chải, năm sáu chiếc thuyền hoặc mươi chiếc, họ hay làm đầu rồng đuôi tôm bằng giấy để trên đầu thuyền và dưới đuôi thuyền, gọi là thuyền rồng. Mỗi thuyền độ chín, mười người cầm một cái bơi chèo, và có một ngươi đứng đuôi thuyền cầm lái. Người thuyền nào mặc áo sắc riêng thuyền ấy. Giữa sông hoặc giữa hồ có cắm một lá cò và treo một bánh pháo. Thuyền sắp đều một hàng. Có người cầm trống, hễ nghe mấy tiếng trống hoặc phất cờ thì đua nhau mà bơi. Thuyền nào bơi mau ra chỗ cắm cờ, đốt bánh pháo, nhổ được lá cờ đem vào thì được giải.

Chọi trâu – Tục chọi trâu ở vùng Hải Dương thường có. Chung quanh phải bắc gióng cho trâu khỏi xổng ra ngoài. Khi chọi thì hai người dắt hai con trâu đực đến cho nó húc nhau, con nào được thì người chủ được giải.

Chọi gà – Người chọi gà cũng lắm công phu. Trước khi đem đi chọi, nào vỗ về, nào nắn bóp, nào trưòm mào, nào mài ngựa, lại phải luyện tập cho nó có can đảm. Khi đánh chọi, đã vẽ một cái vòng, hễ con nào chạy ra ngoài là thua. Giống gà chọi thường ham đánh nhau, có khi chọi nhau đến chết mới thôi chứ không chịu chạy. Người có gà chọi, ngoài cái giải của làng, thường lại đánh cuộc với nhau to lắm, có khi cuộc đến hai, ba trăm bạc.

Chọi chim – Chọi chim thường chọi bằng chim họa mi, mở cửa lồng cho hai con mổ nhau, mỗi một cái mổ là một nước, con nào mô nhiều nước hơn là được giải.

Tục này ở thành phố Hà Nội hay có cuộc cũng to.

Thả chim – Thả bằng chim bồ câu, hội nào có cuộc thả chim thì tứ xứ đem đến thả. Đàn nào bay cao nhâ’t là được giải. Mỗi com chim, họ buộc một ổng sáo nhỏ, khi chim bay kêu ve ve cả lên. Chim bồ câu này rất khôn dẫu ở đâu xa đem đến thả, nó bay cao rồi nó cũng bay về nhà nó, cho nên quân gia thường dùng để thông tin.

Thả diều – Diều làm bằng giấy, mỗi cái diều cắm hai ba cái sáo nhỏ gọi là sáo còi, to gọi là sáo cồng sáo chiêng. Lúc thả một người cầm dây vừa chạy vừa giật, hễ diều nào bay cao hơn thì được giải.

Cây đu – Chôn ba cụm tre chụm đầu làm một, treo cây đu tự trên giòng xuông, ở dưới có bàn đạp. Ai muôn đánh đu thì chân đứng vào bàn đạp, hai tay nắm hai bên đu mà rún rẩy, đưa mình lên trên không. Lại có một thứ đu nữa gọi là đu bát tiên có tám khung, mỗi khung có chỗ ngồi, hễ đủ tám người ngồi thì đu quay tròn đi, hình như cái chong chóng vậy.

Đáo đĩa – Họ thường cắm mấy cây nứa ở dưới nước cạnh bờ sông bờ ao, trên giải một cái nia, quây cót chung quanh mà để hở mặt trước cửa. Trên nia kê chếch một cái đĩa, rồi treo giải độ vài tiền kẽm ở đó. Trẻ con đứng trên bờ ném từ đồng kẽm vào đĩa, tợ hồ đánh đáo, hễ đồng tiền trúng vào nằm trong đĩa thì được giải, không thì mất.

Leo cột – Cột dài độ mười lăm, mười tám thước, trên nhỏ dưới to, bào thật nhẵn, lại bôi mỡ cho trơn. Trên đầu cột treo giải, hoặc vuông nhiễu, hoặc con vịt, hoặc cái quạt tàu, ai trèo lên đến nơi giật giải đem xuống thì lại được thêm giải khác nữa

Bịt mắt bắt dê – Làm một cái chuồng rộng, chung quanh bắc gióng cho dê khỏi chạy ra ngoài. Trong thả độ dăm bảy con dê, mỗi chỗ đào một cái hố, và bỏ ngổn ngang các đoạn chuối. Ai vào bắt dê phải bịt mắt cho kỹ, cứ nghe tiếng dê đuổi mà theo bắt, thỉnh thoảng vấp phải đoạn chuôi ngã, hoặc sa vào hố thì thiên hạ lại cười ầm lên, ai bắt được con dê nào thì cho.

Quàng vai bắt chạch – Chạch thả vào chum hoặc vào vại rồi hai người, một người đàn ông một người đàn bà, mỗi người một tay quàng vai nhau, còn mỗi người một tay thì thò vào chum hoặc vại mà bắt chạch. Chạch trơn khó bắt mà đàn ông đàn bà quàng vai nhau, thiên hạ lấy làm thích.

Nhảy bị – Người đứng vào trong bị, buộc thắt miệng bị lại rồi nhảy đi. Hễ nhảy thì lại ngã lăn quèo ra, thiên hạ cười ầm cả lên, ai nhảy không ngã thì được giải.

Thổi cơm thi – Có nơi đến ngày hội thì thổi cơm thi. Mỗi người bắc một cái bếp, một cây tre non, và một con dao, vừa vót tre vừa thổi, lấy tre ấy mà đun bếp, hễ ai thổi chín trước thì được giải. Lại có nơi vừa ăn mía vừa thổi cơm, lấy bã mía mà trở bếp.

Còn nhiều cách chơi nữa như bắt lợn, bắt vịt, thi chạy, kéo co, chui qua thùng nước v.v… Nói rút lại thì toàn là trò chơi cho thiên hạ vui cười mà thôi.

Tuyên lời khánh chúc – Các làng mở hội, thường có một cuộc tuyên lời khánh chúc. Lời khánh chúc là một bài tràng thiên từ phú, đại đê tả hêt cái cảnh trong làng mình, cùng là kể lại ý dân xã nhờ thần ủng hộ mà nên thịnh vượng phát đạt, rồi thì chúc tụng công đức thần mà cầu cho dân được an hưởng thái bình. Đọc lời khánh chúc cũng có treo giải thưởng, giải đầu độ dăm đồng bạc, bôn bao trà tàu, hoặc một vuông nhiễu điều, giải nhỉ độ hai bao trà, cái quạt tàu, hoặc một vuông nhiễu điều, còn giải ba trở đi gọi là giải hàng thì chỉ một vài ngòi bút, và một tập giấy huê tiên v.v…

Khi đọc, dân làng cắt một người thông thái cầm trổng, hễ sai một chữ hoặc sai một tiếng thì cắc một tiếng, mỗi một tiếng cắc bỏ một thoi vàng làm thẻ, hễ nhiều thẻ sai thì không được. Ai đọc từ đầu đến cuối, trơn tru gẫy gọn mà không sai một tiếng nào mới được giải nhất, sai một vài tiếng được giải nhì, sai dăm ba tiếng được giải ba, còn sai quá mười tiếng thì thôi.

Đọc lời khánh chúc, bất cứ người trong làng, người hàng tổng hàng huyện hoặc người ngoài cũng được.

Nhưng dân tình phần nhiều là thiên tư, người ngoài giỏi đến đâu cũng không lấy được giải, chung qui lại con nhà quyền thế trong làng lấy giải mà thôi.

Rã đám – Hội chừng 20 ngày hoặc một tháng, rồi đại tế một tuần thì rã đám. Hôm rã đám lại rước thần vị về miếu, gọi là rước hoàn cung. Rước hôm ấy cũng như hôm mới rước về đình.

Xét cái tục hội hè của ta, rước xách rất phiền phí, ăn uông rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, tiêu pha rất tốn kém, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình.

Đã đành mở hội, trước là trọng việc sự thần, sau là cầu vui cho dân, nhưng trọng mà rước xách tê bái lắm thì hóa ra khổ. Hội đến hàng tháng thì chịu làm sao cho được?

Vả lại đã gọi là hội thì trừ ra việc đóng góp việc ăn mặc cũng đã tốn kém nhiều rồi, còn thì ngần nào chơi bời, ngần nào cờ bạc, con em thì bỏ công bỏ việc để ở nhà đi hội, vậy thì chẳng những vô ích, rnà lại hại thêm cho làng nữa. Xưa nay chỉ mấy người hào trưởng trong làng là sính mở hội, vì họ có nhiều món lợi riêng, như mở tổ tôm điếm, bài phu điếm, hoặc gá bạc đế lấy hồ v.v… Họ mượn tiếng sự thần mà kỳ thực là cầu tư lợi. Mà khốn nạn cho dân đàn em lại phần nhiều là ngu xuẩn, động nói đến việc sự thần thì không ai dám gàn trở gì nữa, dẫu khổ cực thế nào cũng phải nhắm mắt mà chịu. Nếu ai gàn trở thì sợ thần quật chết tươi. Mà thần chẩng quật thì bọn hào trưởng cũng quật, tội nghiệp!

Trong cuộc hội hè của ta, lại lắm lúc tục rất dã man nực cười: Trước mặt thiên hạ mà cởi trần đóng khố để vào đánh vật, sao mà thô tục làm vậy? Lại có một việc rất nực cười và rất là bêu nhuốc dân phong, như làng nọ thờ dâm thần, cứ đến ngày rã đám thì buôi tối tế một tuần, trong khi đang tế tắt hết đèn nến, đình miếu tối mù, rồi đàn bà đàn ông, bất cứ ai, đùa lẫn nhau một lát, có câu tục ngữ rằng: Bơi Đăm, rước Dá, hội Thầy, vui thì vui vậy chẳng tầy Dã La. Cái vui ấy thực là cái vui mạt! ,

Thiết tưởng nơi nào có những tục thô bỉ, cuộc nào tỏ những cách đê tiện thì nên lập tức bỏ đi. Mà trong cuộc hội hè, chưa có thể cải lương được hết, thì cũng nên giảm bớt những sự vô ích, tỉnh bớt những cách phiền phí, chỉ hội trong ba ngày tưởng đã là nhiều.

Dân đàn em cũng nên biết rằng: phàm sự gì đã có lợi hại quan hệ đến mình, thì mình phải suy xét, điều gì nên nghe hãy nghe, điều gì không nên thì đừng, chớ có cúi đầu mà ai bảo xôi ừ xôi, ai bảo thịt ừ thịt thì là hèn hạ quá. Mà dẫu ai có viện thần quyển đế đè nén mình thì cũng nên biết rằng: thần chẳng qua cũng ở bụng dân mà ra, lòng dân có thuận thì thần mới thuận. Sách có chữ rằng: “Tiên chí lực ư dân, nhi hậu thần giáng chi phúc”, nghĩa là trước hết phải dùng sức mà lo cho dân. rồi thần mới giáng phúc cho, vậy thì thần cũng phải lấy dân làm trọng, huống là dân không thuận thần lại cưỡng được sao?

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

V.   LỄ KỲ AN

Vào khoảng cuối Xuân đầu Hạ, nhiều nơi làm lễ kỳ an. Vĩ mùa ấy thường có dịch khí, tục tin là việc quỷ thần cho nên cúng cấp để cầu cho dân làng được yên lành.

Lễ kỳ an dùng toàn đồ vàng mã, nơi thì dân làng làm lễ một buổi, nơi thì mời nhà sư vào môn đạo trường cúng cấp ba đêm ngày hoặc bảy đêm ngày.

Tục thường bày làm hai đàn, một đàn nội và một đàn ngoại. Đàn nội thờ Trời, Đất, Phật, Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu và thần Đương Niên Dương cảnh, Ngũ Phương chi thần.

Đàn ngoại thờ Minh Vương, có hai viên văn, võ đứng hầu, văn cầm bút đứng tả, võ cầm kiếm đứng hữu, ngoài có năm vị Ôn Chúa, mỗi vị một sắc áo mũ, có năm thanh kiếm và năm lá cờ.

Lại có một hình nhân tay chống thanh quất trông vào đàn nội, gọi là ông Giám Đò.

Ngoài sân thì bày một tên lính cưỡi ngựa, sau lưng có lá cờ lệnh, là ngưòi truyền lệnh của thần thánh và của các quan. Ngoài nữa thì bày la liệt: cầu ông thầy bói, quán cô bán hàng, ông Thiên lôi, bà La sát, núi Thu tinh, thuyền rồng, rồi nào voi, ngựa, nào chiêng, nào trống, nào hình nhơn, nào khí giới v.v…

Trước hết dùng lễ cúng đàn ngoại. Có nhà sư và môn đạo trường khua trống đánh não bạt rầm rĩ, múa gươm, múa cờ, tụng niệm phù chú, đế thu hết các thạch tính côt khí yêu ma lệ quỷ mà ngăn cấm không cho xâm phạm đến giới hạn trong làng, cho nên gọi là thu tinh cấm giới.

Đoạn vào đàn nội phát tấu, nghĩa là đọc sớ tâu với Trời, Phật để cầu Trời Phật phù hộ cho làng. Rồi tụng kinh suốt sáng mới thôi.

Hôm sau lại tụng kinh cả ngày.

Tối thứ hai cúng đàng nội, dẫn lục cúng. Lục cúng là hương, hoa, đăng, trà, quả, thực. Trong khi dưng cúng, có hai người tăng ni, mặc áo cà sa phủng đồ hương hoa múa mang, lượn ra lượn vào một hồi, rồi mới tiến lên bàn thờ.

Dưng lục cúng xong thì cúng cát đoạn, hoặc gọi là cát khiên. Có một sợi dây chăng từ đầu nọ đến đầu kia, treo quần áo giấy và sáu trăm ba chục đồng kẽm. Cúng rồi thầy phù thủy cầm dao cắt sợi dây ấy cho đứt làm đôi, nghĩa là cắt dây oan nghiệt để giải cứu cho chúng sinh.

Kế đến cúng cây phướn gọi là cúng tràng phiên. Đầu cây phướn làm hình con quạ, ngậm một tấm lụa đỏ dài chừng bôn năm mươi thước. Tục truyền xưa có một người bạo nghịch, hay giết người, nhưng thờ mẹ thì rất hiếu. Một bữa, có mấy người vào quyên giáo, anh ta hồi tâm lương thiện nhưng ngặt vì nhà không sẵn tiền, anh ta xin đem bộ ruột cúng về nhà chùa. Nói đoạn tức thì moi ruột đưa ra rồi chết. Các người quyên giáo nể tấm lòng thành, đem bộ ruột ấy ra rồi quăng xuôrig suối. Có con quạ tha bộ ruột ấy bay đến cửa chùa đậu trên ngọn cây mà kêu. Vì thế nhà chùa làm ra cây phướn để tỏ cái lòng tốt của người ấy.

Tục truyền như vậy, nhưng tưởng chỉ là cái cờ hiệu lệnh riêng của nhà Phật, cho nên đầu trường nào cũng có gióng cây phướn, có ý để trấn tĩnh ma quỷ.

Tôi hôm sau lên đàn Mông sơn, tức là đàn thí thực.

Đàn Mông sơn bày oản quả hương hoa và có một bát cơm úp, một đôi đũa bông để cúng Phật. Lại có một nhà sư mặc áo cà sa ngồi ghế thay Phật đê trấn đàn. ơ dưới bày cơm nắm, chảo bỏng, khoai, kẹo, thanh bông hoa quả để bố thí cho chúng sinh. Bọn đạo trường cúng xong rồi, mặc sức cho người vào cưốp gọi là cướp cháo thí.

Cúng thí thực rồi thì phóng sinh, Phóng sinh là mua cá ốc, chim chóc cho nhiều, rồi thả ra cho nó được sổng lại ấy là làm sự phúc đức để cầu lấy việc bình yên vậy.

Hôm sau cúng lễ tạ Tròi, Phật, rồi hóa vàng mã. Ở đàn ngoại thì dùng lễ bò xôi, lợn rượu để tiễn Ôn chúa. Khi tiễn, thầy phù thủy tay cầm nắm hương hoặc bó lửa, thư phù niệm chú, tay cầm ấn quyết triệt lộ, tiễn ra khỏi đầu làng, đầu chợ, ngã ba, ngã bảy mới đốt, nghĩa là tống đi cho xa, kẻo sợ ôn dịch ở quanh quẩn làng mình.

Ở về vùng Phúc Yên thì mỗi xóm có một tượng thiên lôi; rồi các thầy phù thủy đánh trống, gõ não bạt đi từng ngõ mà khử trừ ma quỷ.

Trong mấy ngày cúng cấp, nhiều nơi lại bày ra hát bội mở trò bách hý để cho vui nữa.

Còn như bất thời có dịch khí lưu hành, dân làng nghe có nhiều người chết, thì mua vàng hương hoa quả thiết đàn giữa sân đình, cúng tiễn ông quan gọi là lễ tiến thảo. Trong làng ai có gạo rượu tiền bạc đem cả ra lễ, rồi của ai người ấy lại đem về. Có khi dịch khí nặng nề thì dân làng lễ tiến thảo hai, ba lần.

Xét cái tục lễ kỳ an này cũng tức là tục tế ma của Tàu, chủ ý chỉ là khử trừ ma quỷ cho dân xã bình an.

Ta lại tin theo Phật thuyết bày ra vàng mã, nào mũ Ngọc Hoàng, nào tượng Minh Vương, nào âm quan quỷ tôt chiến khí binh thuyền. Sự quỷ thần huyền viễn thì chưa biết đâu mà sự tiền thật mua đồ giả thì đã rõ, uổng tiền quá!

Uổng tiền mà được việc cũng cam, nhưng nào có được việc gì? Cúng cấp linh đình tưởng các quan âm đã thấu lẽ rồi thì đi phương khác cho, ai ngờ các quan âm thỉnh thoảng vẫn còn quấy nhiễu. Quỷ đói đã thí cho rồi, tưởng cút đi nơi khác, ai ngờ quỷ đói vẫn còn vơ vẩn chưa đi.

Nói rút lại thì là chỉ tại ta tin nhảm, chớ nào ma đâu quỷ đâu, mà ai quấy nhiễu gì đâu. Chắng qua phương nào bất hạnh truyền nhiễm phải dịch khí dịch trùng thì hại, biết cách giữ gìn thì đô chết, mà không biết cách thì chết nhiều.

Cách trừ dịch nhất là lấy sự sạch sẽ, ăn uổng cẩn thận làm đầu, các bài vệ sinh thường đã giảng kỹ về cách ấy, không cần phải nói cho lắm. Chỉ mong sao cho người nước mình phá hết được những dị đoan để hết sức lo về việc trước mắt thì mới có ngày hay được.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

VI.   CHÙA CHIỀN

Mỗi làng có một chùa thờ Phật, có làng to thì lập đến hai ba ngôi chùa.

Gian giữa từng trên nhất thò ba vị Thế Tôn, đầu tóc xoăn như ốc bám, thường gọi là Bụt ốc. Kế đến bà Mụ Thiện mười hai tay, rồi đến bà Di Lặc béo phục phịch, tục truyền bà ấy nhịn mặc mà ăn cho nên béo. Kê đến tượng Quan Ầm có Kim Đồng, Ngọc Nữ kèm hầu đôi bên, một bên cưỡi con bạch tượng một bên cưỡi con thanh sư. Rồi đến tượng Ngọc Hoàng, một bên là Nam Tào, một bên là Bắc Đẩu. Ngoài cùng thì là tượng cửu long bằng đồng có Phật Thích Ca đứng giữa.

Hai bên, ở phía trong một bên thờ ông Tu Sương gầy khô như hạc, tục gọi là nhịn ăn mà mặc cho nên gầy, một bên thờ bà Thị Kính hay bế một đứa con, cạnh mình có con vẹt đứng, tục truyền là Thiện Sĩ (chồng bà ấy) hóa thân. Ở phía ngoài thì mỗi bên có năm ông Bụt gọi là thập điện La Hán.

Hai gian cạnh gần gian giữa, một bên thờ tượng Long Thần, mặt đỏ mắt sắc gọi là Đức ông hoặc Đức chúa, tức là Thổ thần. Một bên thờ thầy Đường Tăng, có Đại Thánh, Bát Giới đứng hầu.

Hai gian ngoài cùng thờ hai tượng Hộ Pháp, một tượng mặt mũi hiền lành cầm quả ấn, một tượng mặt mũi dữ dội vác thanh gươm, mỗi tượng cưỡi một con nghê.

Còn đôi bên vách tưòng thì đắp mật động, nào là thiên phủ có quần tiên gay đàn thổi sáo vui vầy, nào là địa phủ, có Diêm Vương hành tội, những ngưòi chết, kẻ thì bị quỷ sứ cưa đầu kìm lưỡi, kẻ thì bị quỷ sứ quang vào núi gươm đao, kẻ thì được lên thiên đường hưởng sự sung sướng, kẻ bị bị trầm luân nơi khô ải phải trải nếm đắng cay…

Ngoài cửa chùa có cửa tam quan làm giác chuông, mỗi buổi chiều thì thỉnh ba hồi chuông, rồi mới tụng kinh niệm Phật.

Sau chùa có tĩnh thờ chư vị và có nhà thò Tổ. Nhà thờ Tổ là nơi những tăng ni tu hành ở đó, về sau mất đi nhà chùa tô tượng đế thờ. Lại có nhà hậu để thờ những người mua hậu chùa, cứ đến ngày giỗ thì nhà chùa phải giỗ. Có phòng riêng làm chỗ nhà sư ở gọi là nơi trụ trì, có chỗ để khách khứa ngồi chơi, gọi là nhà phương trượng. Phía sau thì là nơi mộ tháp của tăng ni.

Chùa lắm nơi danh lam thắng tích, cách thức to tát rộng rãi, phong cảnh thanh thú vô cùng. Nhưng cũng nhiều nơi ở giữa quãng không, hoặc ở bên sườn núi xa thắm, vài ba gian tiều tụy lơ thơ, quanh năm ít người thăm viếng, thì lại là nơi cô tịch quá.

Chùa phải có nhà sư ở, sư nam gọi là Tăng, sư nữ gọi là Ni. Chùa nào không có tăng ni thì có một thầy tu, gọi là thầy già lam để coi việc đèn hương cúng cấp.

Dân làng mỗi năm về những ngày đoan dương chính đán thì dùng lễ oản chuối đem đến lễ Phật, về ngày giỗ sư tổ dân làng cũng đem vài buồng cau và một vài đồng bạc đến lễ giỗ.

Cỗ chay dùng toàn đậu, bột khoai, vừng chế ra nấu các thức ăn cũng đủ giò chả bóng mực v.v…

Còn về phần nhà chùa thì mỗi tuần rằm, mồng một phải xin oản cúng Phật. Cúng rồi ‘chia cho các vãi mỗi ngưòi một phần oản chuối gọi là lộc Phật Các vãi phải mỗi tháng đóng tiền cúng về nhà chùa.

Ngày vào hè ra hè, thượng nguyên trung nguyên, cùng là các ngày mồng năm ngày Tết đều có làm cỗ chay cúng Phật, rồi thì thết đãi các con hương đệ tử. Các vãi và các con hương đệ tử ăn cỗ mỗi ngưòi cúng độ một vài hào bạc, nếu không cúng mà ăn không của Bụt thì phải tội. Ăn rồi mỗi ngưòi lại được một phần oản, một quả chuối làm phần.

Nhà chùa có việc tu tạo gì hoặc là việc tô tượng đúc chuông thì tăng ni nói với dân làng, dân làng đứng lên lập sổ phổ khuyên cho người đem sổ đi quyên giáo thập phương, gọi là việc tập phúc. Có khi một vài người sư tiểu cầm sổ đi khắp các làng các ngõ, vào từng nhà mà quyên; có khi năm bảy bà vãi kéo vào từng nhà nam mô niệm Phật rầm xóm; có khi hai người khiêng cái võng, trên đòn treo cái chuông hoặc cái cảnh theo sau một lũ năm ba bà vãi đi đến các chợ búa, gõ chuông quyên giáo, ai cúng đồng tiền nào ném vào trong võng, ơ chỗ cửa chùa thì bày một cái nong bên cạnh đường đi, đốt năm ba nén hương cắm lên bình, vài bà vãi đánh trông kê kệ, ai đi qua lại cũng quang dăm ba đồng kẽm hoặc một vài xu vào cúng.

Việc to có sổ quyên, ai cúng bao nhiêu phải đề tên biên số tiền vào số, đợi khi xong việc, liệt tên lên bảng để tỏ cái lòng tôt của người ta. Việc nhỏ cúng dăm ba hào một vài xu thì thôi. Việc đúc chuông dẫu cúng đồng tiền gì cũng phải lấy, nếu không lấy thì việc đúc chuông không thành.

Đã nói đến việc quyên giáo  làm phúc thì ai cũng cúng nhiều ít tùy lòng. Nhưng cũng lắm kẻ gian biển, giả danh quyên giáo để độ khẩu thì thực là một cách đê tiện.

Phật giáo khởi tự Ấn Độ. Tự đời vua Minh Đế nhà Hán nằm mơ thấy thần người vàng xuất hiện, mới sai người sang tận Tây Trúc rước Phật cầu kinh về thờ. Từ đó Phật giáo mới truyền vào Trung Quốc. Nước ta thì đời Lý Trần sùng thượng đạo Phật, nào là dựng chùa xây tháp, nào là tô tượng đúc chuông, nào là đặt ra tăng khoa. Từ bấy giờ đạo Phật mỗi ngày một thịnh, dân gian dần dần bắt chước nhau, làng nào cũng lập chùa, cũng đúc chuông, xã nào cũng xây tháp, cũng tô tượng, đâu đâu cũng có sư có vãi, đâu đâu cũng có tín nữ thiện nam.

Vậy thì sự sùng tín đã không có ích gì cho người, mà làm hại của cải, cũng chỉ bởi lòng tin sai vậy.

Và lại chỗ Phật Đường, phần nhiều ngươi chân tu thì ít mà phần người trốn chúa, lộn chồng, ăn bơ làm biếng, trôn xâu lậu thuế, mượn cửa bồ đề mà nương thân thì nhiều, ấy lại là một cái hang để chứa những kẻ bậy bạ nữa.

It nay có người muốn lấy Phật đường làm trường Âu học cho các dân thôn, có lẽ cũng tiện.

 

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

VII.   VĂN TỪ VĂN CHỈ

Mỗi làng có một văn từ hoặc văn chỉ. Đàn lộ thiên gọi là văn chỉ, có lợp mái gọi là văn từ. Văn từ văn chỉ để thờ riêng những bậc khoa hoạn trong làng. Có làng biếm văn học, chưa có người hiển đạt, thì thờ Đức Khổng Tử, gọi là Tiên thánh sư, để làm chủ trương cho việc văn học trong làng.

Các nơi thờ riêng những bậc khoa hoạn, đại để chia làm ba hạng:

Hạng nhất là những người đỗ đại khoa (tiến sĩ) và những người làm quan từ tam tứ phẩm trở lên, thò ban giữa.

Hạng nhì là những người đỗ trung khoa (Cử nhân) và những người làm quan từ lục, thất phẩm trở lên, thờ ban hữu.

Hạng ba là những người đỗ tiểu khoa (Tú tài) và những người làm đến bát cửu phẩm thờ ban tả.

Đến khi tế tự thì đem cả hào mục tổng lý và các thầy đồ truyền giáo trong làng vào phối hưởng.

Nhưng nhiều nơi chỉ trọng riêng về đường khoa mục, hễ có đỗ mới được liệt tự, còn người làm quan dẫu đến nhất nhị phẩm mà không có chân khoa mục, cũng không được dự, chỉ đến lúc tế mói đem vào phối hưởng mà thôi.

Mỗi năm tháng hai, tháng tám tế hai kỳ gọi là xuân thu nhị đình. Có nơi cả làng tế, có nơi chỉ người có chân trong hội tư văn mới được dự tế.

Năm nào có khoa thi thì cả sĩ tử trong làng, hội lại làm lễ kỳ khoa, hoặc cả làng, làm lễ, để cầu cho hương thôn được nhiều người hiển đạt.

Khi thi xong, ai được đỗ thì lúc về phải có lễ ra lễ văn chỉ để tạ ơn tiền hiền.

Thờ tiền hiền – cũng là một cách để duy trì phong hóa, làm kỷ niệm cho sự truyền giáo, thì cũng là một việc hay mà tục chuyên trọng vể đường khoa mục thì chỉ là có ý khuyên cho người ta chăm vê việc học hành.

Xét nước ta từ đòi Lý Trần trở về, mới có khoa cử, đến đời nhà Lê thì khoa cử lại càng thịnh lắm. Ai làm quan có chân khoa mục mới là thanh lưu, còn không đỗ gì thì dẫu làm to đến đâu cũng gọi là tạp lưu. Dân gian vì đó mà lắm nơi cũng chuyên trọng về khoa mục, cho nên nhiều nơi dẫu có người làm đến Thượng thư, Tổng đốc, mà về đến văn chỉ, có khi phải ở dưới hàng Tiến sĩ, Cử nhân.

Như vậy thì sự kiến thức của dân ta khí hẹp hòi quá! Thiết tưởng người có tài có đức, văn chương sự nghiệp đủ làm gương cho dân, và lưu được sự ích lợi cho làng, có phải hết thảy do ở khoa cử mà ra cả đâu. Nêu chỉ trọng về khoa cử, chẳng hóa ra bỏ sót nhiều người tài trí lắm ru! vả lại người trọng khoa cử cũng có người hay, mà cũng chẳng thiếu gì người chẳng ra gì, vậy mà không có phân biệt, cứ thấy có khoa cử thì trọng, cũng là một sự hồ đồ vậy.

Sau nữa cũng vì cái tục chuyên trọng khoa cử, mà khiến cho người ta mê lòng về đường hư danh, bỏ mất hết sự thực dụng, cả đời chỉ nung kinh nấu sử, mà không biết đến việc gì. May ra ai vớ được cái bia đá bảng vàng, hoặc là một tiếng dạ thì còn có thê vinh thân phì gia, chẳng may mà lao đao tràng ốc cả đời, thì đến ngồi xó nhà quê, gõ đầu dăm ba đứa trẻ kiếm ăn, giở ra trò gì cũng không được nữa, thì lại là khoa cử làm hại người!

Thiết tưởng đã gọi là thờ tiền hiền bao nhiêu những người có tài đức, hoặc người nào làm được sự ích lợi gì cho dân xã cũng nên thờ cả, không cứ gì có khoa cử hay không. Mà trong khoa cử cũng nên phân biệt người hay, ngưòi dở, nếu ai là ngưòi điếm nhục khoa danh, thì cũng nên bỏ đi, vậy mới đủ là duy trì phong hóa, và làm gương cho người khác.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

VIII.   KÝ HẬU

Trong làng, người nào không có con trai, ngoài sự lập kế tự để giữ hương hỏa, lại còn lệ mua hậu nữa.

Người mua hậu trước hết phải nộp tiền lệ cho làng, hoặc năm bảy chục, hoặc một vài trăm bạc. Làng nhận tiền ấy để tu bổ đình miếu, chi vào việc công nhu. Người mua hậu lại phải nộp cho dân xã mấy sào mấy mẫu ruộng hoặc đất để dân xã lấy hoa lợi ở ruộng đất ấy mà chi vào việc tế tự người có hậu về sau.

Có ngưòì mua hậu riêng cho hai vợ chồng mình, có người mua hậu chung cả cho cha mẹ đôi bên. Tùy mua nhiều mua ít mà gia giảm số tiền.

Người thì ký hậu tại đình miếu, người thì ký hậu tại chùa, người thì ký hậu tại bản thôn, bản tộc, người thì ký hậu tại biệt xã là quê ngoại của mình.

Hàng giáp, hàng thôn, nhà chùa, bản tộc, hoặc biệt xã đã nhận tiền và ruộng đất của người mua hậu, phải làm tò ký kết rồi dựng bia đá tại đình miếu, hoặc chùa hoặc ở trong từ đường.

Trong văn bia kể rõ họ tên người mua hậu ở phủ huyện tổng xã nào, dân làng nhận bao nhiêu tiền, chi về việc gì, và ruộng đất ký hậu cho bao nhiêu, ở tại đâu, cứ mỗi năm về ngày tháng nào thì dùng lễ gì mà cúng tế. Lại có mấy câu tán tụng công đức người mua hậu, cũng tức như một tờ ký kết.

Hôm ký tờ dựng bia, người mua hậu phải làm rượu mời dân làng ăn uổng. Từ bây giờ người mua hậu gọi là ông hậu bà hậu.

Từ sau trở đi, mỗi kỳ đến ngày giỗ hậu, thì dân làng hoặc bản tộc phải biện lễ gà xôi trầu rượu, hoặc thủ lợn mâm xôi, hoặc làm bò để tế. Hậu chùa thì làm cỗ chay để cúng, gọi là giỗ hậu. Con cháu người có hậu hoặc còn ai thì đem trầu rượu đến lễ, không còn ai thì thôi. Làng lễ xong, có biếu lại chủ nhà một ít, còn thì ăn uống với nhau.

Mỗi năm những kỳ tế thần, cũng có cúng lễ các hậu thần, con cháu ngươi có hậu đem vàng hương trầu rượu đến lễ thánh, dân làng cũng có phần biếu.

Có nhà con cháu đông đúc, nhưng giàu có nhiều của thì cũng mua hậu, một là giúp việc cho làng, hai là để cả làng phải cúng giỗ mình thì hương hỏa càng được lâu dài.

Lễ hậu thần nhiều nơi lấy làm rất quí trọng, phi người phú quý có thế lực với dân thì mới mua được.

Tục ta trọng việc hương hỏa, cho nên người không có con trai thì phải ký hậu để có nơi cúng giỗ về sau. Tục ấy củng là một tục hay, vì người có của mà không có con thì của ấy cũng không đê làm gì. Tuy cũng nhiều người nuôi con nuôi đê làm người thừa tự cho mình, cùng là chia của cho con gái, thì con cháu ngưòi con gái về sau cũng phải giữ giỗ giữ tết. Nhưng con nuôi và cháu ngoại thì đã chắc gì giữ được thủy chung, chi bằng bỏ ra một món tiền, trưốc là giúp được một việc công ích cho dân làng, sau là đem mình nương bóng thần Phật, thì có thể hương hỏa phần mình, truyền lâu mãi mãi, ấy là cái chủ ý của ngưòi mua hậu, mà là một chính sách lý tài của dân làng kể cũng đã khôn khéo.

Tuy vậy, chủ ý thì hay, mà lắm thì thành tệ. Vì có lắm khi bọn hào trưỏng trong làng giả danh tu tạo công nọ việc kia, mà bày ra cách bán hậu. Tiền người mua hậu chi về việc công ích thì ít, mà bỏ vào túi bọn ấy thì nhiều, thành ra chỉ giúp cho mấy kẻ hào trưởng mà thôi.

Giá thử ai có của dư dật, ngoài sự lập kế tự, chia gia sản cho họ hàng con cháu rồi, còn nữa không biết làm gì nên đế dùng vào những việc làm phúc chung cho xã hội, hoặc quyên vào những việc chẩn thải, hoặc giúp vào những hội học, nhà thương vân vân. Để một cái kỷ niệm trong việc công ích, có lẽ còn hơn hưởng con gà ván xôi sau khi mình khuất mắt.

       

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XI. CÔNG QUÁN

Dân thôn mỗi nơi có một công quán, làng to thì mỗi xóm có một công quán. Công quán làm năm ba gian, hoặc lợp ngói xây gạch; hoặc làm bằng tre nứa, ban đêm thì làm nơi tuần phu canh giờ, ban ngày thì làm nơi dân làng hoặc có việc gì hội họp, hoặc để người ta làm chỗ đi lại nghỉ ngơi, tức gọi là nơi điếm sở.

Ở về nhà quê, thường làm quán giữa cánh đồng, để làm nơi nông phu vào nghỉ. Trong quán có dăm ba hàng quà hàng trầu nưốc để người vào nghỉ ăn uống.

Điếm sở – trong làng thì hàng xã hoặc hàng xóm xuất tiền công ra làm, quán giữa đồng hoặc của công, hoặc của tư gia xuất tiền làm phúc.

Về nhà quê lắm nơi đường đi qua sông, có cầu thượng gia hạ trì, cũng tức là công quán, để khách qua lại có chỗ nghỉ ngơi.

Quán ở nơi dân thôn xóm mạc, mỗi năm đầu mùa xuân, dân làng thường có dùng lễ thủ lợn mâm xôi lễ thổ công. Đêm hôm trừ tịch cũng bày mũ thổ công, ỉàm lễ tông cựu nghênh tân. Ba tháng hè, về ngày rằm, ngày mồng một thì mỗi xóm dùng vàng hương, áo mũ giấy, thanh bông hoa quả và nấu cháo cúng các quan chúng sinh.

Công quán là một nơi cho ngưòi ta nghỉ ngổi, và là chỗ hội họp canh gác, thì cũng là một việc tiện lợi. Mà ích lợi nhất lại là những quán ở giữa cánh đồng. Những người làm ruộng, đem thân ra chỗ đồng không mông quạnh, khi mưa khi nắng, không có cầu có quán, thì lấy chỗ nào mà trú ẩn? Đưòng xa dặm thắng, khách qua lại một ngày đường không có chỗ nghỉ ngơi, nếu không có quán, thì lấy đâu làm chỗ dừng dân, lấy đâu làm chỗ ăn uống? Vậy thì người có lòng tôt, chịu xuất tiền ra làm quán, cũng là một việc công ích vậy.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

X.   AM CHÚNG SINH

Mỗi làng, đầu làng hoặc cuối làng, có một khu đất rộng đê làm chỗ tha ma mộ địa, trong làng có ông già bà cả hoặc người nào mất thì cứ đem tại đó mà chôn.

Mỗi chồ tha ma nội địa có lập một cái am năm ba gian, hoặc xây bệ lộ thiên, đề ba chữ “hàn lâm sở”, đê thờ chung cả những mồ mả vô chủ, gọi là am chúng sinh. Mỗi cửa am có một bà đồng ở sớm tối đèn hương thờ phụng, về ba tháng hè thì cứ ngày rằm, ngày mồng một nấu cháo cúng, đổ vào cái lá đa cuộn tròn lại, cắm hai bên dọc đường gọi là cúng các quan, hoặc gọi là cúng bách linh. Cho nên tục có câu rằng: cướp cháo thí lá đa, là nói những người vô hậu.

Bà đồng ở đó thường bày một cái nong ra cạnh đường đi; đốt vài nén hương để quyên giáo, kẻ qua lại ai cũng cúng một vài đồng kẽm. Bà đồng thì ngồi trong am đánh trông kê kệ, hoặc là họp năm ba bà vãi chèo đò.

Nhiều nơi mỗi năm về tháng bảy, hoặc công làng, hoặc riêng một hội thiện, thiết điện tràng tại cửa am đê làm chay, cúng hai, ba ngày hoặc năm, bảy ngày.

Làm chay, trước hết có nhà sư cầm gậy tầm xích, các vãi cầm phướn và vài ba người đạo tràng đánh trông khua não bạt đi khắp đám tha ma mộ địa gọi là đi rước linh. Rước linh về đàn thì cúng. Trong đàn từng trên thiết tượng Phật, từng dưới thiết vị bách linh, ở ngoài cũng có mã mùng.

Cúng Phật thì dùng lễ oản quả, cúng bách linh thì dùng oản quả, hoặc dùng lợn gà tùy ý.

Hôm bất đầu phát tấu tụng kinh, cầu nguyện cho chúng sinh được siêu sinh thịnh độ, hôm sau dẫn lục cúng, rồi cũng có phóng sinh trí thực như lễ kỳ an. Hôm sau cùng thì chạy đàn phá ngục.

Cách chạy đàn, có mấy người đạo tràng, đóng tuồng Đường Tăng, Đại Thánh, Sa Tăng, Bát Giới chạv xung quanh đàn, và có làm nhà ngục bằng giấy, ông thầy đâm phá các cửa ngục, nghĩa là cứu cho chúng sinh thoát khỏi vùng giam cầm ở dưới âm ty.

Đoạn lễ tạ hóa vàng mã.

Các nơi chiến trận, có nhiều tướng sĩ tử trận chôn một chỗ thì nhà vua lập đàn thờ, gọi là Lệ đàn. Lệ đàn thì mỗi năm nhà vua sai quan về tế, hoặc là hội thiện góp tiền với nhau mà cúng hay là làm chay.

Tục thường cho chỗ am chúng sinh và lệ đàn là nơi rất thiêng liêng, cho nên nói đến việc bách linh thì nhiều người dốc lòng làm phúc. Nhất là những khi bất đắc dĩ phải thiên mộ địa đi nơi khác, các nhà giàu tranh nhau mà cúng tiểu, cúng gạch bát tràng, còn các thiện nam tín nữ thì tranh nhau mà đi rước bách linh, để bách linh phù hộ cho được vạn sự như ý.

Tục ta tin quỷ thần, cho nên sự gì cũng cho người chết có linh hồn, có tri giác cũng như người sống. Mà ở dưới âm phủ cũng có kẻ khổ người sướng như trên dương gian. Người có con cái giữ hương hỏa thì hồn phách có chỗ bằng y, người bất hạnh tuyệt tự thì không có ai cúng cấp, chắc là phải phiền não ở dưới âm phủ.

Vì thế đám mộ địa nào cũng có am, có đàn, có người hương hoa thờ phụng để cho oan hồn oán quỷ, dầu không ai nhìn nhận cũng có chỗ mà hương khói nương nhờ.

Đi đến chỗ mộ địa, trông thấy mồ mả san sát, ai là không động lòng cảm thương, mà nghĩ đến mồ mả vô chủ thì lại đau đớn thay cho người nằm dưới suối vàng.

Nhất là đi qua những nơi trận trường thuở xưa, nghĩ đến các anh hùng hào kiệt, khi sanh tiền dũng mãnh can đảm biết bao nhiêu, mà nay chỉ thấy gò cao lổn nhổn cỏ rậm rì rì thì lại xui cho ngưòi ta buồn rầu nữa.

Kìa những lúc bóng chiều nhạt vẻ, gió bấc lạnh lùng, đêm tối mưa sa, bốn bề vắng ngắt, qua chỗ đó mà ngắm cái cảnh đìu hiu, lại nghĩ đến nông nỗi người xưa nằm đó, biết bao nhiêu tình cảnh sầu ngưòi.

Nói đến đó thì am kia đàn nọ, bách linh dẫu thiêng dẫu chẳng thiêng, dẫu biết dẫu chẳng biết, dẫu có dẫu chẳng có, chẳng kể làm gì, nhưng cũng chua xót xin gửi tặng vài ba giọt lệ.

Than ôi! Từ xưa đến giờ, biết bao nhiêu người khôn ngoan, biết bao nhiêu người vụng dại, biết bao nhiêu người hưng công lập nghiệp, biết bao nhiêu người vong thân tán gia, nào hiền, nào ngu, nào phàm, nào thánh, bây giờ ở đâu cả, chẳng qua cũng mờ mịt trong một đám cỏ xanh mà thôi!

Thôi chẳng nói những cảnh đau đớn làm chi, mà xin nói qua đến cách mộ địa. Tục ta bạ đâu làm mộ địa đấy, mà chôn nông, nhiều nơi gần hồ gần sông phải dùng đến nước ăn uống mà cũng làm mộ địa, thì nước xú uế thâm ra thực là hại cho sự vệ sinh lắm. Mà ta lại thường tin địa lý ngưòi chôn hướng này, kẻ chôn hướng nọ, ngang dọc lổn nhổn, không có thứ tự nào, dễ làm cho nhầm lẫn không nhận được mả của ai. Điều ấy tuy không quan hệ gì, nhưng so với cách văn minh chưa hợp, tưởng cũng nên cải lương.

Giá cứ theo tục Âu châu, mỗi nơi tìm chỗ đất xa sông xa hồ làm riêng một nơi nghĩa địa, khi chôn ngưòi chết phải chôn sâu, và phải có lần có lượt thì có lẽ tiện hơn, mà khi ai muốn vào thăm viếng cũng tiện.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XI.   NGÔI THỨ

Ngôi thứ trong làng chia ra làm nhiều hạng:

Chức sắc – là những ngưòi khoa trường chức tước. Khoa trường như các người thi đỗ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài và thi võ đỗ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân. Chức tước như các người văn từ cửu phẩm, võ từ suất đội trở lên. Dưới hai hạng ấy thì là ấm tử viên tử. Có nơi binh đinh cũng dự vào hàng chức sắc. ít lâu nay các người tòng sự nhà nước, hoặc ông phán, hoặc ông ký, cũng chiếu phẩm hàm mà dự một ngôi chức sắc. Song hạng ấy thì nhiều người không muốn dính đến đám hương thôn, mà cũng nhiều nơi dân tình chưa quen.

Chức dịch – là những tân cựu chánh phó tổng, chánh phó lý, hương trưởng, khán thủ, trương tuần và các người có tiền bỏ ra mua nhiêu mua xã v.v…

Thí sinh, khóa sinh – là nơi nào hiếm văn học thì những người thi đậu nhất, nhị trường, hoặc người trúng khảo khóa trúng hạch, dân làng cũng trọng, thường khi coi như ngưòi có chân chức sắc. ít lâu nay lại thêm các người làm hương sư tổng sư, trừ ra các người có chân khoa mục đã đành, còn về làng cũng được dự một ngôi thứ cao.

Ba hạng trên này (chức sắc, chức dịch, thí khóa sinh), hợp lại làm một gọi là hội tư văn và gọi là quan viên. Song phải đủ lễ khao vọng mới được dự hội, nếu không khao vọng thì cũng như người chân trắng mà thôi.

Người có chân quan viên, ra đến đình đám có danh có giá, có quyền ăn nói. Tư gia ai có việc gì mời đến làng, tất phải mời hạng ấy trước. Mà việc tế tự trong làng, nhiều nơi chỉ hạng ấy mối được dự. Ai có việc tang ma, mời được quan viên trợ lễ đã là vinh.

 

Lão hạng – Những người từ năm mươi đến năm mươi lăm tuổi trở lên gọi là Lão hạng cũng có lệ khao vọng. Trong lão hạng từ 60 tuổi trở lên, được miễn trừ sưu dịch gọi là lão nhiêu, hoặc gọi là bô lão. Già hưu nữa mà đứng vào hạng thứ tư trong làng trở lên thì gọi là cụ cả, cụ hai, cụ ba, cụ tư, gọi chung là tứ trụ. Lên bực tứ trụ cũng phải vọng một lần nữa, đến lúc lên chân cụ cả lại phải vọng. Tứ trụ ra đến đình đám, dân làng cũng trọng, nhiều nơi ngôi thứ ngồi trên hàng quan viên nhưng không có quyền ăn nói gì, gọi là sông lâu lên lão làng mà thôi.

Dân đinh – Những người từ 13 tuổi trở lên đến 49 tuổi gọi là dân đinh. Hạng này theo dưới hàng bô lão, ra vai gánh vác phu phen tạp dịch. Ai nhiều tuổi hơn, khi có việc tang ma, vào chấp lệnh, gọi là hàng linh, còn tổng chi gọi là giai hạng.

Lão hạng, dân đinh, phần nhiều là hạng lương thiện, chỉ biết chăm việc làm ăn, theo đòi đóng góp vối làng, bảo xôi ừ xôi bảo thịt ừ thịt, miễn là được yên phận cho mình làm ăn là đủ, còn công việc làng nước, phó mặc người đàn anh khu xử, không muốn việc gì lôi thôi tới mình. Chỉ khi nào có công việc đình đám hoặc việc tư gia, đóng vai đi ăn uống mà thôi.

Ti ấu – Từ sáu, bảy tuổi trở lên đến mưòi ba, mưòi bảy tuổi là hạng ti ấu. Hạng này Vọng ngôi hương ấm rồi thì cũng được dự đến việc hàng phe hàng giáp, cũng phải đóng góp vào việc tế tự như ngưòi lớn.

Ngôi thứ cứ chiếu sổ hương ẩm, trừ ra người có chức sắc, người có chân quan viên, có khi vượt ngôi thứ không kể còn theo thứ tự tên ký trong sổ, ai vào trước ngồi trên, ai vào sau ngồi dưới. Trong văn tế cũng vậy, ai ngôi thứ cao viết trên, ai ngôi thứ thấp viết dưới. Nếu sai thứ tự thì có khi sanh ra kiện tụng. Song đại khái chỉ tả vài ba chục tên người trên mà thôi, còn ở dưới nhiều quá tả không xuể thì thôi cũng được.

Trong việc sự thần, trọng nhất là việc tế chủ và việc điển văn. Tế chủ phải người có chức sắc cao hơn trong làng mới được vào. Không có chức sắc thì trong hạng tứ trụ mới được. Có nơi tế chủ phải kén người chức sắc hoặc là bô lão mà vợ chồng song toàn, con trai con gái đề huề mới được. Điển văn là người coi việc tả văn tế, phải kén người có chức sắc mới được bầu làm điển văn. Không có chức sắc thì kén trong hàng ký cục, chức dịch, chớ hạng bô lão không bao giờ được dự đến việc ấy.

Trong làng phân ra ngôi thứ, có trên có dưới, có thứ có bực, tuy trái với cách bình đẳng, nhưng đến khi hội họp đông đúc, hoặc bàn bạc công nọ việc kia, hoặc giảng giải điều hơn lẽ thiệt người trên nói người dưới nghe, thượng mục hạ hòa, không đến nỗi xốn xáo lộn bậy cũng là một cách xếp đặt trong hương chính rất hay.

Song phải một điều là tục ta chỉ trọng riêng về người có chức sắc có khoa mục, mà người làm ruộng, người làm thợ, người đi buôn thì coi khinh, cho là dân đàn em. Vì thế nhiều người chỉ đua ganh lấy chút danh phận, để về mở mặt với làng, chiếm lấy một ngôi thứ cao trong hương đảng, đã cho là danh dự. Điều ấy tuy bởi người kiến thức hẹp hòi, nhưng cũng vì tục trọng đường hư danh mà khinh đường thực dụng, xui nên một thói ấy. Mà đường thực nghiệp không được mở mang, không được phấn chấn cũng bởi đó mà ra nữa.

 

Tuy vậy, điều đó là bởi thói quen của ta mà thôi, bây giờ cũng đã nhiều người tỉnh ngộ, biết trọng thực nghiệp hơn là hư danh, rồi có lẽ cũng đổi được thói ấy. Chỉ có một điều là ta nên nhân cái nền nếp cũ xếp đặt đã có thứ tự thì người làm đàn anh nên ở cho đứng đắn, chớ nên cậy mình có vai vế mà khinh bỉ người ngu dân, phải nên giữ lấy đạo công bằng, đừng hà hiếp ai, mà cũng đừng nhũng lạm của làng. Dân ta phần nhiều là người hiền lành thuần thục, nếu được người đàn anh đứng đắn thì dân tình rất quý phục, dân đã tin thì nói ra một tiếng là nghe răm rắp, có lẽ việc khó đến đâu khiến cũng nổi.

Nhưng cũng chớ bảo dân là ngu. Nếu người đàn anh chỉ biết chuyện lợi một mình, bòn khoét của làng mà lại ỷ thế lực, ra mặt hông hách, thì tức nước võ bờ, thường lại sinh ra việc kiện tụng, thành ra một tệ tục cho làng.

       

VIỆT NAM PHONG TỤC – Phan kế Bính (1915)

       

XII.   VIÊN CHỨC

Viên chức là những người có trách nhiệm có quyền hành trong làng. Đầu hết có một người tiên chỉ, một người thứ chỉ. Tiên thứ chỉ là các hạng hưu quan trí sĩ về làng, hoặc ngươi khoa trường chức sắc, nếu không có khoa trường chức sắc thì người kỳ cựu già có tuổi cũng được dự vào chân ấy. Dân làng có việc ký kết gì tất phải tiên thứ chỉ ký đầu giấy. Tiên thứ chỉ có quyển quyết đoán mọi việc và có việc gì tất phải hỏi đên tiên thứ chỉ mới được thi hành.

Song cũng nhiều khi tiên thứ chỉ trông nom việc đại cương mà thôi, đến như các việc hương thôn, phó mặc cho bọn kỳ mục khu xử bàn định. Bọn ấy bàn định xong trình qua với viên tiên thứ chỉ là đủ.

Dưới tiên thứ chỉ là hạng kỳ mục. Kỳ mục là những cựu chánh phó tổng, quản tổng, tuần tổng, cựu chánh phó lý hoặc gọi là kỳ cựu hay là hào trưởng cũng là hạng ấy. Hạng này rất có quyền hành trong dân, phàm có việc công việc tư gì, bọn lương thứ lý dịch tất phải trình với tiên thứ chỉ và kỳ mục. Kỳ mục bàn định cùng tiên thứ chỉ rồi mới thi hành, tiên thứ chỉ nhiều khi không muốn dự đến việc nhỏ nhặt thì kỳ mục chuyên quyết với nhau mà thôi. Nhiều khi việc quan cũng phải trách cứ đến kỳ mục mới xong.

Trong làng ai có việc khánh điếu gì muốn mời đến làng tất phải mời đến hạng kỳ mục. Hạng ấy ăn uống xong thường lại giở ra thuốc phiện tổ tôm, các cách chơi bời, người nhà chủ cũng phải thờ phụng hết lòng.

Hàng tổng ai có việc gì to tát, thường cũng phải mời đến kỳ mục các làng. Mà trong khi bầu cử chánh phó tổng hoặc nghị viên cũng phải có kỳ mục.

Kỳ mục có chút lợi gì thường phải chia tay với nhau. Ai có việc gì yêu cầu cũng phải ở cho được lòng cả đám kỳ mục mới được, nếu một người nào không được lòng thì khi việc không xong. Mà đã động họp đến kỳ mục là tất phải có chè chén.

Dưới hạng kỳ mục là hạng lý dịch đương thứ. Lý dịch mỗi làng có một người lý trưởng, một người phó lý, hoặc làng nào nhiều thôn thì mỗi thôn có một phó lý. Lý trưởng, phó lý do dân làng công cử đem trình quan, mà quan cấp bằng cho để thay mặt dân làng mà đôì với nhà nước. Lý trưởng lại có thêm một cái mộc triện của quan cấp cho nữa. Phàm việc bình lượng thuế má, phó lý phải hiệp trợ lý trưởng mà chịu trách nhiệm. Các việc khai báo gì cũng phải lý trưởng thực hiện.

Lại có một người hương trưởng để hiệp trợ với chánh phó lý mà đôc biện các tạp vụ. Hương trưởng cũng do dân làng ký kết bầu cử đem trình quan, rồi quan phê chữ vào đơn dân bầu cho làm bằng. Chức phận của hương trưởng thì về vịệc phu phen đê điều hoặc khi nào nghênh tiếp thượng quan thì phải đem phu đi, hoặc đến vụ thuế thì đi đốc thuế đốc má v.v…

Ngoại giả lại có một vài người khán thủ, trương tuần đê coi riêng về việc tuần phòng trong làng. Đêm phải đem tuần phu đi canh gác chỗ nọ chỗ kia. Hoặc có việc phu phen cũng phải đi đốc thúc. Hạng này thì do dân làng cử riêng với nhau chớ quan không biết đến.

Lý trưởng, phó lý, hương trưởng, khán thủ, trương tuần đều gọi là đương thứ lý dịch. Làm việc có hạn hoặc ba năm hoặc năm, sáu năm. Hễ mãn hạn mà không có can cữu gì thì được dự vào chân kỳ cựu. Trong khi làm việc trừ các việc to đối vối quan vối nhà nưốc, và các việc to tát trong làng thì phải có tiên thứ chỉ kỳ mục hội định, còn các việc nhỏ như việc khai báo, việc xử đoán đám đánh nhau, đám trộm cắp xì xằng thì đương thứ lý dịch có quyền chuyên quyết lấy.

Ngoài hạng lý dịch có nơi lại đặt thêm một người thủ khoán để giữ khoán ước trong làng, khi nào có ai trái khoán ước thì chiếu khoán ra mà thi hành. Có nơi đến vụ thuế thì kén mỗi họ lấy một người vật lực gọi là phần thu để đốc thu thuế má, hễ trong họ ai thiếu thuế thì người ấy phải chịu trách nhiệm, có nơi lại đặt thêm giám trương, chánh xã, để giúp việc cho lý dịch. Hạng ấy gọi là hương hào và cũng được dự vào chân viên chức.

Xét những hạng viên chức trong làng, trên có tiên thứ chỉ để làm chủ trương cho công việc trong một làng, giữa có hạng kỳ mục để bàn định, quyết đoán, phân xử mọi việc, dưới có hạng lý dịch để thi hành các việc, dưối nữa lại có hạng trương tuần khán thủ đế giúp việc cho lý dịch.  

Cứ như phép cai trị thì nhà nước chỉ biết một mình lý trưởng là người thay mặt chung cho cả làng mà chịu trách nhiệm với nhà nưốc, thứ nữa là phó lý, việc gì quan hệ lắm lý trưởng làm không nôi thì mới phải hỏi đến tiên thứ chỉ kỳ mục, nhưng cũng chuyên trọng vào một lý trưởng mà thôi.

Song cứ thực tình ở trong làng, thì lý trưởng chỉ có quyền xuất đầu ứng tiếp với nhà nước và xử đoán các việc nhỏ nhặt, chớ động đến việc to tát như việc bổ bán, việc tế tự, việc quan hệ đến đồng tiền phân bạc thì phải trình với tiên thứ chỉ kỳ mục mới xong. Mà tiên thứ chỉ thì trừ ra mấy người hào trưởng, mấy người võ biển và mấy ngươi khoa trường chức sắc khí cực hẹp hòi thì mới tranh vối bọn kỳ mục mà giữ lấy quyền ăn nói, quyền xử đoán. Còn phần nhiều là bực hưu quan trí sĩ hoặc ngươi khoa mục nghĩ đến cách cao xa không muốn đem mình bận đến việc hương thôn thì chỉ gọi là chủ trương, trông qua các việc đại khái, còn thì phó mặc cho bọn kỳ mục lo liệu, miễn là xong việc mà không hại đến làng là đủ. Cũng có người thì bỏ phắt mà không nhìn đến việc gì.

Nói rút lại thì công việc trong làng, trên thì tiên thứ chỉ không muốn nhìn đến, dưới thì phưòng lý dịch chẳng qua cũng là con em hoặc đầy tố các kỳ mục, há miệng mắc quai nón, mà cũng muốn a dua với bọn ấy thì mới kiếm được mồi, và lại muốn học đòi mấy ngón khôn ngoan nữa. Còn dưới nữa thì gọi là dân đen đầu, biết gì mà dám nói. Vì thế quyền hành của kỳ mục rất lớn, thế lực rất to. Mà trong hạng kỳ mục, thì lại chỉ độ một hai người gọi là nhất nhì hạng kỳ mục phi tay hào cương hách dịch, thì là tay gian giảo điêu ngoa. Còn nữa chẳng qua là ngươi có chân kỳ mục iũng a dua vào mấy người ấy mà thôi.

Ta cũng vì những ngươi có kiên thức, cho việc hương thôn là việc nhỏ nhặt, không thèm tưởng đến, cho nên không mấy nơi cải lương được tục làng cho nên tục hay. Còn bọn kỳ mục thì phần nhiều là chỉ biết ích kỷ, họ có thiết gì đến vận dân mai sau, chỉ động có chút lợi lộc gì thì xâu xé với nhau, hoặc dân đàn em hơi có chút gì lầm lỗi thì bói móc hạch lạc, làm cho ra mặt hách dịch với mấy đứa cắn hạt cơm không vỡ là cùng. Gần nay nhà nưóc đã soi xét đến hủ tục của ta, đã có nghị định cải lương hương chính, mà các người có chí cũng đã để lòng vào việc cải lương. Các hội nghị viên thương nghị, muôn đặt ra hội đồng hàng xã để giúp việc cho lý trưởng, lại đặt ra hương sư để coi việc dạy học, đặt ra người thủ quỹ để giữ tiền công của làng, đặt ra người thủ bạ đê giữ sổ sách, có lẽ cũng nhiều điều ích lợi. Song cái quyền nghị định thì ở nhà nước còn cái quyền châm chước thi hành thì ở dân làng. Các bực có kiến thức, đừng nên nghĩ việc hương thôn là việc nhỏ nhặt mà bỏ qua, phải biết vận nước hay dở cốt ở trong hương thôn mà ra, phải lưu ý giúp nhà nước mà sửa đổi các tục dở, để nên một làng thịnh vượng, ấy là trách nhiệm của các ông có kiến thức, chớ không nên trông mong cả vào nhà nước, nhà nước không có thê soi cho thấu mà sửa hết các. tục hủ bại của dân làng được.