Thần tiên Việt Nam

Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài 1 – 越南道教道士 – 越南道士

 

 

Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại

Bài 1

越南道教道士 – 越南道士

tho_cung_to_tien_290913.jpg 

 

越南道教 道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

 

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI VIỆC LY HÔN, TÁI GIÁ

1. NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI VIỆC LY HÔN

Thời xưa không có luật hôn nhân, tục lấy lễ (lý) làm luật; về lễ của hôn nhân, người xưa có cách nói thất xuất, tam bất khứ (bảy trường hợp đuổi đi, ba trường hợp không được đuổi đi). Theo ghi chép trong Trung lễ tục học cương yếu, thì “‘Đại đới lễ ký, thiên Bản  mệnh’ có thất xuất: 1. Không nghe lời cha mẹ; 2. Không có con; 3. Dâm đãng; 4. Đố kỵ; 5. Có ác tật; 6. Lắm lời; 7. Trộm cắp. Và ngược lại thì có tam bất khứ, gồm: 1. Không nơi nương tựa, trú thân; 2. Đang để tang ba năm; 3. Trước cơ hàn, sau phú quý”. Trong xã hội phụ quyền, thì thất xuất hoàn toàn có thể khiến cho người nam nắm được toàn quyền ly hôn một cách hợp pháp. Ngay đến cách nói tam bất xuất thì trên thực tế cũng chỉ hữu danh mà vô thực. Người Hán và một vài tộc người khác đều kỵ hôn nhân bị tan vỡ, vợ chồng phân ly. Họ cho rằng, chồng vợ hiệp hòa đến trăm năm đầu bạc, kết bạn suốt đời ấy mới chính là cuộc hôn nhân hạnh phúc, mỹ mãn. Nếu mà nửa đường trắc trở thì cho rằng mình sẽ bị mất mặt, là một chuyện rất đáng nhục. Điều này rất quan trọng đối với phụ nữ. Thời xưa, việc ly hôn đều hoàn toàn nằm vào sự tử tế hay ác độc của nam giới. Ly hôn được gọi là cho vợ nghỉ hưu, điều đó càng nói lên rằng, địa vị của phụ nữ trong xã hội thời xưa là rất thấp. Vì vậy, trên thực tế thì “thất xuất” đã trở thành tín điều trong tất cả mọi hành vi của người phụ nữ sau hôn nhân, phải cẩn trọng từng ly từng tý, nhằm để tránh phạm phải cấm kỵ. Thời xưa, trong hôn nhân của người Duy Ngô Nhĩ thì chỉ cần người đàn ông giận và nói câu tháp lạp khắc (ý là thôi vợ) thì điều đó cũng ngang với lời tuyên bố ly hôn, hai vợ chồng sẽ không thể ở bên nhau nữa. Nếu như muốn khôi phục lại quan hệ vợ chồng thì phải thỉnh người tuyên lễ hoặc người tụng kinh đến để tụng. Nếu người nam nói tháp lạp khắc đến lần thứ ba, thì có nghĩa là không thể khôi phục hôn nhân lại được nữa.

Sau khi ly hôn, người phụ nữ không những bị cha mẹ chỉ trích nghiêm khắc, mà trong xã hội, cô ta cũng bị kỳ thị, bà con hàng xóm đều cấm kỵ không để người đàn bà ly hôn bước vào trong sân nhà. Phương nam cũng cấm kỵ ky hôn, kỵ viết giấy ly hôn trong nhà, mà thường là được viết ở trong nhà hoang chùa tạnh. Ngạn ngữ có câu “Trên mảnh đất thôi vợ, ba năm không mọc cỏ”. Người Đạt Oát Nhĩ cho rằng, ly hôn là một chuyện rất xấu, nếu như người nam nhất quyết phải ly hôn, thì cũng phải tiến hành nghi thức ly hôn. Nghi thức này sẽ do nhà bên mẹ ruột chủ trì, người chồng phủ phục dưới đất, người vợ bước qua cổ của anh ta, sau đó dùng vải trắng buộc lên đầu ông táo và lên ống thông khói, tượng trưng cho người chồng đã chết, như thế mới được xem là ly hôn có nghi lễ. Người ta dùng hình thức ly hôn này để giải trừ những điều bất hạnh do việc ly hôn mang lại.

2. NHỮNG CẤM KỴ KHI TÁI GIÁ

Tục hôn nhân của người thời xưa cho phép người đàn ông lấy vợ lại, nhưng lại cấm kỵ phụ nữ tái giá, gọi là “Chồng có thể tái thú, vợ không tiếng hai chồng”. Người nam khi lấy vợ kế, thông thường có nguyên nhân là không có con để chăm lo dòng hương hỏa. Nếu đã có con rồi mà lấy thiếp thì cũng bị miệng đời dị nghị. “lễ tục học cương yếu” từng nói: “Có con mà nạp thiếp, nhiều người sẽ chê cười, cho rằng đó không phải là đạo tề gia”. Nhưng thời xưa, trong xã hội thì luôn có những người đàn ông chê vợ mình đã lớn tuổi, dung mạo xấu xí nên phải lấy thiếp. Đàn ông tái thú, tục gọi là có mới nới cũ, là phụ tình lang. Đàn ông người Hách Triết kỵ lấy đàn bà đã bị bỏ (ly hôn), gọi là “không tìm lấy vợ của người còn sống”. Đối với người Duy Ngô Nhĩ, đàn bà nếu muốn cải giá thì phải trải qua thời kỳ chờ đợi là ba tháng lẻ mười ngày hoặc sáu tháng lẻ mười ngày. Khi ly hôn, nếu người đàn ông mà nói là “tháp lạp khắc thì thời gian chờ đợi là ba tháng mười ngày; nếu người đàn ông mà nói ô kỳ tháp lạp khắc thì thời gian chờ đợi là sáu tháng lẻ mười ngày. Khi ly hôn, nếu người nữ đang mang thai thì cần phải đợi sau khi sinh con được bốn mươi ngày mới được phép cải giá, con cái được sinh ra ấy sẽ thuộc về bên chồng cũ.

Hầu hết các tộc người xưa đều cấm kỵ không lấy góa phụ. Chồng chết thì gọi là góa. Tục cho rằng, âm hôn của người chồng luôn đi theo bên cạnh vợ mình, nếu có người đàn ông nào lấy phải thì sẽ bị âm hồn ấy là sùng. Người ta lại cho rằng, những người lấy góa phụ thì khi chết đi, xuống âm gian sẽ tranh đoạt người đàn bà ấy với người chồng cũ. Vì vậy, dân gian đại kỵ việc lấy góa phụ. Nếu như đàn ông góa vợ mà tục huyền (tái thú) thì không kỵ góa phụ, vì cả hai đều ngang nhau, vận mệnh tương đồng. Người Hán kỵ lấy góa phụ thân gần, vì e mắc phải tội loạn luân. Thời xưa, các tộc người Miêu, người Môn Ba, người Cảnh Pha đều có chuyển phòng chế, không kiêng kỵ với góa phụ thân gần, thường thì anh chết, em trai sẽ lấy chị dâu cuả mình; em trai chết thì anh lấy em dâu của mình. Ở tộc người Môn Ba, giữa anh em cùng cha cùng mẹ và anh em họ hàng cũng có thể chuyển phòng nhau, nhưng phải được sự đồng ý của bên người nữ, nhưng phải qua hai năm sau khi phát táng thì mới được chuyển phòng. Giữa những người không cùng lứa (vai vế), thì cấm kỵ có sự thay đổi cho nhau.

Góa phụ cải giá, thời xưa được gọi là tái tiếu, nghĩa là cử hành thêm một lần tiệc rượu nữa, hoàn toàn không mang ý cấm chỉ. Trong lịch sử, những ví dụ về chuyện góa phụ cải giá cũng rất nhiều, bất kể là trong chốn cung đình hay trong dân gian, người ta đều cho phép góa phụ cải giá. Nghe bảo rằng, vào thời Tùy Văn đế đã từng có lệnh cấm thê thiếp của quan từ hàng cửu phẩm trở lên không được phép tái tiếu. Nhưng trên thực tế, cả quan lẫn dân đều không bị trói buộc gì bởi lệnh cấm này, thậm chí là đến đời Bắc Tống thì cũng vẫn là như thế. Nhưng sau khi học thuyết lý học của Trình, Chu hình thành thì trong dân gian đã bắt đầu có kiêng kỵ, cho rằng “chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn”. Những tư tưởng kiểu “Theo một chồng đến cuối đời”, “ngựa hay không ăn cỏ rủ lá, gái ngoan không gả cho hai chồng”, “ngựa hay không thắng hai yên, liệt nữ không gả hai chồng” càng trở nên mạnh mẽ, ngày càng cho rằng góa phụ mà tái giá thì đó là hành vi đại nghịch bất đạo. Do vậy mà khi góa phụ cải giá, thì họ gặp phải rất nhiều cấm kỵ, đồng thời, trên phương diện tập tục thì mỗi nơi còn có những sự khác biệt nhau khi có việc hôn nhân giá thú.

Ở vùng Giang Tây, Giang Nam, người ta xem tái tiếu là một chuyện xấu hổ, khi góa phụ tái tiếu thì chỉ được vào cửa bên, cửa sau hoặc là vào một lỗ khoét ở tường, mà không được vào cửa chính, cửa giữa, khi gả thì phải tiến hành vào ban đêm, không được dùng kèn trống. Nếu như để người ta phát hiện, thì mọi người sẽ cho rằng đó là điềm không lành, có người còn mắng vài tiếng để phá giải. Người Ngạc Luân Xuân có tập tục rằng, nếu như góa phụ đã có con trai, thì thường là không được tái giá. Nếu như muốn tái giá thì cũng phải nuôi dưỡng đứa con trai cho đến khi khôn lớn, thành tài. Nếu nhà mẹ ruột đồng ý để người đàn bà góa ấy bước thêm bước nữa, mà người nhà của người chồng cũ không đồng ý, thì nhà mẹ ruột sẽ phải cướp hôn. Chỉ cần cướp được cột tiên nhân (âm trạch trong ngôn ngữ Ngạc Luân Xuân và ngôn ngữ Ngạc Ôn Khắc, có nghĩa là nơi che ánh mặt trời, là một loại màn buông mang tính di động của tộc người săn bắn phương Bắc ), thì nhà người chồng cũ sẽ không còn quyền cưỡng bức giữ người đàn bà ấy lại. Tộc người Triều Tiên cũng kỵ góa phụ tái giá, vì cho rằng như thế là không trinh tiết, người cải giá luôn bị kỳ thị. Ở tộc người Hán ở Sơn Đông, nghi thức lấy góa phụ làm vợ cũng khá đơn giản, không kèn trống, không đón rước. Nghênh thân (đón dâu) thì chỉ dùng xe chứ không dùng kiệu, tục gọi là kéo cuộc hôn nhân sau.

Trong dân gian vùng Phương nam, góa phụ tái giá cũng kỵ không được ngồi kiệu từ nhà mẹ ruột như cô dâu mới, mà phải đi bộ, đi đến nữa đường mới được lên ngồi kiệu; có nơi thì góa phụ phải cởi một chiếc áo mà mình thường mặc vứt bỏ tại nơi lên ngồi kiệu, sau đó mới dám lên ngồi trên kiệu. Nếu không làm như thế thì linh hồn của người chồng cũ sẽ theo góa phụ đi đến nhà của người chồng mới, đó là điềm không lành. Dụng ý của việc góa phụ đi bộ một đoạn đường trước khi bước lên kiệu là để cho linh hồn của người chồng cũ bị lạc, cho rằng vợ của anh ta đã đi làm việc gì đó rồi. Sau khi cô gái đã bước lên kiệu giữa đường thì linh hồn người chồng cũ cho dù là có muốn tìm theo thì cũng không có cách nào tìm ra cô ta được. Vứt chiếc áo cũ, cũng chính là để linh hồn người chồng cũ không nhận ra mình. Đối với người Choang ở Quế Trung, trong tuần trăng mật mà người chồng chết, thì gọi là uyên ương quả (chim uyên ương lẻ bạn); nếu người chồng không bị bệnh mà chết thì gọi là đoạn kiều quả (gãy cầu lẻ bạn). Do những trường hợp là hoàn toàn khác nhau, nên những tập tục về đàn bà góa tái giá cũng khác nhau. Khi người đàn bà góa mà cải giá, khi đi ra bên ngoài thì kỵ không được chải đầu, trang điểm; vào ban đêm thì một mình lặng lẽ đi từ cửa sau ra, đến nửa đường thì phải có người đi hướng về phía cô ta, bắn súng và hét rằng: “Không cho nó đi theo, bắn chết nó, bắn chết nó!”, ý là để đuổi linh hồn của người chồng cũ đi. Sau đó thì áp tống cô ta như áp tải phạm nhân đi đến nhà người chồng mới. Khi “uyên ương quả” cải giá, thì đầu tiên là vào lúc nửa đêm canh ba đi đến lều cỏ trong rừng sâu núi vắng để tránh người chồng cũ với thời gian là bảy bảy bốn chín ngày, sau đó mới đến sống ở nhà người chồng mới. Khi đoạn kiều quả tái giá, thì trước tiên là phải đến nơi hoang vắng ở ba đêm, mỗi tối đều phải ôm một gốc cây to nhiều lần, ý là cô ta khắc mộc, và như thế thì sẽ không khắc người nữa. Cây đại thụ mà đã bị người đàn bà đoạn kiều quả ấy ôm qua thì mọi người không được chặt dùng.

Ở một vùng đất Thấm Dương Hà Nam, vào thời xưa, khi người Hán lấy sương phụ (gái góa) thì cũng lấy vào lúc trời chạng vạng hoặc vào ban đêm. Kiệu mà sương phụ ngồi là kiệu không có nóc, chung quanh không có vải che, có người còn ngồi trên chiếc ghế lớn hoặc ngồi ngược trên chiếc bàn vuông. Nơi lên kiệu (hoặc ghế, bàn) đều là ở ngã tư đường bên ngoài thôn, không dùng trống nhạc, không đốt pháo. Khi hạ kiệu (ghế, bàn), hai tay bưng một đấu lương thực, đi vòng qua cây chày, hoặc đi vòng qua cối xay, vòng qua bàn mài. Sử dụng phương pháp này là nhằm để linh hồn người chồng cũ không theo quấy rối nữa. Sau khi sương phụ tái giá thì cấm không được đến nơi ở của người chồng cũ, ngạn ngữ có câu: “Góa phụ về phòng cũ, nhà bại sản người vong mạng”. Đối với người Hách Triết thì góa phụ cải giá không phải bị kỳ thị, chỉ cần để hết tang cho người chồng cũ thì có thể cải giá. Xe rước dâu hay thuyền rước dâu đều không căng vải bạt màu, nghi thức cũng rất đơn giản. Trên đường đi đến nhà đàng trai mà gặp phải cây đại thụ thì phải ôm cây một hồi, người ta cho rằng, làm như vậy thì có thể tránh giải được tai nạn, không làm hại chồng nữa, và sống nửa cuộc đời còn lại một cách tốt đẹp. Góa phụ người Tích Bá phải để tang chồng ba năm, trong thời gian ba năm ấy thì không được cải giá.

CẤM KỴ KHI MANG THAI

Trong tình trạng y tế lạc hậu của đại, mang thai là một sự việc vừa mang tính thần thánh vừa mang tâm lý sợ hãi, do vậy mà trong tư tưởng của họ đã hình thành nên một vị thần linh chuyên cai quản thai nhi, đó là Thai thần, và chính vì thế mà càng xuất hiện nhiều cấm kỵ đối với phụ nữa mang thai. Phòng ở của thai phụ cũng là nơi thường trú chủ yếu của Thai thần, vì thế, những hành vi trong phòng ở của thai phụ cũng phải chú ý giữ gìn hết mực, nếu không sẽ ảnh hưởng đến thai nhi trong bụng của thai phụ.

Gạch, ngói, đất, đá ở trên tường vách trong phòng thai phụ cấm không được di dời, hủy bỏ. Trên tường vách, trên dụng cụ gia đình, trên cửa sổ đều cấm không được đóng đinh. Ở suốt một dãy Hồ Bắc, trong phòng ở của thai phụ đều cấm không cho treo tranh nhân vật. Theo lời truyền lại, nếu xem nhân vật trong tranh nhiều quá thì sẽ khiến cho thai nhi trong bụng của thai phụ khi lớn lên sẽ giống nhân vật trong tranh, tục gọi là hoán thai. Thai phụ cũng không được động đến dao kéo, kim chỉ. Nghe bảo rằng, nếu trong phòng có vật bị trói buộc thì sẽ sinh ra trẻ dị dạng, mười ngón tay không thể duỗi thẳng hoặc tay chân co quắp, có người lại cho rằng, nếu như thế sẽ khiến cho cuốn rốn của thai nhi quấn vào cổ khi trẻ được vừa sinh ra, vì thế mà trong phòng ở của thai phụ cấm không được trói buộc vật gì. Thai phụ cũng kỵ với hiện tượng tắc miệng bình, vì rằng thai phụ mà gặp miệng bình bị tắc nghẽn thì sẽ khiến cho mồm, mũi, tai và hậu môn của thai nhi cũng bị đóng kín. Cấm kỵ việc tự ý di dời rương hòm, chạn tủ, giường ghế trong phòng, nhằm tránh động chạm đến Thai thần, dẫn đến trụy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra không đủ ngũ quan. Cấm kỵ việc thiêu đốt trong phòng, vì sợ rằng sẽ sinh ra những trẻ có mụt ruồi, dấu thai (ban đỏ) hoặc bị bỏng. Thai phụ tộc người Ngạc Luân Xuân kỵ ngồi hoặc ngủ trên da gấu, trên da con hoẵng. Cũng không được chạm đến da gấu, da hoẵng, nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng đẻ non.

Đối với thai phụ mà nói, việc đi ra ngoài phòng là một chuyện càng nguy hiểm hơn, những cấm kỵ đối với thai phụ khi ở ngoài phòng có mấy loại như sau:

Thai phụ không được cầm muối ăn bước qua ngạch cửa. Vì khi sinh nở, nó sẽ khiến cho thai phụ khó sinh con. Theo niềm tin nhân gian, phụ nữ cầm muối ăn bước qua ngạch cửa sẽ đắc tội với thần Ngạch cửa, khi thai phụ sinh con, tay của thai nhi sẽ ra trước.

Thai phụ không được đứng ở cửa nhìn người ta. Vì như vậy sẽ khiến cho Thai thần chốc chốc thò đầu ra ngoài cửa, chốc chốc lại rụt đầu vào trong cửa, sẽ khiến cho thai nhi khi sinh ra sẽ không được thuận lợi. Vào ban đêm, thai phụ cũng không được đi ra mà không trở lại, vì khi đêm xuống, quỷ ma ở ngoài phòng rất nhiều, e sẽ khiến cho thai nhi bị tà khí của Quỷ Sát làm hại.

Khi phụ nữ tộc người Mãn mang thai được năm tháng trở lên thì không được đi vào chuồng ngựa, cũng không không được dắt ngựa. Phụ nữ tộc Ngạc Luân Khắc khi mang thai thì không được ngồi trên xe do con lừa có lông kéo, vì e rằng sẽ bị loài súc sinh đá, cắn, đụng chạm làm hư thai. Các tộc người Hán, người Dư đều có tục cấm kỵ thai phụ bước qua dây dắt trâu. Theo họ, thai phụ khi bước qua dây đắt trâu sẽ khiến cho việc sinh nở gặp phải khó khăn. Bởi vì, thời gian mang thai của trâu là mười hai tháng, nếu thai phụ bước qua dây dẫn trâu thì thời gian mang thai cũng dài như thời gian mang thai của trâu, thì tự nhiên đó cũng là một điềm tượng trưng cho việc sinh sản khó khăn. Thai phụ cũng không được bước qua chiếc cân. Trước đây, trọng lượng cân là mười sáu lạng một cân, theo họ thì khi thai phụ bước qua bên trên cân thì sẽ khiến cho thời gian mang thai sẽ kéo dài đến mười sáu tháng.

Ở Phương nam, tháng bảy là thời gian phổ độ cô hồn, ma đói; theo họ thì trong thời gian lễ Vu Lan (ngày 15 tháng 7 âm lịch còn được gọi là “Tết Trung Nguyên”, “Tết Quỷ”), cấm kỵ việc mang nước tắm rửa của nữ thai phụ ra ngoài sân trước phòng, vì e rằng đến đêm sẽ quên mang vào, mà chọc giận Phổ Độ công, thần Hắc Hổ và cô hồn quỷ đói, sẽ gây điều bất lợi cho thai nhi.

Theo truyền thuyết, dưới giàn nho là nơi thường có tiên gia, quỷ sùng, e rằng khi thai phụ hóng mát dười giàn nho sẽ khiến cho thai phụ sẽ trúng tà khí, lại sợ sau này sẽ sinh ra quái thai của cây nho. Vì thế, thai phụ không được hóng mát dưới giàn nho. Hồ Nam có tập tục cấm thai phụ dẫm đạp lên đậu phộng (đạp lạc hoa), vì nếu không, khi phụ nữ sinh nở sẽ phải “đạp đậu phộng”, nghĩa là khi trẻ sinh ra thì hai chân sẽ xuống trước (đạp hoa sinh). Phụ nữ khi mang thai thì không được tiểu tiện trên đất lạ, hay tiểu tiện trên những nơi mà ngày thường ít khi đi qua, sẽ gây ra hiện tượng dị thường, sẽ dẫn đến việc sinh nở khó khăn, khiến cả mẹ lẫn con bị thương vong.

Mặt trăng thuộc về âm, tục gọi là “Nguyệt nương”, “Thái Âm nương nương”, tượng trưng cho nữ tính. Vì thế, nhân gian cấm kỵ không để thai phụ nhìn thấy những hiện tượng bất thường của mặt trăng, như nguyệt thực, quầng trăng (vầng sáng xung quanh mặt trăng, tục gọi là “cầu vồng trắng” hay “vòng gió”) v.v, vì cho rằng sẽ bị những hiện tượng này cảm ứng đến khiến cho thai phụ bị thiếu máu, đẻ non, hoặc sinh ra trẻ bị khiếm khuyết tứ chi.

Và có một vài khoản cấm kỵ khác về thai phụ được xuất hiện từ quan niệm rửa rội. Do có quan niệm là thai phụ thì không được sạch sẽ và hỷ xung hỷ, nên thai phụ bị cấm kỵ không được đụng chạm đến những vật liên quan đến chuyện cưới xin. Thai phụ không được tham gia hôn lễ của người khác, cũng không được phép nhìn đám cưới, không được đi bên cạnh cô dâu, cấm không được sờ mó kiệu hoa và của hồi môn của cô dâu, cấm không được đi vào tân phòng, không được ngồi lên giường hoa của tân nhân, không được đi ăn cỗ cưới. Theo tập tục của dân gian, thai phụ không được đụng chạm thai phụ, sản phụ; cấm không được ngồi chung với thai phụ và sản phụ trên cùng một chiếc tràng kỷ hoặc nằm ngủ trên cùng một chiếc giường lớn; trong đó, ngoài việc sợ phạm phải những cấm kỵ thường gặp ra, người ta còn sợ hoán thai cho đối phương.

Thai phụ của tộc người Cao Sơn thuộc Phương nam lại cấm kỵ việc dùng vật dụng, vay mượn tiền lẫn nhau giữa thai phụ với những phụ nữ đã từng sinh nở, vì sợ nhiễm phải mà khiến việc sinh nở gặp khó khăn. Còn đối với những đồ đạc trong những nhà mà có phụ nữ lắm con, sinh đẻ thuận lợi thì có thể mượn dùng, vì như thế sẽ giúp cho mình sinh nở cũng được thuận lợi, lắm con như thế.

Thai phụ tộc Ngạc Luân Xuân phía Đông Bắc lại kỵ việc vào buồng sinh. Nghe bảo rằng đã từng có một thai phụ mói với một thai phụ khác rằng: “Cô đợi chút, chúng ta cùng cho ra một lượt nhé”. Kết quả là thai phụ đó không sinh ra được, vì vậy mà không cho phép thai phụ vào buồng sinh. Thai phụ của một dãy huyện Lâm thuộc tỉnh Hà Nam cấm kỵ vào buồng sinh, vì nghe bảo rằng như thế sẽ khiến cho thai phụ khó mà sinh nở. Một dãy Đông Bắc cũng có những tập tục giống như thế, ở địa phương này, người ta cấm không để thai phụ nhìn thấy sản phụ sinh con, cũng chính là sợ sau này sẽ khiến cho thai phụ khó sinh con. Tộc Bạch cũng kiêng kỵ không cho thai phụ bước vào cửa nhà của sản phụ, sau khi sản phụ sinh con xong luôn treo lồng hấp trước cửa, khi nhìn thấy dấu hiệu này thì thai phụ sẽ không thể vào. Nếu không, thai phụ sẽ đạp cạn sữa của sản phụ, khiến cho trẻ mới lọt lòng sẽ không có sữa bú, người ta bảo rằng, thai nhi trong bụng của thai phụ đã bú hết sữa của sản phụ đi. Nếu như thai phụ vô tình bước vào nhà của sản phụ, thì theo quy củ của tộc Bạch, thai phụ ấy phải vào nhà đó tạt nước để tỏ ý chịu tội và cứu vãn tình thế. Một dãy Đông Bắc cũng có tập tục này, nếu như thai phụ bước vào cửa nhà của sản phụ, và “mang” sữa của sản phụ đi, thì gia đình của sản phụ tất sẽ buộc thai phụ mang sữa “trả lại”. Cách “trả sữa” cụ thể như sau: Thai phụ người đã “mang” sữa đi sẽ làm một bát nước miến đến cho sản phụ uống, khi bước vào sân nhà thì cần kêu tên sản phụ mà rằng: “Nè, chị ấy, đã đến trả sữa đây”. Khi ấy, sản phụ ở trong nhà sẽ lên tiếng rằng “À, sữa đã trở về rồi!”. Sau khi nhận bát nước miến, sản phụ cần phải quay lưng lại, mặt hướng vào tường mà uống hết bát miến ấy.

Rất nhiều các tộc người Hán, người Dư, người Ngạc Luân Xuân đều có tập tục cấm kỵ không cho thai phụ đụng chạm đến những đồ liên quan đến tang ma. Tục cho rằng hung xung hỷ, sẽ không có lợi cho thai nhi. Thai phụ không được xem việc làm công đức, cúng vái, tế tổ khi chôn cất, nếu không sẽ gặp nhiều điều bất tường. Do tranh ảnh của tổ tông người tộc Dư là rất lòe loẹt, nên người ta bảo rằng, nếu thai phụ nhìn thấy thì con trẻ sau khi được sinh ra sẽ bị chạm thần kinh. Thai phụ cũng không được đụng vào áo quan, không được nhìn thấy việc nhập liệm, chuyển cữu, không được ăn thức ăn của lễ táng, không được nhận quà tặng của tang gia, không được đụng chạm vào vật dụng của tang gia. Thai phụ không được đi vào phần mộ địa, không được đi trên con đường khiêng người chết đi qua.

Những điều không tốt của phụ nữ sẽ khinh mạn đến thần minh. Do phụ nữ có những điều không tốt lành ấy nên cần phải tránh tiếp xúc với những chuyện liên quan đến thần. Thông thường, thai phụ tộc người Hán kiêng không tham gia vào việc tế tự. Người ta bảo rằng, thai phụ ở gần kham thần, vu chúc đều sẽ làm ô nhiễm thần địa, mạo phạm đến thần. Thai phụ tộc Mãn không được hầu hạ cúng dường thần tổ tiên. Ở Phương nam, thai phụ không được tự ý vào miếu thờ. Ở Hồ Bắc, thai phụ không được nhìn tượng Phật Di Lặc.

Việc đào giếng, xây cầu, bắc bếp đều cấm không cho thai phụ đứng gần phía trước mà nhìn. Người ta bảo rằng, khi đào giếng mà thai phụ sắp đến gần rồi thì việc đào cái giếng ấy chắc chắn chỉ mất công toi, không phải là đào không ra nước, mà nước đào ra được sẽ đắng nghét, mặn chát, không thể dùng được. Trước đây, việc bắc bếp, xây cầu đều là những chuyện cần phải rất thận trọng, bếp thì có thần bếp, cầu thì có thần cầu, nếu như bị uế khí của thai phụ xông phạm vào thì các thần sẽ không chịu để yên. Trong một nhà, ở ba chỗ thành bếp, bệ cửa sổ và bàn mài là những nơi quan trọng nhất, cấm không để thai phụ ngồi vào, thai phụ cũng có thể được làm việc bên cạnh những nơi này, nhưng nếu mệt, muốn ngồi xuống một chốc cũng đều không được. Uế khí của thai phụ sẽ làm ô nhiễm đến ba nơi quan trọng này, khiến cho cả nhà sẽ bị độc khí dơ. Tộc Hán Tây Bắc còn cấm kỵ không để thai phụ đến trước hũ tương.

Theo niềm tin của dân gian, tất cả những sự trưởng thành, hình dáng và cả tính tình sau này của thai nhi đều có liên hệ với việc ăn uống của thai phụ. Vì vậy, việc ăn uống của thai phụ phải hết sức chú ý, không được ăn những thức ăn mà gây ảnh hưởng đến sự phát triển kiện toàn cho thai nhi hay gây ra khiếm khuyết nào đó đến thai nhi sau này. Cấm kỵ ở phương diện này cũng có rất nhiều.

Thai phụ không được ăn thịt thỏ, cấm kỵ này được phổ biến nhất và lâu dài nhất ở . Người ta cấm không cho thai phụ ăn thịt thỏ là do họ sợ rằng thai nhi cũng sẽ bị hở môi như thỏ vậy. Thai phụ cũng không được ăn thịt lừa, thịt ngựa, vì người ta cho rằng, nếu thai phụ ăn thịt lừa, thịt ngựa thì thời gian mang thai sẽ bị kéo dài ra, giống như thời gian mang thai của lừa, ngựa là 12 tháng vậy. Niềm tin “ăn thịt lừa ngựa, khiến thai thêm tháng” này đã từng được Tôn Tư Mạo nhắc đến trong tác phẩm của mình. Từ đó có thể thấy rằng, tập tục cấm kỵ này sớm đã được lưu truyền trong dân gian, ngay từ thời nhà Đường. Thai phụ ở một vài khu vực thuộc tỉnh Hắc Long Giang lại kiêng ăn thịt chó, vì nếu không, sau này đứa trẻ được sinh ra sẽ rất hay cắn người, khi bú sữa sẽ hay cắn đầu vú. Ở một dãy huyện Ngu Thành, Dự Đông lại kiêng không cho thai phụ ăn thịt chó đen, theo họ thì nếu thai phụ ăn thịt chó đen sẽ bị hư thai, đẻ non. Thời xưa, các phụ nữ của tộc người Hán mà chưa đến tuổi phát dục thì cũng không được ăn thịt chó, vì cho rằng thịt chó là thứ không tốt, ăn rồi khi sau này có mang sẽ gây ra hiện tượng khó sinh. Thai phụ tộc người Ngạc Luân Xuân cũng kỵ ăn thịt gấu, thịt hoẵng, nếu không sẽ bị đẻ non. Thai phụ người Thái Nhã Phương nam thì kỵ ăn huyết và nội tạng của động vật, nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng đẻ non.

Ở một dãy Hà Nam đến Trịnh Châu, thai phụ không ăn những quả trứng gà dị dạng, như những trứng non do gà bị thiếu chất canxi; hay những quả trứng nhỏ chưa cứng vỏ được lấy ra từ trong bụng gà khi giết nó đi v.v. Tục cho rằng, thai phụ khi ăn những thứ trứng như vậy sẽ dễ đẻ non. Lại có tập tục thai phụ không được ăn ớt, vì sợ rằng đứa trẻ sau này được sinh ra sẽ bị bầm tím vành mắt, mắt đỏ, mắt lát; lại có người lại sợ rằng tính khí của trẻ sẽ thô bạo, cay độc như ớt vậy.

Gừng cũng là một thứ mà thai phụ bị nghiêm cấm không cho dùng. Tập tục này cũng rất phổ biến, vì ngoại hình của gừng tươi là nhiều ngón, e rằng tai phụ sau khi ăn xong sẽ sinh ra trẻ có ngón tay thừa. Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán cũng có ghi chép về quan niệm “nhâm phụ thực khương, lệnh tử dư chỉ” (tức: đàn bà có mang ăn phải gừng thì sẽ khiến cho con bị thừa ngón). Và vì gừng cũng có đặc tính là cay, vì vậy mà người ta cho rằng, thai phụ sau khi ăn gừng thì sẽ bị bệnh mắt. Và cũng bời vì gừng có thể tán khí, nên cho rằng, sau khi thai phụ ăn xong thì sẽ gây trụy thai, đẻ non.

 

NHỮNG CẤM KỴ KHI SINH ĐẺ

Sinh đẻ là giờ phút trẻ con rời khỏi cơ thể người mẹ, là giờ khắc thần thánh giáng sinh trên cõi đời, cũng chính là thời khắc mệnh hệ mang tính quyết định vận mệnh sinh tử của người mẹ, vì vậy mà cũng có rất nhiều điều cấm kỵ.

Việc sinh đẻ của sản phụ là một chuyện quan trọng mà hung hay cát đều chưa đoán biết trước được, vì vậy, thông thường thì người ta sẽ dựng riêng một nơi chuyên dành cho việc sinh nở, còn những điều cấm kỵ về phương diện này thì chủ yếu có nguồn gốc tại ở nơi ở cũ.

Ngày xưa, sản phụ tộc người Ngạc Luân Xuân không được sinh đẻ ở cột tiên nhân cũ, mà phải đến nơi cách đó rất xa, và dựng lên một Củ ha hán (“Củ ha hán” tức là “buồng sinh”) để sinh đẻ. Sản phụ tộc Tạng cũng không sinh con ở trong lều, nơi sinh đẻ nhất định phải cách xa nơi ở. Tộc người Độc Long cũng cấm kỵ không cho sản phụ sinh đẻ ở trong phòng, họ sợ khí “bất khiết” của sản phụ sẽ phạm đến những vật dụng săn bắn trong nhà như cung nỏ, khiến cho họ có đi săn mà không có thú. Khi sản phụ sinh đẻ thì nhất thiết là phải đi ra bên ngoài, sau khi sinh con xong mới có thể bế con trở vào nhà, và sản phụ phải vào sinh con trong chuồng trâu chuồng dê.

Các tộc người như tộc Hán, tộc Hani, tộc Chuang, tộc Miêu đều có tập tục cấm kỵ việc sản phụ trở về nhà mẹ để sinh con. Khuê nữ một khi đã xuất giá thì đã trở thành người bên nhà chồng, đến nhà mẹ ruột để sinh con là một điều không hợp lý lẽ. Nếu mẹ và con có gì bất trắc thì nhà mẹ ruột cũng không thể nào gánh vác nổi. Theo họ, còn một lý do nữa là những máu dơ, khí uế của việc sinh nở sẽ mang đến cho nhà mẹ ruột huyết quang chi tai (nạn đổ máu). Sau khi thai phụ tộc Miêu mang thai được tám tháng, sẽ bị cấm không cho trở về nhà mẹ ruột, sợ do sinh sớm mà sinh con tại nhà mẹ ruột, tục cho rằng con gái sinh con của họ khác tại nhà mẹ mình thì sẽ mang phúc khí  của nhà ruột đi mất, và để lại chỉ là tai nạn. Thai phụ tộc người Miêu nếu như không kịp về đến nhà mẹ chồng để sinh con thì sẽ được người nhà bên mẹ ruột của mình (thông thường sẽ do em gái của cô ta) dựng một cái lều cỏ ở bên ngoài nhà và cô ta sẽ sinh con ở đấy, nếu như đến lều cỏ mà cũng không dựng kịp thì sẽ sinh con trong nhà mẹ ruột, và đợi đến một tháng sau khi sinh sẽ trở về nhà chồng, phải để cho chồng mời một thầy phù thuật đến nhà chồng để làm nghi thức tịnh ốc (làm sạch nhà cửa).

Tộc Hán có tập tục kỵ sinh con trong nhà mẹ ruột, tục này đã rất lâu. Trong “Phong tục thông nghĩa” có nói đến rằng: “Không nên về nhà cũ sinh con, tục cho rằng sẽ khiến cho người ta suy vi. Theo đó, người đàn bà sẽ dễ vào tay người đàn ông khác, vì thế mà không cho trở về là vậy”. Từ đó có thể thấy rằng, từ đời Đường thì tục này đã hiện diện, cũng có nghĩa là người nam đã làm chủ. Điều này là do, một là sợ thân thể thai phụ sẽ dễ bị tổn thương, suy nhược; hai là sợ sau khi trở về nhà mẹ ruột, người khác sẽ di hoa tiếp mộc, thay họ của anh ta. Ở một dãy đất Sơn Đông, Thái An, người ta cho rằng, hiện tượng sinh con tại nhà mẹ ruột sẽ khiến cho nhà người mẹ suốt đời bần cùng. Ở một dãy đất Lâm Thanh thì cho rằng, những đứa trẻ sinh ra ở nhà người mẹ ruột sẽ không thể thành người, nếu như quả thật đã sinh con ở nhà người mẹ ruột thì người chồng phải dùng trâu cày một bên nhà mình thì mới có thể hóa giải được.

Mặc dù là sinh con trong nhà của mình, nhưng cũng sẽ có những cấm kỵ đối với những điều bất cát. Do vậy, buồng sinh được bố trí tại vị trí nào đó cũng là một sự việc cần phải cân nhắc, đắn đo. Buồng sinh của tộc Mãn không nên bố trí ở phía tây nhà (cũng kiêng kỵ không bố trí tại giữa nhà). Trên phương diện phòng ốc, tộc Mãn có tập tục “Sùng tây”: Bức tường phía tây là nơi thần thánh, chỉ dành để thờ phụng tổ tiên, không cho phép treo bất kỳ một đồ vật nào khác; giường lò phía tây tục gọi là “giường vạn tự” (cũng chính là ý nghĩa “giường của họ tộc”), là vị trí của thần thánh, không được tùy tiện ngồi hay nằm lên. Buồng sinh của thai phụ tộc người Hani tỉnh Vân Nam thường được bố trí ở trong phòng nhỏ của chồng, không được bố trí trong phòng lớn nơi ở của cha mẹ chồng. Trước đây, đại gia đình của tộc người Cơ Nặc ở Tây Song Bản Nạp được cư trú trong một tòa nhà sàn bằng tre, trong đó có nhiều gia đình nhỏ, khi sản phụ sinh con thì không được sinh ở trong nhà sàn lớn, mà phải sinh trong một gian phòng nhỏ bằng cách sao lá trà làm nệm trải dưới nhà sàn, sau khi cắt đứt dây rốn xong thì mới được lên lầu.

Người Đông Bắc ngủ trên giường lò (phía Đông Bắc rất lạnh, khi ngủ phải đốt than nóng dưới gầm giường – TDK chú), trong xã hội cũ, khi sinh con thì không được dây chạm đến giường lò, đầu tiên cần phải cuốn dựng chiếu lên, rồi lấy cỏ trải lên giường rồi sinh con trên cỏ, tục gọi là xuống cỏ rồi. Nếu không, sinh con lên chiếu trên giường lò sẽ làm dơ mặt của những người trong nhà, mai sau sẽ sống những ngày không tốt đẹp gì.

Ở một dãy đất phía Đông Bắc, khi thai phụ sinh con thì giường sinh kỵ không được nằm đối diện tường có ống khói, người ta bảo là sợ xung phạm đến “thái tuế”. Nếu đã xung phạm đến “thái tuế”, thì trong vòng 12 năm sẽ không thể nào sinh đẻ được nữa. Trong thời đại mà người dân còn tín ngưỡng “đa tử đa phúc” (nhiều con nhiều phúc), thì đây là một điều bị uy hiếp rất lớn. Ở Phương nam, cho đến nay vẫn còn tin theo phong tục sản đồ, sản đồ tức là hình vẽ hạn định phương vị của buồng sinh, người ta cho rằng, “không theo sản đồ, sẽ khiến cho mẹ con gặp nhiều bất trắc”, hoặc là sinh con khó khăn. Ở Phương nam vẫn còn có tập tục sản phụ sinh con trên đống rơm rạ, nhưng có điều không giống với phía Đông Bắc là, người bình dân của Phương nam sinh con trên đống rơm rạ lót dưới đất ở phía trước của giường nằm, mà không phải là trên giường. Theo họ, đó là do họ sợ máu dơ sẽ xung phạm đến (thần) mẹ giường (sàng mẫu). Thai phụ tộc người Hani ở một dãy Nguyên Giang, Hắc Long Giang thì sinh con ở trước đống lửa trong phòng lớn, tục này quy định hướng người của sản phụ là phải thẳng với sống nhà, không được nằm lệch, nếu không sẽ gặp điều không lành.

Buồng sinh là nơi cấm địa, rất nhiều người không được bước vào buồng sinh. Rất nhiều tộc người như tộc Hán, tộc Miêu, tộc Ngạc Luân Xuân, tộc Đạt Oát Nhĩ, tộc Mãn, tộc A Xương, đều có tập tục cấm nam nhân vào trong buồng sinh.

Người nam tộc người Ngạc Luân Xuân không được đi vào buồng sinh, bao gồm cả phòng của người chồng. Khi sản phụ sinh con, nếu như trong nhà không có đàn bà con gái lo liệu thì người nam phải lo việc cơm nước, dùng một cái cán gỗ để đẩy thố cơm vào buồng sinh cho vợ ăn. Khi sản phụ của tộc người Di sinh con, người chồng cũng không được phép ở lại trong buồng sinh để phục vụ vợ, mà cũng phải đi ra khỏi nhà giống như những người đàn ông khác trong gia đình. Nếu như sản phụ muốn ra cửa, thì cần phải chọn ngày lành, đồng thời phải rửa mặt, quét nhà, nếu không sẽ bị cho là mang những đồ bẩn ra ngoài nhà. Tộc người Đạt Oát Nhĩ cũng cấm kỵ không cho người nam vào buồng sinh, theo họ thì người nam sẽ dễ đạp phải trẻ. Nếu có người nam nào vô tình bước vào trong buồng sinh, thì sau khi anh ta đi ra, mà đứa trẻ có mắc phải bệnh gì, thì đó chính là do người anh ta dẫm phải đứa bé, cần phải đi tìm và cắt vài miếng móng chân của anh ta, đem về cùng đốt chung với cây ngải hao, đợi đến khi bốc khói thì ôm đứa bé đến hơ vài lần trên khói, nhổ miếng nước bọt vào và nói rằng: “Xuỵt xuỵt, tà khí, mày chạy đi này”. Làm như thế mới có thể giải trừ được tai ách. Trong vòng bảy ngày khi sản phụ tộc người A Xương sinh con, những người đàn ông của những gia đình khác bị cấm kỵ không được phép vào sân nhà của nhà có người sinh con.

Không những chỉ cấm người nam không được vào buồng sinh, mà người nữ cũng không được tự tiện bước vào nếu không có việc gì. Số người trong buồng sinh không được quá nhiều. Ở một dãy vùng đất Hắc Long Giang vẫn có niềm tin là nếu người trong buồng sinh quá nhiều thì sẽ khiến cho sản phụ khó sinh. Theo họ, nếu trong buồng sinh có thêm một người thì thời gian sinh sẽ kéo dài thêm hai tiếng đồng hồ, thai nhi cũng sẽ ra muộn hơn hai tiếng đồng hồ. Vì vậy, trong buồng sinh thường là chỉ có người nữ, mà càng ít càng tốt. Sau khi sản phụ của tộc người Tạng sinh con xong, kiêng kỵ không cho người nữ vào trong nhà, theo niềm tin của dân tộc này thì họ sẽ dẫm phải sữa của sản phụ. Điều này chính là do họ sợ người đàn bà khác đến hút lấy năng lực mớm bú của sản phụ mà chuyển sang bản thân mình. Tương tự như điểm này, trong nhà của người tộc Bạch nếu có trâu hoặc ngựa đẻ con thì cũng cấm không cho phụ nữ bước vào nhà, vì sợ người phụ nữ ấy đạp hết sữa của trâu, ngựa.

Nhằm tránh hiện tượng người ngoài vào buồng sinh và làm sản phụ mất sữa, thì ở các tộc ở các nơi cũng có rất nhiều quy củ, cấm kỵ; sản phụ tộc người Tạng ở Thanh Hải sau khi sinh con xong cũng bị cấm không được tiếp đãi tất cả khách khứa. Sau khi sản phụ tộc người Hán sinh con xong, trong vòng một tháng đó không được để người lạ bước vào buồng sinh, đặc biệt là thai phụ, quả phụ, những người tuổi Dần, cô dâu mới, những người tin theo thần linh Phật giáo, những người đang chịu tang… thì lại càng bị cấm kỵ, có nghĩa là, thông thường thì người ta cho rằng, người chăm sóc sản phụ khi sinh nở thích hợp nhất là người trong nhà, nếu như thuộc vào những trường hợp trên thì sẽ bị chặn lại bên ngoài cửa, không được đi vào bên trong. Những người đang bị đau mắt thì cũng không được vào buồng sinh, nếu không thì bệnh đau mắt ấy sẽ ngày càng nghiêm trọng.

Tộc người Hán cũng cấm kỵ không cho mang đồ kim loại như đồng, sắt v.v. vào buồng sinh, đặc biệt là cấm kỵ không cho người mang chìa khóa vào buồng sinh. Càng kiêng kỵ việc lấy đồ vật trong buồng sinh ra bên ngoài, và cũng kỵ húy việc mượn đồ vật từ bên ngoài vào. Những cấm kỵ này đều có lý do là sợ đem sữa của sản phụ đi mất. Nhằm tránh chuyện rủi ro, một dãy vùng Đông Bắc còn phải dùng chìa khóa để khóa chiếc chiếu trên giường lò lại, ngụ ý là khóa sữa lại, tức là nếu có người mang chìa khóa vào buồng sinh thì cũng không còn sợ gì nữa. Tộc người Ngạc Ôn Khắc ngoài kỵ húy việc mang chìa khóa vào buồng sinh, họ còn kỵ húy việc mang súng hoặc roi ngựa vào buồng sinh.

Những tập tục cấm kỵ ở cửa buồng sinh đều tồn tại ở rất nhiều tộc người khác nhau với hình thức tương tự nhau. Thời xưa, nếu trong nhà sinh con trai, thì người ta sẽ treo vòng cung ở bên trái cửa, “vòng cung” là cung bằng gỗ, tượng trưng cho nam tính rắn rỏi; nếu trong nhà sinh con gái thì người ta sẽ treo khăn mùi xoa ở bên phải cửa, “khăn mùi xoa” là cái khăn móc, tượng trưng cho nữ tính dịu dạng. Ngày nay, tộc người Hán thường dùng một mảnh vải đỏ để treo thế khăn mùi xoa, để làm ký hiệu cảnh giới. Ở một vùng huyện Định Nhương Sơn Tây, thì hiện tượng cấm kỵ ở cửa buồng sinh ở đây là dùng lúa mạch còn gốc và mảnh vải đỏ kết lại thành một vòng và treo trước cửa. Tục gọi là “treo chữ đỏ”, lại còn gọi là “xem hồ lô”. Nếu như trẻ được sinh ra là con trai, thì trên “chữ đỏ” sẽ treo thêm cung tên và củ tỏi; nếu trẻ được sinh ra là bé gái thì chỉ treo thêm củ tỏi. Tục cho rằng, làm như thế thì có thể ngăn chặn không cho người khác đi vào cấm địa nơi buồng sinh, và lại có thể tránh bệnh tật, chết yểu cho bé gái.

Buồng sinh cần phải yên tĩnh, đặc biệt là sau khi sản phụ sinh con xong, cấm kỵ việc cạo nồi, bửa củi bên cạnh nơi sinh đẻ. Đây chính là do sợ tiếng chói tai từ việc cạo nồi và tiếng ầm ầm từ việc bửa củi sẽ khiến cho bé gái bị kinh sợ.

Những cấm kỵ trong việc ăn uống của sản phụ là những hiện tượng rất phổ biến tồn tại trong các tộc người ở các nơi khác nhau. Trên phương diện sắp xếp kết cấu bữa ăn uống cho sản phụ thì cần cố gắng tránh ăn những thức ăn chứa sữa. Vào những ngày đầu sau khi sinh đẻ xong, thì đại bộ phận khu vực của tộc người Hán và người Dư trên một dãy đất Trung Nguyên đều cấm kỵ không để cho sản phụ ăn thức ăn sống lạnh, kiêng ăn phải những thức ăn cứng và thức ăn khó tiêu hóa, như các loại thịt, dầu mỡ, mà nên cho sản phụ ăn nhiều (hoặc chỉ ăn) trứng gà, đường đỏ, canh gà, miến, cháo gạo v.v. Trong thời gian sinh con, sản phụ người tộc Tạng bị kiêng ăn thịt ở đầu và bộ đồ lòng của chó, hươu, chó núi. Trong buồng sinh thì cấm không được chiên ăn thịt tươi của các loài dã thú. Họ cho rằng, nếu ăn những loại thức ăn này, thì khi săn bắn thú, họ sẽ không bắn trúng những con dã thú này. Sản phụ ở Phương nam còn kỵ ăn thịt vịt và thực vật sống lạnh (như cải trắng, củ cải) và muối…, vì sợ mắc phải gió trong mặt trăng.

 

CẤM KỴ ĐỐI VỚI TRẺ SƠ SINH

Anh nhi, tức là trẻ mới sinh trong vòng một năm, thời kỳ này là giai đoạn yếu đuối nhất trong cuộc đời người, cần phải chăm sóc cẩn thận về mọi mặt. Đối với một đất nước trọng con trai kế tự thì, những cấm kỵ và những kinh nghiệm chăm sóc con trẻ là rất phong phú.

Sau khi trẻ chào đời được ba ngày, trong dân gian, người ta thường phải tắm cho bé một lần, tục gọi là “tẩy tam”. Sau khi tắm cho bé xong, lúc đó mới có thể mặc một chiếc áo ngắn cho bé, nhưng kỵ mặc quần. Dân gian cho rằng, trẻ em khi sinh ra chưa đầy một trăm ngày thì không dược mặc quần, khi không mặc quần thì chân không bị vướng víu, nếu như phải bị chết yểu thì cũng sẽ nhanh chóng được chuyển sinh. Nếu không, quần sẽ quấn chặt vào chân, khi đến âm gian sẽ không trở lại. Nước dùng để tắm lần đầu cho bé mới sinh ra không được phép đổ bừa bãi, vì e rằng sẽ làm ô uế đến thần minh.

Sau khi trẻ được sinh ra, thì ở các khu vực, các dân tộc đều có những tập tục cấm kỵ liên quan đến việc treo vật làm tín hiệu. Một trong những lý lẽ trong đó là, người ta kiêng kỵ không cho trẻ nhìn thấy người lạ. Ở cả một vùng Ôn Châu Chiết Giang, trẻ sơ sinh chưa đủ một trăm ngày thì không được cho ra cửa, ở bên ngoài cũng cấm không cho khách bước vào nhìn thấy trẻ. Nếu không, trẻ sẽ nhìn thấy “phạm xung” của người lạ, đó là điều không lành đối với trẻ, thậm chí là sẽ dẫn đến tử vong. Tộc Dao cho rằng, khi có người ngoài mặc áo trắng, mang giày cò từ ngoài bước vào buồng sinh, thì sẽ khiến cho trẻ kêu khóc ngày đêm, không bú và cũng không ngủ, hậu quả sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn, người tộc Bạch còn cấm không cho người mang cung nỏ bước vào nhìn thấy bé gái, nhưng nếu nhìn thấy bé trai thì không có vấn đề gì. Người Phương nam kỵ không để người tuổi hổ nhìn thấy trẻ sơ sinh, sợ sẽ bị xung phạm đến “tính hổ” của người ấy mà giật mình. Đối với người tộc Đồng, nếu trong nhà có thêm đầy tớ và con cái, thì người đầu tiên đến nhà sẽ được gọi là người thái sinh (踩生:đạp lên sự sinh sôi). Nếu như người đàn ông “đạp” lên bé gái, thì họ cho rằng dương khí sẽ rất nặng, không tốt cho bé gái, khó mà nuôi lớn thành người. Mà người thái sinh lại gặp xui ba năm, nên chủ nhân cần phải đón tiếp nhiệt tình. Nếu như người đàn bà “đạp” bé trai, thì họ cho rằng âm khí sẽ rất nặng, không tốt cho đứa bé trai, sẽ yếu bệnh, bạc nhược. Người thái sinh tất sẽ gặp may suốt ba năm, nhưng vì thế mà sẽ bị chủ nhà đối xử lạnh nhạt.

Phần lớn các khu vực của tộc người Hán đều có tập tục cấm kỵ việc hỏi xem trẻ có bệnh hay không. Nếu bảo rằng trẻ có bệnh, thì tất nhiên sẽ phạm vào điều cấm kỵ, sợ rằng trẻ sẽ bệnh thật, hoặc giả bệnh sẽ ngày càng nặng, còn nếu nói rằng: “Đứa bé này có sức khỏe thật tốt, chưa từng bệnh lần nào”, thì cũng bị phạm vào điều cấm kỵ. Vì nếu bảo rằng “không bị bệnh” mà để con ma bệnh nghe thấy được, nó sẽ tỉnh dậy, lúc đó ngườI ta sẽ phải kêu lên rằng: “đứa bé đã bị một trận bệnh nặng”. Trong dân gian còn kỵ việc bình phẩm, đánh giá sự gầy hay béo của trẻ. Nếu bảo là gầy thì sợ sẽ gầy đi thật; nếu bảo là béo, thì sợ thần linh nghe thấy và nhầm tưởng rằng họ đang “chê béo”, và sẽ khiến cho bé gầy đi.

Tục cho rằng, sau khi trẻ được sinh ra không lâu, đôi mắt rất sạch sẽ, có thể nhìn thấy cả cuộc đời trần thế, lại có thể nhìn thấy cả ma quỷ, vì thế mà người ta cấm không để cho trẻ sơ sinh tham gia hoặc ở gần những nơi diễn ra các nghi thức triều bái, tế tự, cúng Phật, lập đạo tràng, xây miếu. Thông thường, người ta cũng không được cho trẻ sơ sinh ở gần những nơi có chuyện tang ma, cưới xin. Nếu không cẩn thận gặp phải những trường hợp cấm kỵ này thì cần phải tránh ngay lập tức và mời thầy đến xem quẻ hóa giải. Khi trời vừa tối, không được phép mang trẻ ra khỏi cửa, vì nếu không, trẻ sẽ bị ma hoang làm giật mình.

Người xưa rất xem trọng việc có thêm một người mới. Sinh con dưỡng cái là một chuyện hết sức đáng mừng, trong dân gian có rất nhiều lễ chúc mừng và cũng có rất nhiều điều cấm kỵ tương ứng. Ở một vùng Thượng Thái, việc báo tin vui ấy được gọi là “uống rượu mừng”. Nhà bên đàn trai thì gọi là “ăn miến mừng”, còn bên nhà đàn gái thì gọi là “tặng gạo chúc”. Sau khi sinh con đầu lòng, người bề trên của bên nhà đàn trai sẽ đến nhà đàn gái để báo hỷ. Khi báo hỷ, ngoài việc tặng quà bình thường còn phải mang theo một con gà trống (nếu sinh con trai), gọi là “đại hỷ”, và mang sang một con gà mái (nếu sinh con gái), gọi là “tiểu hỷ”. Nếu song sinh, thì mang hai con gà. Nhà gái khi thấy gà thì không cần nói cũng biết được rằng đó là con trai hay con gái. Khi báo hỷ, hai nên bàn bạc nhau lấy một ngày lành để tặng gạo chúc. Việc tặng gạo chúc không được diễn ra vào giữa tháng, vì số “mười” (shi) và “chết” (si) hài âm với nhau, vì thế người ta mới tránh những ngày đó. Quả (tráp) dâng lễ tặng gạo chúc phải chọn kỹ, không được dùng quả đan bằng trúc. Tục ngữ có câu: “nan trúc tát nước chỉ hoài công”, vì thế mà người ta tránh không dùng nó. Trong phần quà phải có thêm một con gà. Nếu là bé trai thì thêm một con gà trống, nếu là bé gái thì thêm một con gà mái, và một lời ngụ ý chúc chuyện hôn nhân của bé khi lớn lên sau này. Nhà trai tiếp đãi, thết cơm cho nhà gái, món ăn chính thường là miến nấu với tỏi, tục gọi đó là “ăn miến mừng”.

Ở tộc Di vùng Vân Nam, sau khi sinh con xong, chàng rể cũng phải đến nhà cha mẹ vợ để báo hỷ. Ngoài việc mang theo rượu uống, anh ta còn phải mang theo một con gà. Nhưng tập tục này cũng khác với khu vực Trung Nguyên, nếu bé được sinh ra là bé trai thì mang theo con gà mái mà không phải là gà trống; nếu bé được sinh ra là bé gái thì mang theo gà trống mà không phải là gà mái. Khi cha mẹ vợ nhìn thấy chàng rể ôm gà mái đến thì biết bé sơ sinh là bé trai, và ngược lại. Sau khi cha mẹ vợ nhận lấy gà, thì cần phải thay cho chàng rể bằng một con gà khác. Nếu gà mang đến là gà mái thì phải đổi lại bằng con gà trống, và nếu gà mang đến là gà trống thì đổi bằng một con gà mái. Chàng rể ôm con gà đã được đổi về nhà nuôi, không được phép giết thịt. Điều này có ý nghĩa là, con gà được mang đi chỉ là một vật báo tin, còn con gà được đổi về mới chính là thuộc tính bản  mệnh của đứa trẻ, vì thế mà không được giết.

Ở một dãy đất Khai Phong, vật báo hỷ khi sinh con lại dùng trứng gà làm vật tượng trưng. Ngay hôm sinh con đầu lòng, chính chàng rể sẽ mang trứng gà đến nhà cha mẹ vợ để báo hỷ. Nếu như sinh con trai, thì luộc sáu hoặc tám trứng gà, nhất thiết phải là số chẳn, không được lấy con số lẻ. Sau khi nhuộm trứng bằng màu đỏ, dùng than đen hoặc nhọ nồi chấm lên một ít vào một đầu trứng, để biểu thị là “đại hỷ”. Nếu như sinh con gái thì phải luộc năm hoặc bảy trứng gà, nhất thiết phải là số lẻ, không dùng số chẳn, và cũng nhuộm trứng bằng màu đỏ nhưng không chấm một chấm đen, để biểu thị là “tiểu hỷ”. Sau khi báo hỷ xong, mẹ vợ sẽ nướng một chiếc bánh nướng, dặn chàng rể sau khi mang về nhà sẽ đồ nát ra cho chó ăn, cho đến khi vứt hết mới thôi. Tục tin rằng, có như vậy mới có thể nuôi con thành người, tránh được nạn chết yểu. Bởi vì chiếc bánh đại diện cho bản  mệnh ấy đã bị chó ăn mất đi rồi, vì vậy mà trẻ không phải sợ gì nữa, sẽ không gặp phải tai họa. Trong dân gian còn có người đặt tên ngoài cho con mình là “của chó thừa”, cũng vì ý nghĩa ấy.

Ở một vùng Thấm Dương Hà Nam, những đứa trẻ chưa đầy một tháng tuổi tục gọi là “quỷ lông thai”, cấm không được ẵm đi vào cửa vòng cửa. Đợi đến khi đầy tháng, bên nhà gái mới đến nhà chồng nơi mà khuê nữ ở, tục gọi là “tiếp chân” hay “qua đầy tháng”. Trước khi đi, cần phải hớt lông thai cho trẻ, để thợ hớt tóc phong lễ. Khi rời khỏi cửa, sản phụ sẽ cột một mảnh vải đỏ lên đầu, cắm một nhành đào hay một nhành cây bách. Đầu của bé sẽ đội vải đỏ. Tất cả đều là do sợ uế khí chưa tan hết, e sẽ gặp phải những điều xung phạm, như thế nên mới dùng vải đỏ, nhành đào, nhành bách để hóa giải.

Đối với hiện tượng thai chết trong bụng mẹ, hoặc sinh ra chưa bao lâu đã chết, thì dân gian cho rằng cần phải vứt trẻ đã chết vào trong nước. Tục cho rằng, làm như không làm thế thì trẻ sẽ thể biến thành tà ma để làm sùng, người mẹ sẽ không thể nào mang thai được nữa.

 

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI TRẺ THƠ

Trẻ thơ phát triển rất nhanh. Những ai làm cha mẹ đều rất thích người khác khen về con của mình. Nhưng khi khen lại cũng có cấm kỵ riêng. Người Hà Nam kỵ người khác ôm trẻ mà bảo “nặng”, kỵ nói đến “đứa bé này thật khỏe mạnh”, không bệnh hoạn gì cả. Bởi vì người ta cho rằng, nếu nói “cát” thì sẽ chuyển ngược lại thành “hung”, nếu nói “nặng” thì trẻ sẽ ốm đi, nếu nói “không bệnh hoạn” thì sẽ khiến trẻ bị bệnh.

Trẻ bị bệnh cũng là chuyện không hiếm thấy. Nếu như bệnh tình của trẻ rất nghiêm trọng, thông thường người ta sẽ dùng cách để thể hiện cấm kỵ ở cửa, tức là dán một mảnh vải đỏ, cắm một nhành cây, treo chiếc mũ cỏ, chiếc nón tre lên trên cửa, hoặc đốt lửa trước cửa nhà, cấm không để cho người lạ bước vào nhà. Thời xưa, rất nhiều tộc người như tộc Hán, Tạng, Di đều có tập tục này. Ở tộc người Bạch, khi trẻ phát ban, người ta dùng cờ giấy đỏ và nhành cây bách cắm lên trên cửa chính, tỏ ý không cho người lạ bước vào cửa. Sau khi cách ly trẻ bị bệnh với thế giới bên ngoài, thông thường người ta còn mời thầy phù thuật, thầy đuổi ma, Đoan công… đến để làm phép trù ma. Ở tộc người Bố Y, khi con trẻ bị bệnh thì phải mời thầy đuổi ma đến để “đoan mệnh cung”, khi đi mời thầy thì kỵ để người lạ qua đường hoặc cấm không được nói chuyện với người ấy. Nếu như trẻ bị bệnh và hôn mê bất tỉnh thì người ta thường cho rằng đó là do con quỷ sùng đến làm mê hoặc, hoặc giả là do hồn phách đã lìa thân, bị yêu quái, ma quỷ dẫn đi. Vì thế mà cần phải “gọi hồn”, nếu không thì trẻ có thể sẽ bị chết vì bệnh, chết yểu. Đây là một trường hợp mà bậc làm cha làm mẹ đáng sợ nhất, do vậy mà kiêng kỵ không được phạm vào tục này.

Hiện tượng trẻ thay răng là một hiện tượng sinh lý tự nhiên, nhưng cũng có cấm kỵ. Răng sữa được thay không được vất bừa. Răng trên cần phải để trên mộng cửa, hoặc chôn xuống đất; răng dưới thì phải ném lên nóc nhà, nếu không thì răng mới sẽ không mọc ra được, hoặc mọc vênh vẹo, không thẳng.

Về sử dụng phục sức cho trẻ cũng có nhiều cấm kỵ. Ở Quý Châu, người ta kiêng không cho trẻ mang dép khi ngủ, vì cho rằng sẽ bị ma quỷ làm mê muội. Ở một dãy vùng Ôn Châu Chiết Giang, người ta có tục cấm kỵ không cho trẻ mặc quần áo màu sáng tươi, loè loẹt. Nếu như trẻ mặc quần áo màu đỏ, thì phải khoác thêm áo lưới bên ngoài, đeo móng hổ hoặc mang dây nịt đặc chế để tránh tà. Ở khu vực Trung Nguyên, người ta cấm không được để quần áo trẻ em qua đêm trong phòng mà không lấy vào. Người ta bảo rằng, ban đêm có rất nhiều con chim ma, e sẽ làm bẩn quần áo, khiến trẻ mang bệnh. Có hai loại nguyên nhân khiến người ta cấm kỵ khi để quần áo trẻ em qua đêm mà không lấy vào như sau: một là sợ nhiễm phải bát tà, tức là nóng, nhiệt, gió, lạnh, kinh sợ, tích trữ, đói, no; hai là sợ nhiễm phải phân của chim bất hạnh (chim bất hạnh còn gọi là chim cô hoạch). Theo truyền thuyết thì loài chim này bay vào ban đêm và ẩn mình vào ban ngày, ẩn giấu quỷ thần trong mình, do vốn không có con nên loài chim này thích cắp con của người để nuôi. Nếu như thấy có quần áo trẻ con lộ ra, thì chim sẽ đến và bắt trẻ đi mất. Truyền thuyết này được lưu truyền từ đời Tuỳ Đường cho đến tận ngày nay. Ở một vùng đất Khai Phong, trong dân gian cũng có truyền thuyết về loài chim chín đầu, nhưng cách làm hại trẻ em thì khác nhau. Tộc người Cảnh Pha thì kỵ dùng vải ống đắp thẳng lên cho trẻ đang ngủ say, vì cho rằng trẻ sẽ không tỉnh dậy được mãi mãi.

Về phương diện ăn uống của trẻ em thì cũng có nhiều cấm kỵ. Dân gian cấm kỵ không cho trẻ ăn chân gà, vì sợ rằng khi đi học sẽ viết chữ xấu, khiến cho mặt chữ trông như chân gà vậy. Lại có người cho rằng, chân gà sẽ phá hỏng chữ, sợ khi viết chữ thì tay run, sợ sẽ đánh nhau với người ta. Trong dân gian còn kiêng kỵ không cho trẻ em ăn trứng cá, vì sợ rằng khi lớn lên sẽ không biết đếm, có người lại bảo cũng không được ăn óc lợn, khi lớn lên cũng không biết đếm, chính vì lợn thường bị mang tiếng là “ngu”. Trẻ em cũng không được ăn đuôi lợn, vì người ta cho rằng, ăn phải đuôi lợn thì luôn tụt hậu về mọi thứ, cả một đời cũng không có nơi nào chứa cho. Có người lại cho rằng, ăn đuôi lợn sẽ khiến cho nhát gan, không dám đi vào ban đêm. Người Thổ Gia còn kỵ không cho ăn mũi lợn, bảo rằng ăn rồi thì sau này khi ngủ sẽ ngáy khò khò. Người Phương nam cũng kỵ không cho trẻ ăn móng lợn, cho rằng như thế thì chuyện hôn nhân về sau sẽ khó mà thành, e rằng sẽ vuột mất cô dâu hoặc chàng rể. Những trẻ chưa thay răng sữa thì không được ăn bầu sống, nếu không, răng sau khi thay sẽ bị vổ ra. Lại kỵ để trẻ có thêm gốc răng (tức lòi xỉ – Trần Duy Khương chú), e rằng răng sẽ vẩu ra ngoài môi, phạm vào điều cấm kỵ răng lộ khỏi môi. Trong dân gian, những vật dùng để cúng thần minh, tổ tiên như thịt, thức ăn, cơm cũng kiêng không cho trẻ em ăn, vì họ cho rằng, nếu ăn thì sẽ ảnh hưởng đến trí nhớ, khi lớn lên sẽ mắc chứng hay quên. Hoặc giả là sẽ mắc tội với thần linh, phải chịu thương tổn xung khắc.

Trong dân gian có tập tục kiêng không cho trẻ em đếm sao trời, tục này rất phổ biến. Những đêm mùa hạ trời trong xanh thoáng đãng, trời sao nhấp nháy, bọn trẻ con thường hay đếm chơi. Lúc này, người lớn thường nhắc nhở chúng rằng: “Trẻ con không được đếm sao, sau này lớn lên sẽ không biết đếm số!”. Bởi vì không thể nào đếm hết sao trời, sợ trẻ cứ đếm đi đếm lại, rồi lại đếm loạn cả lên, vì thế mà người ta kỵ. Và khi chơi đếm gạo, người ta cũng cấm không cho trẻ đếm số hạt gạo, lý do cũng giống như việc cấm không cho đếm sao trời.

Trẻ em rất thích chơi đùa, nhưng hai thứ nước và lửa lại là thứ bị cấm. Tục ngữ có câu: “nước lửa vô tình”, vì vậy mà cấm không cho trẻ chơi đùa bên sông, bên cống nước, bên bờ hồ, bên giếng nước, và lại cấm chúng chơi nước, đặc biệt là nước nóng trong khạp, trong chậu, trong nồi; phàm là những thứ liên quan đến nước và lửa, như que diêm, hộp quẹt… đều cấm không cho trẻ con chơi. Trẻ cũng bị cấm không được ở gần lò lửa, đống lửa, chậu lửa. Dân gian thường cúng tế thủy thần, hỏa thần, cầu cho họ có thể phò hộ cho trẻ, đừng làm hại chúng. Trẻ cũng bị cấm không được bắt chim sẻ, nếu không, khi viết chữ thì tay sẽ bị run. Trẻ em còn bị cấm không được hốt tổ chim yến xây trong nhà, vì người ta cho rằng, hốt tổ yến sẽ bị hại đến mắt, như thế không tốt. Trẻ em ở Hàng Châu thường bị cảnh cáo rằng, không được làm chết sâu lông, kiến, nếu không, sau khi ngủ sẽ bị tổn mệnh. Vào ban đêm, không được soi kính, nếu không thì sẽ bị ma trêu. Không được dùng ngón tay chỉ vào mặt trăng đang khuyết, nếu không, mang tai sẽ bị thối rữa ra.

Ở một vùng Quận Thành tỉnh Sơn Đông lại cấm kỵ không cho trẻ em ở nhà vào ngày có tiết lập xuân. Những trẻ chưa đủ mười tuổi phải đến nhà láng giềng để qua thời khắc lập xuân, vì thế mà người ta thường gọi đó là “tránh xuân”.

Trẻ em rất thích mô phỏng, nhưng mô phỏng trò nói lắp là điều không được làm. Tục cho rằng nếu trẻ bắt chước nói lắp thì chúng sẽ bị nói lắp thật sự. Nhất là bắt chước nói lắp vào lúc trời u ám sắp mưa, chỉ cần học là mắc phải, hơn nữa cũng rất khó để có thể chữa cho đúng trở lại.

Việc giáo dục trẻ cũng có nhiều cấm kỵ. Thông thường mà nói thì, đánh trẻ chỉ được đánh mông, không được đánh thân trên, càng cấm kỵ không được đánh đầu, đánh mặt, nếu không sẽ khiến chúng “bị đánh khờ người”, hoặc đến nỗi da mặt chúng dày đi, không thể nào giáo dục chúng được nữa. Vật dùng để đánh trẻ cũng cấm không được dùng cây thước. Tục cho rằng, cây thước là vật dùng để đo độ ngắn dài, e rằng khi dùng thước đánh trẻ thì sẽ ảnh hưởng đến việc lớn lên của chúng. Trong dân gian, người ta kiêng không đánh trẻ trong thời gian đón tết, nhất là vào mùng một tháng giêng thì lại càng cấm kỵ. Tục cho rằng, mùng một tháng giêng là ngày khởi đầu của cả năm, nên việc cấm kỵ này có ý nghĩa là tránh điềm không lành ngay từ ngày bắt đầu. Nếu đánh trẻ trong ngày này, thì điều đó dự báo rằng họ sẽ phải thường đánh trẻ trong suốt cả năm, và trẻ thì phải bị đánh suốt cả năm, đó chính lại là một chuyện cực kỳ không tốt, vì thế mà nếu trẻ có làm sai gì trong thời gian đón tết thì người lớn cũng phải hết sức khắc chế mình, không đánh mắng trẻ, để cho trẻ có thể vui vẻ mà ăn tết. Ngoài ra, bình thường, khi ăn cơm cũng kỵ không được đánh trẻ, người ta cho rằng sẽ khiến cho việc nhà trong năm gặp điều không tốt.

 

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI VIỆC TỬ VONG

Những tục cũ của dân gian rất xem trọng chính tẩm khi người già lâm chung, phàm là những người già chết bình thường, thì cố gắng tránh nấc một hơi cuối cùng trên giường bệnh. Đương khi người bệnh đang vào trong giờ phút sinh tử, thông thường thì đầu tiên là tắm rửa và thay quần áo, và sau đó là chuyển người ấy đến linh sàng đã được đặt trong gian chính, để cho người ấy hấp hối trong sự bảo vệ của người thân, đó gọi là “đĩnh táng” hay còn gọi là “tống táng”.

Rất nhiều nơi của dân tộc Hán đều cấm kỵ không để người chết ra đi ngay trên giường ngủ của mình. Vì vậy, ở khu vực Hà Nam có tập tục là khi có người sắp mất, thì khiêng người ấy đến đặt trên nệm cỏ ở ngoài gian phòng. Với cùng một lý lẽ là, có một số nơi cho rằng người chết tắt thở ngay trong phòng của mình thì đó là một điều hết sức không tốt, đó gọi là “cách lương đoạn khí”. Đối với những người ra đi trong những nơi như thế, thì khi chuyển cữu cần phải mua một con gà trống sống mang theo bên quan tài, như thế mới có thể giải trừ được họa xấu. Ở Phương nam, khi dời đệm đi thì còn phải di dời cả những đồ vật khác như tượng thần, lò hương trong phòng ra chỗ khác, hoặc là che chúng lại, nhằm tránh xung phạm. Tộc người Mãn thường làm giường đặt ở phía Bắc là to nhất, còn giường phía Nam là quý nhất, người ta cho rằng nếu để người chết tắt thở trên hai giường này thì đó là điều rất không tốt, thông thường thì cần phải mang đệm dời đến trải trên linh sàng và đặt người chết lên đó, nhằm để vong linh siêu độ. Ở dân tộc Di của vùng Vân Nam, khi cha mẹ bị bệnh nguy kịch, nếu như nằm ở trên lầu thì cần phải mang họ xuống dưới lầu, để họ tắt thở trong gian chính của nhà. Theo họ, ý nghĩa của việc làm này là như sau: một là sợ người chết tắt thở trên lầu thì vong linh sẽ khó mà đi xuống lầu được, hai là họ sợ rằng, sau này hồn ma sẽ hiện lên trên lầu, làm kinh sợ con cháu đời sau.

Về giờ khắc từ vong, trong dân gian cũng có cách đánh giá về sự hung cát của nó, đồng thời còn có phép tránh tà ma, diệt tai. Ở Phương nam, dân gian cũng có tập tục kiêng kỵ người bệnh tắt thở vào sau bữa ăn cơm tối, và cho rằng, tắt thở vào lúc trước khi ăn cơm buổi sáng là tốt nhất. Người ta cho rằng, như vậy là người ấy đã để lại thế cho con cháu được ba bữa cơm, tục gọi là “lưu tam đốn”, ý là sẽ để cho con cháu sau này có đủ cơm ăn ngày ba bữa. Nếu như tắt thở sau khi ăn cơm bữa sáng, thì đó có ý là sẽ sinh ra ách vận cắt đứt chuyện thổi nấu. Điều cấm kỵ nhất là tắt thở sau khi ăn cơm chiều xong, vì dường như là người chết đã mang cả ba bữa ăn đem đi sạch, biểu thị ý nghĩa là con cháu sau này sẽ trở thành ăn mày, vì thế mà phải làm phép giải trừ mời được. Sự phát sinh ra tập tục này đã phản ánh năng lực sản xuất của người đời xưa là rất thấp. Đối với việc tang ma cho người  chết yểu, thì ở một dãy đất An Huy lại có nhìn nhận như sau: nếu gặp ngày Canh Thân mùa xuân, ngày Giáp Tý mùa hạ thì rất là không tốt, sẽ có hiện tượng xác khô cứng. Những người trẻ tuổi chết vào những ngày này thì khi chuyển cữu phải thỉnh họa phù thuật thổ dán lên trên quan tài, và phép này sẽ phá giải được nó.

Khi mặc áo thọ, thông thường sẽ do tang chủ mặc lần lượt từng chiếc lên người của mình, sau đó cởi tất cả ra một lượt, rồi mặc cho người chết. Tộc người Hán cho rằng, số áo thọ của người chết cần phải là số lẻ, thường là năm, bảy hoặc chín cái, kỵ dùng số chẳn, vì sợ là họa hung của người chết sẽ giáng đến thêm lần nữa. Khi may áo thọ cũng không được dùng vải đoạn (đoạn tử), mà vải đoạn lại hài âm với tuyệt tự (đoạn tử), e rằng sẽ khiến cho con cháu sau này sẽ gặp phải điềm ứng tuyệt tự. Ở một vài địa phương, sau khi may áo thọ cho người chết thì còn phải dùng bánh miến làm bằng miến trắng và một cây gậy nhỏ để lên trên ống tay áo hay trên tay của người chết. Điều này chính là vì dân gian cho rằng, người sau khi chết đi sẽ đi xuống âm gian, buộc phải đi qua một thôn chó dữ, vì vậy mà chuẩn bị miếng bánh cho chó ăn và cây gậy đánh chó cho người chết, khiến cho người chết có thể đi đúng đường.

Theo tập tục của người Hán thì quan tài dùng khâm liệm người chết được chế tác bằng gỗ tùng bách, tránh dùng gỗ cây liễu. Vì gỗ cây tùng, cây bách tượng trưng cho trường thọ; còn cây liễu thì lại không kết quả, nên sẽ khiến cho tuyệt tự. Ở một vài nơi, người ta dùng gỗ cây bách để làm quan tài thì cần phải chêm thêm vào một ít cây sam, vì người ta cho rằng nếu quan tài được dùng gỗ cây bách để làm hoàn toàn thì sẽ bị “trời đánh” (bị sét đánh). Cỗ thọ cần phải để ở nơi khô ráo, càng khô ráo càng tốt, có như thế thì người ấy khi chuyển kiếp sẽ ít bệnh tật, nếu không thì sẽ phải gặp nhiều tật bệnh. Cỗ quan cần phải sơn càng sớm càng tốt, nếu không, sau khi khâm liệm xong rồi mới sơn phết thì người chết sẽ quờ quạng nhát ma. Tộc người Bố Y dùng nhiều cây tể, cây sam, hoặc cây xuân đỏ để làm quan tài, kiêng không dùng gỗ cây thích bao làm áo quan. Tục cho rằng, khi cây tùng bị hạ xuống thì sẽ không mọc chồi được nữa, nếu dùng gỗ cây tùng làm áo quan thì sẽ khiến cho con cháu bị tuyệt chủng; nếu dùng cây thích bao làm quan tài thì nó sẽ khiến cho con cháu sẽ bị bệnh hủi. Bên ngoài quan tài thường sơn màu đỏ, cấm dùng những màu khác, bên ngoài có chấm điểm vàng, viết chữ vàng lên đầu quan tài, nếu là nam thì viết chữ “phúc”, nếu là nữ thì viết chữ “thọ”, ngoài ra còn trang trí thêm hình con dơi, cuối quan tài thì vẽ lên lò hương, đài nến, hình đồng nam đồng nữ tay cầm phướn tiếp dẫn người chết đi về phương Tây, và cũng có thể viết lên đó danh hàm của người chết. Khi sơn quan tài còn có thể thêm hình hoa, chim, người vào cho thêm phần đẹp mắt.

Ở một dãy vùng Hà Nam, khi nhập liệm thì cấm kỵ không để những người có con vật cầm tinh xung khắc với con vật cầm tinh của người chết hiện diện tại hiện trường, vì như thế thì e rằng sẽ gặp phải ách hung và xung phạm. Thông thường thì người ta kỵ không để cho người ngoài lại gần quan tài, đặc biệt là khi đóng nắp quan tài, ngoài những người thân thuộc nhất của người chết thì tất cả những người khác đều phải lui ra, đó là do người ta cho rằng, nếu bóng của người bị lọt vào trong quan tài, thì sức khỏe của người ấy sẽ bị nguy hiểm, hồn phách của người ấy cũng bị đóng chặt vào trong quan tài cùng với người chết. Ở Hồ Nam, khi khâm liệm thì, người ta cũng phòng tránh việc người chết khi chuyển sinh sẽ trở nên câm bằng cách lấy một đồng tiền trong miệng của người chết ra (tục gọi là tiền hàm), nếu không, người chết sẽ mang tất cả tài sản ra đi. Trước khi nhập liệm thì cấm kỵ không để hai chân người chết dạng xoạc ra, mà phải dùng dây cột lại (hoặc dùng vài trắng quấn lại), nhằm tránh để du hồn của người chết chạy lung tung, chạy vào dương trạch (nhà trên trần gian) làm hại người sống; nhưng khi khâm liệm thì kiêng không được dùng vải đen quấn hai chân của người chết lại, vì nếu không, người chết khi đến âm gian sẽ không thể đi đứng được, trở thành một kẻ thọt chân trong đám ma.

Sau khi đã xử lý tất cả tử thi, vật tuẫn táng, thì tiếp sau đó là đóng đinh cho nắp quan tài, dân gian gọi đó là “trấn đinh”. Trấn đinh nên dùng bảy cây đinh, tục gọi là “tử tôn đinh”, người ta cho rằng như thế thì sẽ khiến cho đời sau hưng thịnh phát đạt. Ở vùng Hà Nam, khi đóng nắp quan tài lại thì không để con cái của người chết ở gần phía trước, mà phải đứng ở bên ngoài chờ nghe. Khi người đóng đinh quan tài đóng một cái, thì con cái để tang cho người chết sẽ hô to một tiếng “vật cảnh”, tục gọi là “tránh đinh”. Ở vùng Sơn Đông, nếu như con gái đã lấy chồng mà bệnh chết bên nhà chồng, thì khi khâm liệm và đóng nắp quan tài lại thì phải do cha mẹ, anh em bên nhà gái đích thân đóng đinh, được gọi là “dẫn đinh”, nếu như người thân của nhà gái không đến thì cha chồng, mẹ chồng và cả chồng cũng không được làm chủ. Tuy là từ tuổi trung niên trở về sau, con cháu đầy nhà, thì cũng phải làm như thế. Ở tộc Trắng, khi liệm và đóng nắp quan tài thì cần phải chừa một cây đinh không đóng chết vào nắp, ý là để chờ người thân ấy đến đóng thêm. Nếu thuộc về con cái hoặc người con trai ở rể, thì phải do người thân bên nhà mẹ ruột hoặc nhà cha ruột tự mình đóng đinh. Còn đối với tộc người Di, thì khi đóng đinh đóng nắp áo quan, cây đinh “tử tôn đinh” ở vị trí chính giữa thân quan tài cần không được đóng chặt. Cần mắc một sợi chỉ đỏ lên bên trên nó, sợi dây này sẽ được con cái để tang người chết kéo, người thợ mộc chỉ cần đóng nhẹ một cái là xong, ý nghĩa là để lưu lại đời sau. Cấm không được đóng chết cây đinh này, nếu không sẽ gây bất lợi cho người đời sau. Người tộc Sani lại cho rằng “trên đời thì ông cậu là người lớn nhất”. Vì thế, khi đóng nắp quan tài thì chỉ có người nhà ông cậu đến đóng đinh mới được, nếu không thì không được động đến quan tài. Sau khi quan tài đã được đóng, mép quan tài cần được bịt kín bằng các loại keo dính, nhằm tránh để không khí, hơi nước và bụi bặm lọt vào. Để phòng yêu ma quấy nhiễu làm vong hồn kinh sợ, người ta để một cái bát lên nắp linh cữu, nhằm để bảo đảm sự an toàn cho linh hồn của người chết.

Sau khi nhập liệm xong, kỵ để nước mưa bắn vào quan tài, nếu không, người ta cho rằng con cháu đời sau sẽ bị bần cùng. Ngạn ngữ có câu: “Mưa rơi lên nắp áo quan, cháu con không có tấm chăn mà trùm”, hay “mưa nhỏ áo quan, đời đời cơ hàn”, vì thế mà khi dừng áo quan lại thì không được dừng ở trong sân. Trước và sau khi nhập liệm, thì dừng quan tài ở trong nhà, trong khoảng thời gian mãi đến lúc trước khi chuyển cữu, người ta cấm kỵ không để mèo ở gần thi thể, quan tài.

Ngoài ra, những người khi tưởng niệm người chết cũng phải tuân theo cấm kỵ. Thời gian nào có thể khóc, khi nào cần phải khóc, khi nào không được khóc hay không cho phép khóc… đều có quy ước trong luật lệ phong tục.

 

CẤM KỴ ĐỐI VỚI VIỆC TANG TÁNG

Xưa có rất nhiều cách thức tang táng, cách thường thấy nhất là thổ táng (táng dưới đất), hỏa táng (thiêu xác), thủy táng (táng dưới nước), phong táng (táng trong gió), thiên táng (táng trên không), thụ táng (táng trên cây), tháp táng (táng trong tháp), hoang táng (táng nơi hoang dã), huyền quan táng (treo quan tài) v.v…

Phương thức tang táng chủ yếu của người Hán là thổ táng. Dân gian tin rằng “nhập thổ vi an” (vào đất là an toàn). Trong lịch sử, tộc người Hán đã từng có tập tục phản đối hỏa táng, cấm hỏa táng. Tống Thái Tông Triệu Khuông Dẫn đã từng có chiếu thư “cấm dân dùng kiểu hỏa táng”. Ba triều Nguyên, Minh, Thanh đều có pháp lệnh cấm không cho nhân dân sử dụng cách thức hỏa táng. Nhưng, hình thức hỏa táng đã xuất hiện rất sớm ở , trong Tiết táng, Mặc Tử” đã từng có ghi chép: “Phía Tây nước Tần có nước Lương, ở đó, khi thân thích mất đi thì sẽ dùng củi nhóm lại mà thiêu”.

Phương thức tang táng chủ yếu của người tộc Tạng là thiên táng, nhưng đối với những vị Phật sống và những Lạt Ma có địa vị, những người cầm đầu thì thường được hỏa táng. Ở một vài nơi, người ta không phân tôn ty, không phân nam nữ mà đều cho hỏa táng. Phương pháp này là bôi một ít bơ lên thi thể để làm mồi lửa, lấy tro xương và bùn cất ở một nơi cố định để gìn giữ cúng dường. Nếu ruộng đồng đang vào thời kỳ sinh trưởng hay vào những ngày thu hoạch, thì cấm kỵ không cho hỏa táng. Người ta cho rằng, nếu hỏa táng vào lúc này thì đồng ruộng sẽ mất mùa, người và thú đều gặp phải tai ương. Những tộc người thực hành hỏa táng cho rằng, hỏa táng có thể khiến cho linh hồn người chết bay lên trời, vì thế, nếu người chết là ăn mày, kẻ khùng điên, hay là người mắc ác bệnh đều không được dùng phương thức hỏa táng, mà phải thả thi thể xuống sông, dùng phương thức thủy táng này để cho linh hồn của người đó mãi mãi không trở về được nữa. Đối với những thi thể của người bị hình phạt mà chết, bị chết dữ cũng phải kéo đến vứt vào trong hố đã đào, dùng phương thức này để khiến cho linh hồn của người đó bị rơi xuống mãi mà không thể nào chuyển sinh đi được. Tộc Sơn Di ở Tiểu Kinh cũng thế, phương thức tang táng chủ yếu của họ là hỏa táng. Nhưng đối với những kẻ bị phong ghẻ, bệnh hủi hay những trẻ chưa đầy ba tháng tuổi mà chết thì bị cấm kỵ không cho hỏa táng, mà phải thổ táng. Khi hỏa táng, chàng rể phải tham gia, con ruột không được phép tham gia. Khi thiêu, cần phải để thi thể nằm nghiêng, nếu người chết là nữ thì mặt day về hướng bắc, nếu người chết là nam thì mặt day về hướng đông. Thiêu xác phải thiêu một lần cho thành tro, kiêng kỵ việc thiêu nửa chừng rồi thêm củi vào, tục cho rằng như thế là điềm bất tường, có dự báo là trong nhà sẽ có người phải chết nữa.

Ở tộc Hán, trong dân gian còn dùng cách “không được vào mộ tổ” để phân biệt và trừng phạt những người làm nghề hạ tiện hay những người chết bất thường. Những người làm nghề xướng ca, kỹ nữ và người bạo bệnh khi chết đi đều không được chôn cất vào phần đất mộ của tổ tiên. Trong dân gian, người ta lấy tiêu chuẩn được vào phần đất mộ tổ là một trong những điều kiện để làm người. Những người không có quan hệ máu mủ ruột thịt trong dòng họ thì tất nhiên không được phép vào phần đất của mộ tổ, những người bị bệnh lâu ngày khó chữa, những người chết yểu trước khi kết hôn, những người phụ nữ chết trước chồng… đều không được vào phần đất ấy. Theo phong tục của người Hồi, những người nghiện thuốc, nghiện rượu, đánh bạc, thọ hình, chết dữ hay người vi phạm giáo quy sau khi chết đi sẽ không chôn nơi phần đất dành cho mộ chung, mà phải chôn họ ở bên ngoài của khu mộ chung đó, nhằm để phân biệt với những người bình thường. Tộc Ngạc Ôn Khắc, tộc Đạt Oát Nhĩ, những người bị gấu cắn chết, bị súng bắn chết, bị sét đánh chết, những thai phụ sinh khó mà chết, những saman (pháp sư) sau khi chết đi thì không được nhập táng chính thức, không được táng vào vùng đất táng dành chung cho gia tộc.

Ở một vùng Đông Bắc, người Hách Thiết, Ngạc Ôn Khắc đều cấm kỵ không mai táng trẻ em chết yểu. Người Hách Triết thường dùng vỏ cây của cây hoa quấn chặt thi thể chúng và treo lên trên cây. Còn người Ngạc Ôn Khắc thì thường dùng một túi vải trắng để bỏ thi thể vào, vứt vào nơi có ánh mặt trời trên dốc núi, nơi mà cỏ mọc xanh um. Tục cho rằng, linh hồn của trẻ em thì nhỏ, nếu như táng dưới đất thì e rằng chúng không ra được, sau này sẽ không có con được nữa.

Thời xưa, những người chết ở bên ngoài quê hương của mình thì cấm không được đem về quê an táng, mà thường là cho an táng tại nơi đó. Nếu như có thể mang thi thể về được thì cũng không được vào cửa nhà, chỉ có thể bỏ ở ngoài thôn và chôn trực tiếp ở đấy, vì e rằng những người chết ở đất người sẽ mang tai họa đến cho những người trong nhà. Tục ngữ có câu: “ma hoang không thể gặp thần nhà”, người ta e rằng sẽ có chuyện xấu là người chết ấy sẽ xung phạm đến linh hồn của tổ tiên.

Thông thường, thiên táng là một hình thức được lưu hành ở những tộc người mang tín ngưỡng Phật giáo và ở trong khu vực. Như tộc Tạng khi cho điểu táng (để chim rỉa ăn thịt người chết) thì phải mang thi thể đến nơi thiên táng. Dùng dao mổ thi thể ra, cắt nhỏ thịt để làm mồi cho những thần ưng sống tập họp thành đàn bay đến ăn. Thi thể được chim ăn càng sạch sẽ thì được xem là càng tốt. Nếu chim ăn không hết, hoặc không có chim ưng đến ăn, thì người ta cho đó là một điềm rất xấu, cho rằng người chết trước khi đã phải tội, linh hồn không thể bay về trời được. Phương thức hoang táng của người Mông Cổ cũng vậy, người sau khi chết đi thì được kéo lên xe gỗ và được người ta kéo xe chạy đi, đến khi nào thi thể rơi xuống mới thôi. Thi thể được bỏ nơi hoang dã ấy, nếu như có nhim ưng, chó sói đến ăn, thì người ta cho rằng linh hồn của người chết đã được siêu thăng lên trời. Nếu như sau bảy ngày, thi thể người chết vẫn còn đó thì bị xem là điềm bất tường, phải mời thầy Lạt Ma đến niệm kinh, xin cho người chết được thoát khỏi tai họa.

Các phương thức tang táng đều có những quy định thành tục lệ nhất định đối với giây phút chuyển cữu. Thời xưa, tộc người Hán đã có lễ pháp “tam nhật nhi liễm” (ba ngày sau khi chết mới khâm liệm). Sau khi khâm liệm, người ta phải chọn ngày tốt mới có thể cho táng. Mà những cấm kỵ vào ngày giờ táng lại càng nhiều. Theo quan niệm mê tín, thì những người chết vào tháng lẻ sẽ được táng vào tháng chẵn, những người chết vào tháng chẵn thì táng vào tháng lẻ. Tháng chẵn và tháng lẻ phải phối hợp với nhau mới được, nếu không thì sẽ không tốt. Nếu như không kịp táng thì cũng có thể chuyển cữu đi trước. Ở vùng Thấm Dương Hà Nam, người ta còn có tục kỵ tháng khi táng, đồng thời còn xem xét với quan hệ với họ của người ấy. Từ Phương nam đến một vài nơi ở phương Nam, người ta kiêng không táng vào tháng bảy. Vì theo truyền thuyết dân gian, tháng bảy là tháng của ma quỷ, những linh hồn chốn âm gian này sẽ đến dương thế để xin ăn. Nhằm tránh quỷ sát, người ta kiêng không cho chôn cất vào tháng này.

Thời xưa, dân gian vùng Chiết Giang vẫn còn phổ biến tục cấm kỵ việc trùng táng. Trùng táng chính là can chi vào giờ chết của người chết trùng với tên của can chi ngày tháng năm sinh của người ấy. Tục gọi đó là “ngày không sạch”. Nếu gặp phải những trường hợp như thế, thì cần phải tiến hành lễ táng đặc biệt, luôn luôn đóng nắp quan tài vào lúc canh ba, canh năm, rồi khiêng ra vùng ngoại ô. Tang gia không mặc đồ gai, không được khóc, phải đợi đến bảy ngày sau mới kêu khóc, bố cáo đến bạn bè thân thích, sau đó mới tiến hành nghi thức tang táng lại.

Trong dân gian còn có cái gọi là tam táng nhật, tức là nếu tiến hành táng ngay trong ngày đó thì người ta tin rằng sẽ còn hai người nữa sẽ phải chết, gây ra thảm kịch ba mạng người. Lại còn có cái gọi là xung khắc nhật, tức ngày giờ chuyển cữu kỵ không được giống với ngày tháng năm sinh của người chết và người con chủ tang. Tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Ở tộc người A Xương, khi chôn cất người chết thì phải tìm ngày thìn (rồng), dần (hổ), thân (khỉ), tục cho rằng, nếu không thì lúa cấy sẽ không lớn, con cái không được hưng vượng. Tập tục của người tộc người tộc Bạch là, ngày chuyển cữu không được nhằm vào ngày dần (hổ) và ngày thìn (rồng). Tộc người Tích Bá thì cho rằng, chuyển cữu vào ngày thân sẽ không tốt, vì vậy mà phải kỵ. Còn một số tộc người và khu vực khác thì không những kỵ ngày mà còn kỵ giờ. Ở một dãy vùng Phương Thành, Hà Nam, nếu cả hai cha mẹ đều chết thì không có gì đáng lo cả. Nhưng nếu chết lẻ, thì theo âm lịch, không được chọn ngày chẵn để chuyển cữu, phải đợi đến ngày lẻ mới được. Thường thì phải đợi đến lúc sau buổi trưa mới được, nếu không, sẽ mang đến điều bất lợi cho người già còn lại kia. Ở tộc người Di, nếu trong nhà có người chết, thì thời gian giữ lại trong nhà thường là rất ngắn. Thông thường, nếu chết vào buổi sáng thì cho táng vào buổi chiều, nếu chết vào buổi chiều thì cho táng vào lúc bình minh. Nhưng cấm kỵ không được chuyển cữu vào buổi trưa, vì người ta cho rằng nếu chuyển cữu vào buổi trưa thì sẽ nhận lấy những tai họa bất thường, rất xấu.

Đối với việc lựa chọn đất táng, thì người tộc Hán cũng có sự cân nhắc tính toán kỹ lưỡng. Người ta cho rằng, sự tốt xấu của việc chọn đất chôn cất cũng có thể quan hệ trực tiếp đến sự giàu nghèo, thọ yểu, cát hung của con cháu đời sau. Trong quyển “Táng Kinh” của Quách Phác đời Tấn cũng có nhắc đến quan hệ giữa việc thay đổi đất táng với sự hưng suy của đời sau. Sau này, người đời càng lúc càng thần bí hóa việc chọn đất táng lên. Trong dân gian xuất hiện ra một tầng lớp thuật sĩ chuyên xem đất mộ táng, tục gọi là phong thủy tiên sinh. Cấm kỵ đối với đất táng cũng rất nhiều và rất phức tạp, nào là “long mạch địa huyệt”, “thủy pháp”, “sa pháp” v.v. Ví dụ như thế núi thì thích thế nhô hai đầu, kỵ thế hai đầu lõm xuống. Tục gọi là “Thế núi nhô hai đầu, con cháu đời sau phú quý, thế núi trũng hai đầu, con cháu ăn xin mãi chẳng về”. Còn nước thì kỵ thế nước cuộn tóe, phép nước bảo rằng: “Nơi nước sâu dân giàu sang, nơi nước nông dân nghèo khó, nơi nước tụ dân ở đông, nơi nước tản dân ly cách”. Một quy luật chung là thế này, họ thích môi trường tự nhiên có dáng đẹp, kỵ những nơi có diện mạo gập ghềnh, cổ quái hay lệch vẹo cheo leo. Thời xưa còn lưu hành một bài ca dao dân gian “Thập bất táng” (mười nơi không nên táng) như sau:

Một không táng trên hòn đá thô nghiêng

Hai không táng trên bãi đất nơi nước xiết

Ba không táng nơi nguồn nước cụt

Bốn không táng trên quả núi trơ vơ

Năm không táng ở trước thần sau miếu

Sáu không táng nơi trái phải nhà tù

Bảy không táng nơi chập chùng đá núi

Tám không táng nơi gió nước đìu hiu

Chín không táng nơi ngồi thấp nhỏ

Mười không táng nơi đầu mạch hổ rồng

Người tộc Bạch cũng có tập tục lựa chọn đất táng, lựa thế phong thủy. Họ cho rằng, đất táng phải có thể dựa vào núi, và mạch núi phải có thế “tả thanh long”, “hữu bạch hổ”, hậu khí phải đủ, phương hướng phải xa. Người Lặc Mặc quen để người chết chân hướng về núi, nếu không, chân của ngươi chết sẽ bước đi không vững, sẽ ảnh hưởng đến tuổi thọ của con cháu sau này.

Ở vùng Cát Lâm, bên mộ táng phải cắm bia, nhưng cấm kỵ không được cắm bia cho người chết đột ngột. Ở vùng Hà Nam, nếu như thời gian của hai lần chuyển cữu mà sát gần nhau, thì phải dùng vải đỏ đắp kín lên trên phần mộ mới trước đó, sau đó mới được làm một phần mộ thứ hai, nếu không thì sẽ không tốt. Tục ngữ có câu: “Mộ mới gặp mộ mới, tất còn người chết nữa”.

Nghi thức cử hành tang táng người chết cũng có nhiều cấm kỵ, vào ngày thường, những dụng cụ dùng trong nghi thức tang táng đều không được động vào bừa bãi, đặc biệt là quan tài thì tối kỵ việc mở vào mở ra, nếu không sẽ không tốt. Những người tham gia lễ táng cũng không được xung khắc với bát tự trong ngày giờ năm tháng sinh của người chết (Bát tự 八字: là tám chữ; gồm giờ – ngày – tháng – năm sinh của một người; ngày – giờ – tháng – năm là bốn yếu tố cơ bản để tính thời gian, mỗi yếu tố được kết hợp thành từ một can và một chi theo quy định của lịch âm dương – TDK chú). Những người như phụ nữ mang thai, người bị ác tật, người bị tội hình đều không được đưa táng, vì e rằng như thế sẽ không tốt.

Khi chuyển cữu, người con chủ tang phải ôm một cái chậu sứ nhỏ và cố ý ngã làm vỡ chậu ở phía trước quan tài, người ta gọi đó là chậu sành cũ vỡ hay chậu sành vỡ. Chậu sành là cái dùng để nấu muối, người chết không dùng được, ý là người làm con nhìn thấy vật và xúc động, làm vỡ chậu đi. Người ta cho rằng, người ôm chậu là người có thể thừa kế tài sản gia đình. Vì thế, người ta cấm kỵ không được để chậu ấy không bị vỡ ngay từ lần ngã ấy. Cũng có thể ngã làm vỡ ở phía đầu quan tài sau khi đưa quan tài vào trong phần mộ.

Đối với tộc người Dư, khi khiêng quan tài ra khỏi cửa nhà, kỵ không để đụng vào hai bên cửa, nếu không sẽ không tốt. Tộc người Tháp Tháp cho rằng, sau khi người chết được tắm sạch thì dùng vải trắng quấn lấy thi thể và đặt lên trên giá cáng dùng chung của chùa Thanh Chân. Khi ra khỏi cửa, cần phải cho phần chân ra trước, sau đó mới chuyển hướng và khiêng đến phần mộ. Ở tộc người Bố Y, đối với con gái chưa lấy chồng thì sau khi chết sẽ không được khiêng qua cửa chính, chỉ được khiêng qua cửa bên. Đối với các tộc người Mãn, người Hà Nhĩ Khắc Tư, người Hách Triết, người Ngạc Ôn Khắc ở một dãy đất phía Đông Bắc, họ có tập tục khiêng thi thể ra từ song cửa. Người ta cho rằng, cửa chính là cửa để người sống đi vào đi ra, nên cấm không để người chết đi qua. Những người khác họ, trẻ em chết đi thì yêu cầu càng nghiêm ngặt hơn, phải khiêng thi thể từ trong cửa sổ ra. Đối với tộc người Độc Long, khi chuyển cữu thì cũng không được khiêng qua cửa chính, chỉ được khiêng qua từ một lỗ trống đã được đào ra ở nền đất. Họ cho rằng, nếu khiêng người chết qua cửa chính thì trong nhà sẽ có người chết nữa, khiến cho cả nhà bị tuyệt diệt.

Tộc người Băng Long rất chú trọng đến phương hướng khi chuyển cữu trên đường. Thông thường là đầu nhỏ (chân) sẽ hướng về phía trước, đầu lớn (đầu) sẽ hướng về phía sau. Điều này có ý nghĩa là vong linh của người chết sẽ đi thẳng về phía trước, không để người ấy quay ngược trở về. Khi chuyển cữu, dân gian còn cấm kỵ không cho người khiêng quan tài nói đến chữ nặng, vì e rằng vì vậy mà sinh ra biến cố, quan tài sẽ bị rơi xuống. Khu vực Hà Nam kỵ hiện tượng quan tài bị rơi xuống trên đường chuyển cữu. Ở vùng Giang Tô, khi tang gia chuyển cữu thì những nhà lân cận đều dùng cây chổi cũ dựng ngược ở bên ngoài cửa chính, như thế thì sẽ có thể tránh được thần Táng Sát ở trên đầu quan tài, nếu không sợ sẽ phải gặp chuyện xui rủi. Vùng Trung Nguyên cũng rất cấm kỵ để các đồ dùng cho việc chuyển cữu như vàng giấy, hoa, phướn chiêu hồn v.v. bay vào cửa nhà mình, vì như thế là điều không tốt.

Khi mai táng, người Ngạc Luân Xuân cũng cấm kỵ không để mặt người chết hướng về hướng mặt trời mọc. Ở một dãy đất Hà Nam, khi chôn cất thì phải khoét một lỗ nhỏ ở đầu quan tài, đặt một cái lon thức ăn nhỏ ở dưới, gọi là hạ thực quán, ý là để cho người chết có cái ăn khi xuống dưới âm gian, không bị đói. Khi chuyển cữu, người Tháp Cát Khắc cấm không cho phụ nữ đến gần mộ, người Thái cũng cấm không cho nhìn thấy việc chôn cất. Nếu không, quỷ sẽ nhập vào trong nhà. Khi mai táng, con trai con gái để tang cấm không được ở gần bên huyệt mộ, kỵ để bóng của họ chiếu vào trong huyệt.

Trong dân gian của tộc người Hán còn cho rằng, sau khi chôn cất xong, hồn người chết sẽ có thể đi từ trong mộ ra bất cứ lúc nào, và theo người sống trở về nhà, vì vậy mà phải “vòng quang mộ ba vòng, khiến hồn không theo kịp”. Trên đường trở về nhà, cấm không được ngoái đầu nhìn lại, vì sợ rằng sẽ nhìn thấy bóng đi của hồn người chết dưới âm gian, như thế sẽ không tốt cho cả hai.

 

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI VIỆC TẾ TỰ

 

Đối tượng tế tự của dân gian xưa có phạm vi rất rộng, từ trời, đất, mặt trăng, mặt trời, các vì sao cho đến nước, lửa, chớp, sấm, gió, mừa; từ núi đá đất đai cho đến nhà cửa, táo cầu; từ cây cối dây leo cho đến tông tộc tổ tiên, và cho đến các tinh linh ma quỷ lớn nhỏ, dường như là ở đâu cũng có. Mà đặc biệt là việc tế tự đối với người thân của mình được xem là chuyện thường, thì ở phương diện này cũng có rất nhiều cấm kỵ.

Những người tham gia quét mộ cúng tế đều có những điều quy định cấm kỵ riêng. Những phụ nữ mang thai thông thường sẽ không được tham gia tang lễ, cũng không được quét dọn cúng tế cho phần mộ. Nếu không, người ta e rằng linh hồn của người chết sẽ vả vào thai nhi, khiến cho thai phụ khó sinh con. Không những chỉ là thai phụ, phong tục của rất nhiều các khu vực khác nhau trong dân gian còn không cho phép những người phụ nữ bình thường đến quét dọn cúng tế cho mộ phần. Tục cho rằng phụ nữ mà lên mộ thì cũng có nghĩa là trong nhà không có con trai, không có con cháu đời sau. Ngoài ra, việc sửa mộ, quét tế cũng cấm không được nhờ người khác làm thay, nếu không sẽ mang tội bất kính với linh hồn của tổ tiên, sẽ nhận lấy những chuyện không hay.

Ở vùng Hà Nam, đối với những vật cúng cho việc tế tự mà do phụ nữ mang đến thì nên nhận lấy tất cả, cấm kỵ không được hoàn trả một phần nào. Khi quét dọn mộ để cúng tế, nếu gặp thầy tăng, đạo sĩ, thì phải lo bữa cơm nước chay cho họ, vì người ta cho rằng khi ấy sẽ giảm bớt tội nghiệt cho người đã khuất, khiến cho người ấy có thể lên được đến thiên đàng. Nếu không sẽ không tốt cho linh hồn, hoặc là sẽ khiến người ấy phải đi xuống địa ngục.

Sau khi người chết được mai táng xong, còn phải cúng tế cho thần trong nhà, để an ủi vong linh. Tộc người Ngõa ở Vân Nam thì cho rằng, nếu không cúng tế cho thần trong nhà, thì sẽ không được phép lợp nhà mới để kết hôn, cũng không được phép gieo hạt. Thời xưa, tộc người Hán cho rằng nên quét dọn cúng tế phần mộ vào trước ngày Mậu Dần của mùa xuân. Vì ngày ấy là ngày thiên xá, tục ngữ có câu: “mộ mới không qua xá”. Người mê tín lại cho rằng, quét dọn cúng tế phần mộ cần phải tránh thái tuế, “Sách Tang” xưa có nói: “Thái tuế đè bản  mệnh của chủ tế, vì thế mà nên kỵ nó”. Đời sau, trong dân gian thường quét dọn mộ phần để cúng tế là vào trước sau ngày thanh minh. Trong “toàn quốc dân tộc chí, Giang Tô” có ghi: “Ngày thanh minh, nhà nhà đi tảo mộ, nếu là người mới mất thì đến cúng tế cho mộ phần trước ba ngày so với ngày xuân thu xã”. Tục cho rằng, nếu sau ngày xã mà không đến cúng tế cho mộ thì người chết sẽ vồ ra.

Khi đến mộ đốt vàng mả, cấm dùng gây gậy khêu động giấy vàng bạc, sợ là vàng bạc bị khêu nát, linh hồn không dùng được nữa. Nếu như vàng bạc chỉ cháy một nửa, còn một nửa không cháy hết thì cũng không được mồi lửa đốt tiếp. Dân gian cho rằng, phần thừa lại không bị cháy hết này sẽ biến thành tiền bạc, người sống sẽ dùng được, ý là tổ tiên còn nhớ đến con cháu. Người ta lại cho rằng, phần còn lại này được gọi là “tử tôn bản”, chỉ có thể giữ lại mà không thể đốt đi một lần nữa, nếu không, con cháu sẽ phải bị tuyệt diệt. Giấy vàng bạc dùng để cúng trước phần mộ này phải làm một cách chuyên tâm, không được mang đi làm chung với những việc khác, càng không được mang theo khi thăm người thân bạn bè.

Đối với thời gian đến phần mộ để cúng tế thì ở các nơi cũng có những quy định khác nhau. Ở vùng Hà Nam thì qua ngày thứ hai là đã đến bên mộ, người ta gọi là “phục nhị”. Vào ngày này, sau khi con cái để tang đến bên mộ thì khi trở về nhà phải đi trên con đường khác, cấm không được đi trên con đường lúc đến đã đi, tục gọi là “lạc đường”. Theo họ, như thế là nhằm tránh để linh hồn người chết theo con cái đang chịu tang mà trở về nhà. Ở vùng Hắc Long Giang, trong vòng ba ngày sau khi chôn cất, vào mỗi khi trời chiều đều phải đốt đèn để bên mộ. Nếu không có đèn, buổi tối, linh hồn sẽ rất sợ hãi. Người quẹt lửa sẽ phải dùng diêm quẹt của chính mình, không được mượn dùng của người khác. Người ta nói rằng, nếu dùng diêm quẹt đã mượn để đốt đèn thì tổ tiên sẽ không nhìn thấy ánh sáng.

Trong dân gian, vào thời gian đầu của việc tang chế thì việc đến mộ đốt vàng bạc thường lấy con số bảy làm mốc, mỗi khi đến ngày thứ bảy thì sẽ đến mộ cúng tế. Trong dân gian, con số bảy thường biểu thị tính giai đoạn, lúc nào cũng lấy bảy lần số bảy làm điểm cuối cùng. Tập tục này được lưu truyền từ thời rất xa xưa. Các địa phương ở Hà Nam, Sơn Đông, Triết Giang đều có tục kỵ không lấy số “bốn lần bảy” đến mộ cúng tế. Đại khái là do quan hệ hài âm giữa chữ tứ (bốn) và tử (chết) mà thôi. Ở vùng Hà Nam có thuyết về cách tránh con số con nối dõi trong bảy lần cúng tế ấy. Ví dụ như người đã mất có một người con chịu tang thì đến sẽ có một lần của ngày thứ bảy ấy không đến cúng, nếu có hai người con chịu tang thì sẽ có hai lần ngày thứ bảy ấy sẽ không đến cúng tế; mãi đến năm lần ngày thứ bảy thì mới mãn. Thông thường thì dân gian rất xem trọng việc quét dọn cúng tế vào ngày thứ bảy. Khi đã đến năm lần ngày thứ bảy, thì người con gái sẽ nấu bánh sủi cảo đến cúng, số lượng bánh sẽ tính theo số tuổi của người chết, mỗi tuổi là một cái, chỉ cho phép nhiều hơn mà không cho phép ít hơn. Khi đến mộ cúng tế, cần phải ăn hết ở bên mộ, kỵ không được mang phần còn dư trở về. Vật cúng cho lần thứ sáu của ngày thứ bảy sẽ do con gái đích thân làm. Dân gian có lưu truyền câu nói rằng, “Nói một ngàn, bảo một vạn, lần thứ sáu của ngày thứ bảy sẽ không ăn cơm thường của nhà, chỉ đợi con gái đến thết tiệc mà thôi”. Ở Sơn Đông, Hà Nam có thuyết “phạm thất”, nghĩa là, khi đến ngày cúng tế trong cái mốc bảy ngày, mà nếu vừa trùng với những ngày có số bảy như ngày mồng bảy, mười bảy, hai mươi bảy âm lịch hoặc những ngày có số bảy ẩn như ngày mười bốn, hai mươi mốt, hai mươi tám, thì người ta cho rằng như thế sẽ không tốt, được gọi là “phạm thất”. Khi buộc phải đến cúng tế, thì luôn phải cắm một cây cờ trắng (hoặc một cái chậu sành nhỏ) trên mộ, để khu trừ tà khí, sẽ tránh được điều kiêng kỵ. Ở vùng Hà Nam, Giang Tô, người ta còn có tục cấm dùng miến để cúng khi đến lần cúng thứ bảy, vì miến tượng trưng cho sợi dây, kinh hồn người chết khi nhìn thấy sẽ kinh sợ, lục thần không yên.

Bãi đất nơi phần mộ là nơi linh hồn tổ tiên sống, vì vậy mà không được làm kinh động đến. Ở bãi tha ma công cộng của người tộc Cơ Nặc, để có thể an táng cho người chết, thì sau một vài năm, người ta có thể đến để phát cỏ và cũng có thể đào quan tài, thi thể của người chết lên và vứt lên nơi núi rừng hoang dã. Đấy là do diện tích bãi tha ma công cộng của mỗi thôn làng đều có giới hạn, mà đất nơi phần mộ của những người thuộc tộc phụ hệ thì sẽ càng bị nhỏ hẹp lại, trong khi mảnh đất ấy thì cũng không được tự ý mở rộng ra thêm, người ta cho rằng việc mở rộng diện tích sinh sống của linh hồn người chết thì sẽ không có lợi cho người đang sống. Người tộc Ha Tát Khắc rất kính trọng bãi đất táng, người qua đường khi cưỡi ngựa đi qua phần mộ cũng không được phi nhanh, còn phụ nữ thì phải xuống ngựa mà đi bộ qua. Mỗi khi gặp hạn hán, mọi người phải đến bãi đất táng để tiến hành cúng tế. Khi bầy cừu bị bệnh dịch, cũng phải lùa đàn cừu đi ngang qua bãi đất táng vào ban đêm. Thậm chí, họ còn xem đất ở trên phần mộ là thánh dược, dùng để trị bệnh cho người; hoặc khuấy vào trong nước, cho thai phụ, sản phụ uống để khiến cho họ có thể sinh nở được thuận lợi.

Người ta có tập tục trồng cây bách trên bãi đất táng, vì họ sợ tà quái sẽ ăn mất xương cốt, thi thể của người chết. Trong dân gian còn trồng cây liễu nơi một đầu mộ hướng của chân, bảo rằng để lấy ý “dễ sinh sống” của nó. Nhưng ở Dự Bắc, người ta lại kỵ không để cho cây liễu được trồng ở đầu mộ được sống sớm, khi trồng thì sẽ có một người lắc lắc, lung lay cây, mục đích là không cho rễ cây bám chắc vào đất, không cho nó sống. Sau này, mỗi khi đến quét dọn mộ và cúng tế thì cũng lắc cây. Như vậy, trong một thời gian ngắn, cây liễu sẽ không mọc rễ được. Nếu không, nếu cây liễu sẽ sống được một cách nhanh chóng, lúc ấy người ta sẽ cho rằng linh hồn trong phần mộ ấy không có con cái đến tế tự, trong nhà ấy không có con cháu hiếu thuận.

Cho đến nay, dân gian vẫn còn rất xem trọng việc quét dọn cúng tế vào ngày cúng thứ bảy với cột móc là bảy ngày, cùng với những nghi thức quét dọn cúng tế cho ngày giỗ một trăm ngày, tròn một năm, ba năm, năm năm và mười năm.

tho_cung_to_tien_2-290913.jpg

越南道教 道教神仙越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam