Thần tiên Việt Nam

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca 大南國史演歌 Tr2- Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca

大南國史演歌 Tr2

Nguồn:Văn thư lưu trữ mở Wikisource

Đại Nam Quốc sử Diễn ca  (năm 1870) 
của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái (Trương Vĩnh Ký diễn âm lục bát)

Đại Nam Quốc sử Diễn ca (chữ Nho: 大南國史演歌) là một tác phẩm văn vần bằng chữ Nôm sáng tác vào khoảng triều Tự Đức thời nhà Nguyễn.

Trích dẫn từ Đại Nam Quốc sử Diễn ca của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.

Mục lục

6. Lý Thần Tông khuyến khích việc nông[sửa]

Thần Tông sinh cửa Sùng hiền,
Dấu hang thi giải còn truyền Sài sơn.
Thức nồng nhộm vẻ chi lan,
Thông minh học vấn kiêm toàn cả hai.
Năm đầu vừa mới lên ngôi,
Giảng cầu trước đã mở bài kinh diên.
Qui nông cho lính canh phiên,
Rộng ân lại trả quan điền cho dân.

7. Đỗ Anh Vũ lộng quyền[sửa]

Anh Tông còn thuở xung nhân,
Đỗ Anh Vũ lấy ngoại thân lộng hành.
Ra vào trong trướng, ngoài mành,
Cùng Lê Thái Hậu có tình riêng chung.
Tống giam đã bắt vào trong,
Mà Lê Hậu lại còn lòng đeo đai.
Rượu cơm vẫn cứ đưa mời,
Vàng cho ngục tốt liệu bài thoát ra.
Nghị đồ rồi lại được tha,
Để đoàn Vũ Đái đều là thác oan.

8. Tài kinh quốc của Tô Hiến Thành[sửa]

Rồi ra vắng mặt quyền gian,
Hiến Thành hết sức cán toàn mới nên.
Khi triều Tống, khi sính Nguyên,
Một niềm cung thuận, đôi bên được lòng.
An nam Tống mới cải phong,
Quốc danh từ ấy rạng dòng viêm phương.
Thành nam mở chốn võ tràng,
Tập tành cung ngựa phô trương tinh kỳ.
Uy danh rậy đến biên thùy,
Chiêm thành, Ngưu hống man di cũng bình.
Tuần du đã tỏ dân tình,
Sơn xuyên trải khắp địa hình gần xa.
Trừ quân vì một ấu niên.
Tuổi đà còn bé tìm đường ngoại biên
Thác cô nhờ có tôi hiền,
Dẫu người hối chúc mà quyền chẳng sai.
Cao Tông ba tuổi nối đời,
Hiến Thành cư nhiếp, trong ngoài đều yên.
Di lưu còn muốn tán dương.
Để rồi thay đổi bao đường nhiễu nhương

9. Lý Cao Tổ thất chính[sửa]

Tiếc không dùng kẻ trung tương,
Cao Tông hoang túng mọi đường ai can?
Dấu xe quanh khắp giang san,
Chính mình lỗi tiết, du quan quá thường.
Lại thêm thổ mộc cung tường,
Mua quan bán ngục nhiều đường riêng tây.
Nhạc Chiêm rầu rĩ khéo bầy,
Những là tai biến từ này hiện ra.
Trâu đâu lên ngọn am la,
Thước đâu làm tổ góc nhà Kính thiên.
Bốn phương trộm cướp nổi lên,
Quân Chiêm, người Tống xâm biên mấy kỳ.
Vui chơi nào có biết gì,
Thờ ơ phó chuyện an nguy mặc trời.

10. Quách-Bốc chiếm kinh-thành[sửa]

Quyền-cương ngày một đổi dời,
Phạm-Du đã phản lại vời về kinh.
Bỉnh-Di là kẻ trung-thành,
Nghe dèm mà nỡ gia-hình cớ sao?
Bởi ai gây việc oan-cừu,
Để cho Quách-Bốc sấn vào kim giai.
Xe loan lánh chạy ra ngoài,
Hoàng-thân đế thích mỗi người một phương.

11. Họ Trần giúp vua Lý[sửa]

Trừ quân đi đến Thiên trường.
Tình cờ lại gặp một nường tiểu thư.
Con nhà Trần Lý công ngư.
Lưới chài nhưng cũng phong tư khác thường.
Trăng già đưa mối tơ vương,
Mới hay con tạo mở đường di duyên.
Họ Trần từ ấy nổi lên.
Kết bè thích lý, dựng nền tiếm giai.
Trần Tự Khánh ở phương ngoài,
Đem quân Hải ấp vào nơi đô thành.

12. Lý Huệ Tông phát điên[sửa]

Huệ tông gặp bước gập ghềnh,
Nhẹ ân mẫu hậu, nặng tình phu nhân.
Lạng châu xe đã Bắc tuần,
Nửa đêm riêng với nàng Trần lẻn đi.
Gặp quân Tự khánh rước về,
Đuơng cơn gió bụi bốn bề chưa êm.
Huệ tông cuồng tật lại thêm.
Khi ngày đứng múa khi đêm nằm dài.
Xuất gia lại muốn tu trai,
Ngôi thiêng phó thác cho người đào thơ.
Đằng sơn bóng nhật đã mờ,
Hai trăm mười sáu Lý cơ còn gì?”

13. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng[sửa]

Chiêu hoàng là phận nữ nhi,
Phấn son gánh việc gian nguy được nào!
Xây vần cơ tạo khéo sao?
Bỗng xui Trần Cảnh hiện vào hầu trong.
Người yểu điệu, kẻ thư phong,
Bén hơi rơm lửa, động lòng mưa mây,
Vẩy nước chậu, vắt khăn tay,
Khi đêm đập bóng, khi ngày ngồi chung.
Hoa đào đã dạn gió đông.
Vua tôi phận đẹp, vợ chồng duyên may.
Chiếu rồng ban xuống năm mây.
Mừng rằng nữ chúa ngày nay có chồng.

Thời Kỳ Thịnh Trị (1226 – 1340)[sửa]

XI. Nhà Trần (Thời kỳ thịnh trị: 1226 – 1340)[sửa]

1. Những việc cải cách đầu tiên[sửa]

Đông A tỏ mặt vừng hồng,
Thái tông cải hiệu Kiến trung rõ ràng.
Trần Thừa là Thái thượng hoàng,
Chuyên quyền thính đoán, gồm đường kinh luân.
Soạn làm thông chế lễ văn,
Thuế điền đã định, số dân cũng tường.
Tướng thần mới đặt bình chương,
Huyện châu sai kẻ khoa trường trị dân,
Bạ đầu thi kẻ lại nhân.
Hiệu quân Tứ thánh, Tứ thần mới chia.
Hà phòng rày mới có đê,
Trăm quan áo mạo, dù xe thêm tường.
Việc ngoài đánh dẹp bốn phương,
Phó cho Thủ Độ chuyên đường trị dân.

2. Văn học và võ công[sửa]

Thượng hoàng phút đã từ trần,
Thái tông tuổi mới đến tuần mười hai.
Cao minh đã có tư trời,
Lại thêm Thủ Độ vẽ vời khôn ngoan.
Sùng văn, tô tượng Khổng, Nhan,
Dựng nhà Quốc học, đặt quan Giám thần,
Bảy năm một hội thanh vân,
Anh tài náo nức dần dần mới ra.
Trạng nguyên, bảng nhỡn, thám hoa,
Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh
Lại thi thái học chư sinh,
Lại thi tam giáo chia rành ba khoa.
Thân chinh trỏ ngọn thiên qua,
Chiêm nam, Nguyên bắc đều là dẹp tan.

3. Phong tục đời Trần[sửa]

Vì ai, đạt gánh giang san?
Mà đem cố chúa gia oan nỡ nào!
Chiêu hoàng duyên trước làm sao?
Gả đi bán lại, coi vào khó nghe!
Phép nhà chẳng sửa buồng the,
Vợ anh sao nỡ đem về hậu cung
Bởi ai đầu mở hôn phong,
Khiến nên một đạo khuê phòng thẹn riêng!
Thuần bôn dong thói ngửa nghiêng,
Họ đương lấy lẫn nào kiêng sợ gì.
Thiên Thành công chúa vu quy,
Sao Trần Quốc Tuấn cướp đi cho đành?
Sính nghi đem tiến thiên đình
Thụy bà lăng líu, Trung Thành ngẩn ngơ:
Dị đoan mê hoặc khôn chừa,
Chùa tô phật tượng, đình thờ Thích ca.
Tin lời phong thủy khi tà,
Đào sông đục núi cũng là nhọc thay!
Lễ đâu yến ẩm quá say,
Đội mo rót rượu, dan tay vui cười.
Ba mươi năm chán cuộc đời,
Truyền cho con nối, ra ngoài Bắc cung.

4. Đức độ và chánh trị của Trần Thánh tông[sửa]

Thánh tông hiếu hữu một dòng,
Sớm hôm chầu chực, mát nồng thảnh thơi.
Anh em đệm cả gối dài,
Sân trong yến lạc, cõi ngoài ấm phong.
Một thiên truyền thụ phép lòng,
Di mưu cho kẻ nối dòng ngày sau.
Văn nho khuya sớm giảng cầu,
Kẻ tu sử ký, người chầu kinh diên.
Bề ngoài nghiêm việc phòng biên,
Kén quân đoàn luyện tập thuyền Cửu sa.

5. Trần Hưng Đạo phá Mông Cổ[sửa]

Trao truyền theo lối phép nhà,
Nhân tông hùng lược lại là tài hơn,
Rợ Nguyên quen thói tham tàn,
Quân năm mươi vạn, những toan tranh hành,
Sắc sai Hưng Đạo tổng binh,
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào.
Chương dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo, ra vào có công?
Hàm quan một trận ruổi giong,
Kìa ai bắt giặc, uy phong còn truyền?
Giặc Nguyên còn muốn báo đền,
Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang.
Xương bày trắng đất, máu màng đỏ sông.
Trần Hưng Đạo đã anh hùng,
Mà Trần Nhật Duật kể công cũng nhiều.
Hoài Văn tuổi trẻ trí cao,
Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công.
Trần Bình Trọng cũng là trung,
Đành làm Nam quỷ, không lòng Bắc vương.
Khuyển ưng còn nghĩa đá vàng,
Yết Kiêu, Dã Tượng hai chàng cũng ghê!
Mà trong ngọc diệp kim chi,
Lũ Trần Ích Tắc sao đi đầu hàng?
Nhân khi biến cố vội vàng,
Kẻ trung người nịnh đôi dàng tỏ ra,
Trùng hưng đem lại sơn hà,
Đã hay thiên tướng cũng là tài sinh.
Nước nhà khi ấy thanh bình,
Truyền ngôi thái tử, lánh mình Ngọa vân.

6. Anh tông và Minh tông[sửa]

Anh Tông nối giữ nghiệp Trần,
Trong tu văn đức, ngoài cần vũ công.
Có châm để dạy Đông cung.
Thủy vân có tập vui cùng bút nghiên.
Ví không mến phật, say thiền,
Cũng nên một đứng vua hiền Đông A.
Quyện cần rồi lại xuất gia,
Minh tông kế thống cũng là hiền vương.
Mười lăm năm giữ phép thường,
Rạng nền nếp cũ, mở giường mối sau.
Tiếc không biện biệt ngư châu
Để cho tà nịnh ở đầu giai ban.
Khắc Chung thêm dệt lời gian,
Quốc Chân mắc phải tiếng oan thiệt mình.

7. Việc đánh dẹp về đời Hiến tông[sửa]

Hiến tông làm máy lung linh,
Nghiêm xem tinh độ vận hành không sai.
Thạch đê mới đắp đường dài,
Nước sông thuận lối về ngoài biển Đông.
Thừa bình lại hiếu vũ công,
Đà giang xa mã, Nam nhung tinh kỳ
Cổ quăng mấy kẻ truy tùy,
Nhữ Hài, Chiêu Nghĩa đều về thủy cung
Kiềm châu có đá kỷ công,
Oán dày vẻ triện, sầu đông ngấn rều.

XII. Nhà Trần (Thời kỳ suy vi: 1341 – 1400)[sửa]

1. Nhà Trần bắt đầu suy[sửa]

Dụ tông em lại thừa diêu,
Ngôi thay anh cả, quyền theo Thượng hoàng.
Thượng thư mới đặt tỉnh đường,
Đề hình chuyển vận chức thường có tên.
Khuyến nông sai sứ đồn điền,
Vân đồn đặt trấn tra thuyền khách nhân.
Khu tào thống lĩnh cấm quân,
Phong đoàn lại mới kén dần các đô.
Uy thanh xa động biên ngu,
Chiêm thành Chế Mộ dâng đồ thổ nghi
Mong nhờ đưa lối về quê,
Hay đâu gặp gió trở về luống công.
Thượng hoàng đã vắng mặt trong,
Nào ai kiêng sợ mà lòng chẳng di?
Đền Song quế, ao Thanh trì,
Muông chim hoa cỏ thiếu gì trò chơi!
Trong cung cờ bạc chơi bời,
Tiệc vui chuốc chén, trận cười leo dây!
Đạo thường chẳng cẩn phòng vi,
Chị em chung chạ loạn bề đại luân.

2. Dương Nhật Lễ tiếm vị[sửa]

Truyền ngôi con đứa ưu nhân,
Để Dương Nhật Lễ tiếm trần dựng lên.
Thói nhà bài hước đã quen,
Tiếng hòa nhịp phách, hát chen cung đàn.
Hiến từ đã phải hàm oan,
Trần công mưu hở thân tàn cũng thương!
Nghệ tông dòng dõi thiên hoàng,
Đà giang lánh dấu, liệu đường khuất thân,
Tiềm mưu với kẻ tôn thần,
Đem về xã tắc nhà Trần thủa xưa.
Yêu phân dành đã tảo trừ,
Cũng là nối một mối thừa lại sau.

3. Chiêm Thành xâm nhiễu[sửa]

Tiếc sao một bực ưu nhu,
Đông A từ ấy cơ đồ mới suy.
Giậu phên trống trải biên thùy,
Giặc Chiêm giong ruổi đô kỳ xôn xao.
Quý Ly cho dự khu tào,
Báu thiêng lại để gian hào khải du
Duệ tông hăm hở phục thù,
Đánh Chiêm nào quản tri khu dặm trường.
Khinh mình vào động Ky mang,
Tinh kỳ tan tác gió sương mịt mù.
Em là Phế đế hôn ngu,
Chôn tiền giấu của như đồ trẻ chơi.

4. Lê Quý Ly phế lập[sửa]

Quý Ly quyền lấn trong ngoài
Buông lời sàm gián quên bài tôn thân.
Truyền vời Phế Đế vào sân,
Lụa đào một tấm bể trần kết oan.
Thuận tông tuổi mọn tài hèn,
Ngồi không mà để chính quyền mặc ai.
Phải chăng bởi tại mưu người,
Mà điềm trẫm triệu cơ trời lạ sao!
Thượng hoàng một giấc chiêm bao,
” Bạch kê, xích chủy” ứng vào câu thơ.
Loạn trưng đã hiện từ giờ,
Mà đồ tứ phụ ai ngờ vẽ ra!
Chim con đem gửi ác già,
Chắc đâu phó thác hẳn là đắc nhân!

XIII. Nhà Hồ và giặc nhà Minh (1400 – 1418)[sửa]

1. Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần[sửa]

Quý Ly gắm ghé vạc Trần.
Quyết dời kẻ chợ về gần An tôn.
Đã xui truyền vị cho con,
Ngọc Thanh lại kết oan hồn một giây.
Gặp khi Thiếu Đế thơ ngây,
Khát Chân, Trần Hãng đêm ngày hợp mưu.
Hội minh vừa mới lên lầu,
Ba trăm đồ đảng cùng nhau hiệp tình.
Dùng dằng chưa kịp cất binh,
Hở cơ một phút tan tành như tro.
Quý Ly mới đổi họ Hồ,
Quốc danh là hiệu Đại Ngu chương hoàng.
Truyền ngôi con cả Hán Thương,
Tự xưng là Thái thượng hoàng ở trong.
Sai người dâng biểu cầu phong,
Dối Minh xin để nối dòng quốc quân.

2. Quân Minh diệt nhà Hồ[sửa]

Nguyễn Khang giả tiếng họ Trần,
Sang Minh xin lấy viện quân đưa về.
Chi lăng nghe động cổ bề,
Lý Bân, Mộc Thạnh trỏ cờ tới nơi.
Quân Minh nhân thế đuổi dài,
Nhị Hồ mới chạy ra ngoài phương xa.
Núi Cao vọng, bến Kỳ la,
Đường cùng phải bắt cũng là trời xui!
Tôn vinh kể được mấy hơi,
Sáu năm tiếm vị, muôn đời ô danh

3. Trần Giản Định chống Minh[sửa]

Quý Ly tội ác đã đành,
Rồi ra lại gặp người Minh hung tàn.
Chia phủ, huyện, đặt quân quan,
Cỏ cây đều phải lầm than hội này
Dòng Trần chưa dứt một dây,
Triệu Cơ còn rắp ra tay đồ hồi.
Lại phù Giản Định lên ngôi,
Cảnh Chân, Đặng Tất vua tôi hiệp tình.
Mở cờ đánh với quân Minh,
Phá đồn Cổ lộng, đốt thành Bô cô.
Ví hay nhân thế tràng khu,
May ra khôi phục cơ đồ cũng nên.
Trùng hưng cơ tự chưa bền,
Bỗng không đem kẻ tướng hiền giết đi,
Cho nên hào kiệt bạn ly,
Cánh vây không có, còn gì mà mong?

4. Trần Trùng Quang chống Minh[sửa]

Tướng môn lại có con dòng,
Đặng Dung, Cảnh Dị mới cùng hợp mưu.
Một hai quyết chí đồng cừu
Cùng đem binh sĩ ruổi vào Chi la.
Lại tìm dòng dõi Trần gia,
Tôn phù Quý Khoáng, ấy là Trùng Quang.
Đem binh vào phủ Thiên tràng,
Đón vua Giản Định về đàng Nghệ an.
Cùng nhau gánh việc gian nan,
Hạ hồng tế ngựa, Bình than đỗ thuyền.
Quân Minh cố giữ thành bền,
Bỗng đâu Trương Phụ băng miền lại sang.

5. Quân Minh chiếm toàn cõi Đại Việt[sửa]

Từ khi Giản Định đầu hàng,
Nghệ an đất cũ Trùng Quang lại về.
Quân Minh chiếm giữ Bắc kỳ,
Vua Trần lánh ở Nam thùy một nơi.
Đặng Dung, Cảnh Dị mấy người,
Thế cùng dù có tướng tài cũng thua.
Trước sau mười bốn đời vua,
Một trăm tám chục xuân thu chưa chầy.
Loạn cơ bởi tự ai gầy?
Quý Ly tiếm thiết tội dây muôn đời.
Chẳng qua lịch đổi, số dời,
Xui ra cho đứa gian hồi nhuốm tay.

6. Chính sách nhà Minh[sửa]

Cốc lăng trời khéo đổi thay,
Giận riêng bờ cõi từ nầy thuộc Minh.
Người trí thức, kẻ tài danh,
Nam sơn đào độn, Bắc đình câu lưu,
Thuế tơ, thuế thóc tham cầu,
Mỏ vàng mỏ bạc, trưng thâu cũng nhiều;
Săn bạch tượng, hái hồ tiêu,
Mò châu, cấm muối, lắm điều hại dân.

XIV. Nhà Hậu Lê (Thời kỳ thống nhất: 1418 – 1526)[sửa]

1. Lê thái Tổ phá giặc Minh[sửa]

Mới hay cơ tạo xoay vần,
Có khi bĩ cực đến tuần thái lai.
Thiếu chi hào kiệt trong đời,
Non xanh nước bạc có người kinh luân.
Lương giang trời mở chân nhân,
Vua Lê Thái tổ ứng tuần mới ra.
Lam sơn khởi nghĩa từ nhà,
Phong trần lắm lúc kể đà gian nguy.
Lạc xuyên đầu giết Mã Kỳ,
Nghệ, Thanh một giải thu về bản chương.
Chia quân kinh lược mọi đường,
Hai kinh đã định, bốn phương cũng bình.
Vương Thông bền giữ cô thành.
Viện binh hai đạo Bắc đình tiếp sang.
Trời nam đã có chủ trương,
Mà cơ chế thắng miếu đường cũng tinh.
Chi lăng các đạo phục binh,
Liễu Thăng, Mộc Thạnh liều mình nẻo xa.
Vương Thông thế túng cầu hòa,
Quyền phong Trần Cảo gọi là Quốc vương.
Ngôi thiêng sao xứng tài thường.
Trần Công trẫm sát để nhường long phi.

2. Nhà Lê kiến quốc[sửa]

Thuận thiên niên hiệu cải đề,
Non sông mới thuộc về Lê từ rầy,
Quan danh, quân hiệu mới thay,
Bản đồ đổi lại huyện này, phủ kia.
Dựng nhà học, mở khoa thi,
Triều nghi, quốc luật một kỳ giảng tu
Mười năm khai sáng cơ đồ,
Sáu năm bình trị qui mô cũng tường.
Thái tông rộng mở khoa trường,
Lập bia tiến sĩ trọng đường tư văn.
Chín năm noi nghiệp cơ cần,
Viễn di mến đức, cường thần sợ uy.
Tuổi xanh hoang túng nhiều bề,
Vườn xuân lắm lúc say mê vì tình.
Đông tuần về đến Bắc ninh,
Riêng cùng Thị Lộ quên mình bởi ai?
Nhân tông tuổi mới lên hai,
Quyền trong mẫu hậu, chính ngoài thần công.
Mười năm một hội đại đồng,
Văn mô rạng trước, vũ công phục ngoài.
Đánh Chiêm thành, cất Bí cai,
Đổ bàn, Cổ lũy các nơi hướng tiền.

3. Lê Nghi Dân cướp ngôi[sửa]

Diên ninh vừa độ trung niên,
Nhân tông tuổi cả mới lên ngự trào.
Nghi Dân cốt nhục nỡ nào,
Tiềm mưu đêm bắc thang vào nội cung
Mẹ con đương thủa giấc nồng,
Hồn tiên liều với gian hùng một tay.
Nghi Dân chuyên tiếm từ đây,
Lương tâm đã dứt, ác cai lại nồng.
Đình thần nghị tội truất phong,
Rước Gia vương, ngự đền rồng cải nguyên.

4. Thời kỳ toàn thịnh: Lê Thánh tông[sửa]

Thánh tông cốt cách thần tiên,
Lại thêm kinh thánh truyện hiền gia công,
Quốc âm, Đường luật tinh thông,
Thiên văn, toán pháp, binh nhung cũng tường.
Tài cao mại, đức thù thường.
Kiến văn đã rộng, thi trương cũng già,
Ba năm lại mở một khoa,
Tân hưng, đại tị theo nhà Thành Châu,
Nhạc âm, lễ chế giảng cầu,
Quan danh, phục sắc theo trào (triều) Đại Minh.
Mở Quảng nam, đặt Trấn ninh
Đề phong muôn dặm uy linh ai bì.
Kỷ công núi có Đá bia,
Thi văn các tập ‘ Thần khuê còn truyền.
Thừa diêu lại có con hiền,
Hiến tông nhân thứ rạng nền tiền huy.

5. Nhà Lê bắt đầu suy[sửa]

Túc tông số lẻ vận suy,
Để cho Uy Mục thứ chi nối đời.
Đêm ngày tửu sắc vui chơi,
Tin bè ngoại thích hại người từ thân.
Văn Lang xướng suất phủ quân.
Thần phù nối áng phong trần một phương.
Giản Tu cùng phái ngân hoàng,
Vào Thanh hợp với Văn Lang kết thề.
Đem binh vây bức đô kỳ,
Quỷ vương khuất mặt, quyền về Trư vương.
Lại càng dâm ngược kiêu hoang.
Trăm gian, nghìn nóc, cung tường xa hoa.
Lại càng bác tước họ nhà.
Cành vàng lá ngọc đều là điêu linh.

6. Loạn Trần Cảo và Trịnh Duy Sản[sửa]

Phương ngoài Trần Cảo lộng binh,
Mà trong Duy Sản mống tình bạn quân.
Đem binh vào cửa Bắc thần,
Bích câu một phút mông trần bởi ai.
Giềng Lê khi đã đổi dời,
Mặc tay Duy Sản đặt người chủ trương
Đã tôn con Mục ý vương,
Lại mưu phù lập Chiêu hoàng cớ sao?
Thị thành vừa lúc xôn xao,
Lại đưa xa giá ruổi vào cõi Tây,
Lòng trời khử tật mới hay,
Giết Duy Sản lại mượn tay giặc Trần.
Tướng tài còn có Trần Chân,
Nguyệt giang chống với giặc Trần mấy phen
Ngụy Trần vào cứ Đồng Nguyên,
Truyền ngôi con cả, cải nguyên Tuyên hòa,
Cạo đầu vào cửa Thích già,
Y qui nương bóng Di đà độ thân.

7. Chính quyền tan rã[sửa]

Trời sinh ra hội phong trần,
Mạc Đăng Dung lại cường thần nổi lên.
Trần Chân tay giữ binh quyền,
Trên ngờ thế cả, dưới ghen tài lành
Tiếc thay có tướng can thành,
Tin sàm mà nỡ dứt tình chẳng tha.
Vì ai gây gỗi oan gia,
Để cho Nguyễn Kính lại ra báo thù.
Kinh sư khói lửa mịt mù.
Xe loan ra cõi Bảo châu tỵ trần.
Nguyễn Sư cũng đảng nghịch thần,
Nửa năm phù lập hai lần quốc vương.
Ngàn Tây một cõi chiến trường,
Phó cho Mạc súy sửa sang một mình.

8. Mạc Đăng Dung chuyên quyền[sửa]

Đăng Dung cậy có công danh,
Thuyền rồng, tán phượng lộng hành sợ chi.
Chiêu Tông gặp lúc hiềm nghi,
Nửa đêm lén bước chạy về Tây phương.
Đăng Dung lập lại Cung hoàng,
Hành cung tạm trú Hải dương cõi ngoài.
Xe loan về đến kinh đài,
Sẵn sàng thiền chiếu ép bài sách phong.
Họa tâm từ ấy càng nồng
Lương châu Tây nội cam lòng cho đang.

XV. Nhà Mạc (1527 1592)[sửa]

1. Ngoại giao và nội chính của Mạc Đăng Dung[sửa]

Mạc rầy rõ mặt tiếm cường,
Thăng long truyền nước, Nghi dương dựng nhà.
Dỗ người lấy vẻ vinh hoa,
Nhưng lòng trung nghĩa ai mà sá theo.
Cầu phong sai sứ Bắc triều,
Dâng vàng, nộp đất nhiều điều dối Minh.
Lê thần có kẻ trung trinh,
Trịnh Ngung sang đến Bắc đình tỏ kêu.
Minh tham lễ hậu của nhiều,
Phụ tình trung nghĩa, quên điều thị phi.
Đăng Dung thỏa chước gian khi,
Tuổi cao rồi lại truyền về Đăng Doanh.
Mã giang đầu xướng nghĩa thanh,
Gần xa đâu chẳng nức tình cần vương.
Được thua mấy trận chiến trường.
Nghìn thu tiết nghĩa đá vàng lưu danh.

2. Nguyễn Kim khởi nghĩa phù Lê[sửa]

Cành Lê có độ tái vinh,
Xui nên tá mệnh trời sinh thánh hiền.
Đức vua Triệu tổ ta lên,
Cất quân phù nghĩa giúp nền trung hưng,
Sầm châu ỷ thế nguồn rừng,
Mười năm khai thác mấy từng nước non,
Dù khi đỉnh tộ suy mòn,
Cương trù chưa nát vẫn còn tôn Lê.
Trang tông lưu lạc tìm về,
Chia binh Thúy đả, mở cờ Ai lao.
Lôi dương một trận binh giao,
Phá tan nghịch đảng tiến vào Nghệ an
Cỏ hoa mừng rước xe loan,
Thổ hào ứng nghĩa dân gian nức lòng,
Tây đô quét sạch bụi hồng,
Dặm tràng thẳng trỏ ngọn đòng tràng khu
Hẹn ngày vào tới Đông đô,
Một hai thu phục cơ đồ thủa xưa.
Độc sao hàng tướng tiến dưa!
Trước dinh Ngũ trượng bỗng mờ tướng tinh.

3. Trịnh Kiểm tiến quân ra Bắc[sửa]

Tiếc thay công nghiệp thùy thành,
Để cho Trịnh Kiểm thay mình thống quân
Sáu năm vừa hội hanh truân,
Đỉnh hồ đâu đã đến tuần mây che.
Trung tông nhờ cậy dư uy,
Mạc thần mấy kẻ cũng về hiệu trung.
Biện dinh quân mạnh, tướng hùng,
Bốn phương hào kiệt nức lòng y quang.
Đông kinh trỏ ngọn việt vàng,
Phúc Nguyên Mạc chúa chạy sang Kim thành.
Thần phù thuyền giã lênh đênh,
Lại còn Kính Điển đeo tình quấy trêu.
Quan binh theo ngọn thủy triều,
Duyên giang một trận, nước bèo chảy tan.
Anh tông nối nghiệp gian nan,
Tây đô một giải giang san cõi nhà.
Mạc vào xâm nhiễu Thanh hoa,
Thái sư Trịnh Kiểm lại ra tiễu bình.

4. Nguyễn Hoàng vào Hóa Châu[sửa]

Hóa châu có đất biên thành,
Bốn bề sơn hải trời dành kim thang.
Trịnh công tâu với Lê hoàng,
Chọn người ra giữ một phương thành dài.
Bản triều Thái tổ hùng tài,
Gióng cờ ra trấn cõi ngoài từ đây.
Việt mao khi đã đến tay,
Hoành sơn một giải mới gây cơ đồ.

5. Trịnh Mạc phân tranh[sửa]

Mặt trong đành đã khỏi lo,
Trịnh công chuyên ý trì khu cõi ngoài.
Quận Gia, quận Định mấy người,
Hưng, Tuyên binh hợp các nơi thêm dầy.
Mạc dần suy yếu từ nay,
Vận Lê xem đã đến ngày trùng hanh.
Đem quân về giữ Tây kinh,
Bể Thanh lại lặng tăm kình như không.
Nhân khi Mậu Hợp ấu trùng,
Mở đường Phố cát, qua sông Bồ đề.
Mạc vào, quân lại rút về,
Mạc lui, quân lại bốn bề kéo ra.
Tuyết sương trăm trận xông pha,
Trịnh Công vì nước cũng đà cần lao.

6. Trịnh Tùng chấp chính[sửa]

Tuổi già vừa giải tiết mao,
Con là Trịnh Cối lại vào đổng nhung.
Kiêu hoang quen thói con dòng,
Binh quyền lại để Trịnh Tùng thay anh,
Cối, Tùng một gốc đôi cành,
Vinh khô đã khác, ân tình cũng khuê,
Anh em mâu thuẫn hai bề,
Thừa cơ Mạc lại kéo về nội xâm.
Mạc lui, Tùng mới manh tâm,
Ngoài trương thanh thế, trong cầm quyền cương.
Lại mưu tàn hại trung lương,
Vàng đưa ngoài cửa, búa trương dưới màn.
Tạ tình phụ tấm niềm đan,
Đem Lê Cập Đệ giết oan nỡ nào!
Bằng không nổi trận ba đào,
Để cho xa giá chạy vào Nghệ an.
Giá điền vừa mới hồi loan,
Lôi dương đã nổi tiếng oan giữa vời.
Thế tông con thứ nối đời,
Trịnh Tùng phù lập cùng loài giả danh.

7. Trịnh Tùng diệt Mạc[sửa]

Cõi ngoài giặc Mạc tung hoành,
Bắc hà cát cứ mấy thành nhân dân.
Giáng uy nhờ có lôi thần,
Nhân khi Mậu hợp đến tuần thiên tru
Mạc thần mấy kẻ vũ phu,
Sao mai lác đác, lá thu rụng rời.
Xuất binh vừa gặp cơ trời,
Đường ghềnh len lỏi ra ngoài Thiên quan.
Tràng khu một lối duyên san,
Huyện châu gió lướt, Tràng an lửa nồng.
Bỏ thành, Mạc chạy qua sông,
Đuổi sang Phượng nhỡn đường cùng mới thôi,
Kể từ Ngụy Mạc tiếm ngôi,
Năm đời truyền kế sáu mươi năm chầy.
Trần ai quét sạch từ rày,
Về kinh ban yến, tiệc bầy thưởng công.

XVI. Nhà Lê Trung hưng (Vua Lê Chúa Trịnh: 1593 – 1729)[sửa]

1. Giao thiệp buổi đầu với Trung hoa[sửa]

Mới sai sứ giả cầu phong,
Nghe gièm, Minh hãy còn lòng tin nghi.
Sai quan hội khám một kỳ,
Phong làm Đô thống, cơ mi gọi là!
Phùng Khoan sứ tiết cũng già,
Biểu từ biện chiết thật đà thiết minh.
Mấy lời ôn dụ đinh ninh,
Phong vương còn đợi biểu tinh có ngày.

2. Trịnh Tùng xưng chúa[sửa]

Hổ lui, lang tới khéo thay!
Mạc kia vừa dẹp, Trịnh nầy lại lên.
Tùng xem căn cứ đã bền,
Công danh càng thịnh, uy quyền càng cao.
Rỡ ràng ngọc sách, tinh bao,
Gia phong Nguyên súy, dự vào sủng chương
Bình an lại tiến tước vương,
Gầy nên tiếm thiết, mở đường khải du.
Kính Tông còn độ ấu cô,
Đống lương ai kẻ xanh phù vạc Lê?
Triều thần những lũ Bùi Khuê,
Lại tìm Mạc nghiệt theo về Kính Cung.
Nghi dương tro tắt lại nồng,
Thị thành nổi áng bụi hồng bởi ai?
Nhân khi giá ngự ra ngoài,
Thừa hư Mạc lại vào nơi đô thành.
Quan quân ra đánh lại bình,
Thặng dư mới phát tự Thanh ngự về.
Chông gai tuy sạch mọi bề,
Mà trong quyền cả chuyên về một tay.
Bốn phương tai biến đã đầy,
Đầm khô, núi lở, cát bay mù trời
Chẳng qua trăm sự tại người,
Gẫm cơ hưu cữu biết đời thịnh suy.
Súng đâu phục trước đường đi,
Để cho Trịnh chúa lại nghi Lê hoàng.
Sinh con gặp đứa vô lương,
Châu liên sao nỡ quên đường quân thân?

3. Trịnh Tráng tăng quyền phủ chúa[sửa]

Thừa gia theo lối cường thần,
Vua Lê, chúa Trịnh nhân tuần đã quen,
Thần tông vừa mới cải nguyên,
Sách phong Trịnh Tráng đã ban từ giờ.
Thành đô quyền trọng hơn xưa,
Nhà Lê cũng một giải thừa mà thôi!
Nước nhà đang buổi yên vui,
Xin vua xuống chiếu truyền ngôi nhẽ gì?
Chẳng qua là dạ gian khi,
Làm cho rõ mặt phúc uy tự nhà.
Chân Tông tuổi mới mười ba,
Hững hờ quyền chúa, ngôi cha mặc lòng.
Quốc vương Minh mới cải phong,
Bảy năm lịch số vừa chung một đời
Xoay quanh mới tỏ đạo trời,
Báu thiêng đem lại cho người truyền gia
Thần tông thay giữ nghiệp nhà,
Thượng hoàng lại đổi mặt ra tân hoàng.
Thờ ơ cờ đạo nhà vàng,
Chính quyền phó mặc Trịnh vương, biết gì.
Nhà Minh thuở ấy đã suy,
Mượn binh lại sắp nhờ uy cường thần.
Sắc phong chiếu dụ ân cần,
Phó vương Trịnh lại thêm phần tôn vinh.
Cả giầu sang, lớn quyền hành,
Giang sơn chung một triều đình chia đôi.

4. Trịnh Tạc đánh Nguyễn và Mạc[sửa]

Tiếm phong, Trịnh Tạc nối ngôi,
Tước vương mình lại tài bồi cho con.
Càn cương ngày một suy mòn,
Cuộc đời chìm nổi, ai còn hiệu trung,
Bản triều mở dấu Kỳ phong,
Thánh thần truyền dõi một lòng tôn Lê.
Quyền gian giận Trịnh nhiều bề,
Sắc sai Chiêu, Thuận khắc kỳ tiến chinh.
Sáu năm rồi mới bãi binh,
Lũy dài còn dấu uy linh để truyền.
Vận Lê còn buổi truân chuyên,
Huyền tông thơ ấu để quyền Tây vương.
Đẳng uy đã biến lễ thường,
Vào chầu không lạy, miếu đường có ai?
Thiên nhan lại muốn sánh vai,
Giường ngồi đem đặt bên nơi ngự tiền.
Dọc ngang dưới phủ trên đền,
Mống tình cải bộ gây nền tranh vương.
Vũ công lại muốn phấn dương,
Đem quân đánh Mạc lại sang Cao bình.
Mạc vào cầu viện Yên kinh,
Phong làm Đô thống tung hoành cõi xa.
Bốn châu riêng một sơn hà,
Danh tuy phụ Hán, thực là thê Ngô.
Gia tông vừa nối cơ đồ,
Xe loan đã giục trì khu ra ngoài.
Phòng biên đã có tướng tài,
Quân ta một trận, lũy dài phá tan,
Mã đầu đã trở quy an,
Hà trung Trịnh lại đặt quan lưu đồn.

5. Trịnh Căn và nhà Thanh[sửa]

Về nhà lập lại Trịnh Côn (Căn)
Nam vương theo lối quyền môn một dòng.
Đêm ngày bí các thong dong,
Văn thần thay đổi vào trong chực hầu,
Quốc Trinh tham tụng ở đầu,
Bởi sao nên nỗi gây thù ưu binh?
Hy tông hoàng đệ thay anh,
Ngôi không luống giữ, quyền hành mặc ai!
Bấy lâu chiếm giữ cõi ngoài,
Hãy còn Mạc nghiệt mấy đời đến nay.
Di thư sang với Quảng tây,
Một lần hội tiễu từ này chạy xa.
Quân Thanh xâm chiếm đất ta,
Vị xuyên, Bảo lạc, Nà oa, Lộc bình.
Thổ quan lại có tư tình,
Tham vàng đem giới kệ đình chuyển di.

6. Triều thần nhà Lê[sửa]

Bên ngoài xâm tước nhiều bề,
Ở trong chính sự chỉnh tề được bao?
Lễ gì hơn lễ bang giao,
Mà cho quan thị đứng vào đầu ban.
Thế mà những kẻ cư quan,
Cũng đành ngoảnh mặt cho toàn tôn vinh.
Tại triều mấy kẻ trâm anh,
Nguyễn Đang, Đồng Trạch công thanh một đường.
Thế Vinh tài học ưu trường,
Nguyễn Hành, Hà Mục văn chương cũng già.
Bởi ai thiên hạ âu ca,
Chẳng quan tham tụng Vãn hà là chi?
Bởi ai thiên hạ sầu bi,
Chẳng quan tham tụng Lê Hy hãnh thần?
Tính đi nghĩ lại xa gần,
Nhiều phần vì Trịnh, ít phần vì Lê.
Mồi giầu sang đã say mê,
Lấy ai chỉ trụ làm bia trong đời!

7. Những việc cải cách về thời Trịnh Cương[sửa]

Dụ tông nối giữ ngôi trời,
Trịnh Cương chuyên chế theo loài cố gia
Lục phiên lại đặt tư nha,
Bao nhiêu tài phú đều là về tay.
Các quan trấn thủ mới thay,
Hưng Tuyên thống hạt từ rầy chia hai.
Vũ thần mỗi trấn một người,
Để cho vững thế mặt ngoài phiên ly.
Lấy năm điều khảo trấn ti,
Cứ trong điển tối mà suy hay hèn.
Thẩm hình đặt viện phủ tiền,
Sai quan tra kiện thay quyền pháp ti.
Vũ khoa mới đặt phép thi,
Hỏi đường thao lược, thử nghề dao cung.
Ba trường phúc thí đã xong,
Đề danh tạo sĩ bảng rồng cũng vinh.
Kén thêm tứ trấn binh đinh,
Vệ quân mới đặt sáu dinh từ rầy.
Công tư điền thổ xưa nay,
Sai quân khám đạc san tay dân cùng
Tuần hành có sứ khuyến nông.
Giữ gìn đê lộ, xét trong dân tình.
Đem thư biện với nhà Thanh,
Mỏ đồng, mỏ kẽm lại giành về ta.
Lập bia trên Đổ chú hà,
Giới cương tự đó mới là phân minh.
Qui mô cũng muốn sức bình,
Mà lòng lăng tiếm tự mình ra chi?
Lập phủ đường ở Cổ bi,
Toan đem kinh quốc dời về cố hương
Đông cung đã lập Duy Tường,
Bỗng không lại đổi Duy Phường cớ sao?

XVII. Nhà Lê suy vi (Trịnh Nguyễn phân tranh: 1729 – 1782)[sửa]

1. Chính sách đồi bại của Trịnh Giang[sửa]

Trịnh Giang quen lối gian hào.
Truất ngôi Vĩnh Khánh hãm vào tội nhân.
Thuần Tông đặt bỏ mấy lần,
Phúc uy mặc sức cường thần mới ghê.
Ý tông còn tuổi hài đề
Danh tuy chính thống, quyền về phó vương.
Trịnh càng dâm ngược kiêu hoang,
Đêm ngày luống những tham đường vui chơi.
Dấu xe giong ruổi quanh trời,
Sửa sang cảnh Phật, vẽ vời động tiên.
Quỳnh lâm, Hương hải, Hồ thiên,
Của thiên hạ chất cửa thiền biết bao?
Kho tàng ngày một tiêu hao,
Bán khoa, mua tước tiền vào sáu cung
Phó vương còn chửa cam lòng,
Thượng vương lại giả sắc rồng nhà Thanh.
Tội trời kể đã quánh doanh,
Sao cho nghiệp báo đến mình mới thôi.
Bỗng đâu một tiếng thiên lôi,
Thất kinh ngơ ngác như người chứng điên.
Ở hang lại gọi cung tiên,
Để đoàn nội thụ chuyên quyền lộng uy.

2. Sự loạn lạc ở Bắc hà[sửa]

Lòng người đâu chẳng loạn ly,
Ếch kêu, ác họp thiếu gì gần xa!
Sơn nam có giặc Ngân già,
Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ấy là giặc Đông.
Sơn tây: nghịch Tế, nghịch Bồng ;
Động ngoài ba mặt, nhộn trong bốn bề.
Nằm hang Trịnh có biết gì!
Quận Bào, quận Thực đua bì tranh công.

3. Trịnh Doanh và Lê Hiển tông[sửa]

Phó vương quen lối nhà dòng,
Chẳng phò Trịnh thị sao xong việc đời?
Nguyễn công Quí Cảnh mấy người,
Vào trong định sách ra ngoài diệu binh.
Cùng nhau phù lập Trịnh Doanh,
Thái vương Trịnh lại tôn anh làm vì.
Sai quan kinh lược bốn bề,
Khải ca mấy khúc đều về tấu công.
Cơ mưu Trịnh cũng gian hùng,
Nghĩ mình chuyên tiếm ắt lòng ai ưa.
Có Lê mới có đến giờ,
Phải cầu hiền đức để nhờ phúc chung.
Kìa người mắt phượng râu rồng,
Duy Diêu vốn cũng là dòng thần minh.
Hạ đài khuất bóng tiền tinh,
Khuôn thiêng còn để một cành phúc chi.
Hay đâu cầu ứng cũng kỳ,
Bỗng xui Trịnh chúa tạm di ra ngoài.
Vũ công một giấc hiên mai,
Mơ màng dường thấy phong tài đế vương.
Tinh kỳ nhã nhạc lạ nhường,
Thái bình nghi vệ rõ ràng chẳng ngoa.
Sáng mai vừa mới tỉnh ra,
Duy Diêu xảy đến chơi nhà lạ sao?
Thấy người mà nghiệm chiêm bao,
Mới hay trẫm triệu ứng vào tự nhiên.
Nghe lời Trịnh mới phù lên,
Hiển tông từ ấy chịu truyền nối ngôi.

4. Trịnh Doanh và Trịnh Sâm dẹp loạn[sửa]

Vận Lê đến lúc suy đồi,
Chắp tay rủ áo lặng ngồi mặc ai.
Gặp khi nhiều việc chông gai,
Loạn trong Ba phủ, giặc ngoài bốn phương
Văn thần có kẻ phấn dương,
Phạm công Đình Trọng gồm đường lược thao.
Phao sơn trỏ ngọn cờ đào,
Nguyễn Cừ đã phá, Nguyễn Cầu cũng tan.
Nguyễn Phương cứ Độc tôn sơn,
Tuyên, Hưng là đất, lâm man là nhà.
Trịnh vương quyết chí xông pha,
Huyệt sào quét sạch, binh xa mới về.
Quyền gian kế tập quen lề,
Trịnh Sâm lại cũng sính nghề vũ công.
Mạnh thiên hang thẳm núi cùng,
Hãy còn Hoàng Chất lâm tùng ẩn thân.
Sai Đoàn Nguyễn Thục đem quân,
Cùng rừng săn thú một lần mới thanh.
Lại toan dẹp cõi Trấn ninh,
Chỉn e địa thế, dân tình chưa quen.
Địa đồ ai khéo vẽ nên,
Thu ngoài man cảnh về bên khuyết đình.
Gần xa đã tỏ tình hình,
Mới sai chư tướng đề binh đánh liền,
Chiềng quang thành lũy vững bền.
Bồ chông núi cả cũng nên hiểm trời.
Biến đâu trửu dịch lạ đời!
Nửa đêm mở lũy cho người tiến sang.
Bởi mưu Ngũ Phúc chiêu hàng
Nguyễn Thiều trong lại đem đàng nội công.
Vậy nên Duy Mật thế cùng,
Hỏa viêm một phút cô dung cũng liều.

5. Trịnh Sâm đánh chúa Nguyễn[sửa]

Cậy công Trịnh mới thêm kiêu,
Càng đầy đức sắc, càng nhiều ác cai,
Vu oan nỡ đặt nên lời,
Để cho thái tử thiệt tài thông minh.
Phúc uy chuyên tiếm một mình.
Mạo giầy điên đảo, nghĩa danh còn gì?
Thế mà vạc cả duy trì,
Bởi tiên liệt thánh Nam Kỳ nối ngôi.
Nền danh phận, đạo vua tôi,
Gian hùng mất vía đứng ngồi sao an.
Bây giờ có giặc Tây san,
Ở trong lại có Phúc Loan lộng hành.
Thừa cơ Trịnh mới sai binh,
Đưa thư vào trước kể tình ngoại thân.
Rằng: ” Toan trừ đứa lộng thần,
Cùng nhau quét sạch bụi trần cõi Tây.”
Lá cờ theo ngọn gió bay,
Thừa hư trực để vào ngay nhà Hồ.
Phúc Loan đem lại hiến phù,
Trịnh binh nhân thế tràng khu dưới thành.
Đôi bên lập lũy phân dinh,
Trầm than mấy trận quan binh hiểm nghèo.
Độ quân nó bắc phù kiều,
Thúy hoa phất phới qua đèo Hải vân.
Quảng nam đồn trú lục quân,
Trong Tây ngoài Trịnh, xa gần với ai?
Thuyền rồng vào bến Đồng nai,
Long hưng còn đợi cơ trời có khi.

6. Trịnh Sâm hỏng mưu thoán đoạt[sửa]

Gió thu lần úa cành Lê,
Ác bay chưa biết đỗ về nhà ai.
Ngụy Tây gắm ghé mặc ngoài,
Trịnh Sâm trong lại sai người cầu phong.
Vũ Trần Thiệu kể là trung,
Mặt tuy ứng mệnh, nhưng lòng vẫn kiên.
Động đình xa vượt bè tiên,
Trên trời dưới nước tấm nguyền sạch trong.
Biểu tiên phó ngọn đuốc hồng,
Ngậm cười thề với chén nồng, cho xuôi.
Làm cho vỡ mật gian hồi,
Mà người chìm nổi trong đời thẹn riêng.

7. Đặng Thị Huệ lộng quyền[sửa]

Xoay vần hay có khuôn thiêng,
Càng già cỗi ác, càng nghiêng sóng tình.
Tuyên phi là gái khuynh thành,
Đem bề ân ái chuyên vành phúc uy.
Cướp quyền đích trưởng dựng bè đồng mông
Yêu cơ khí diễm càng nồng.
Khiến nên Trịnh Khải sinh lòng âm mưu.
E khi sự thế đáo đầu,
Ước cùng các trấn đều vào giúp công
Điển thư có đứa hầu trong,
Tin lòng nên mới ngỏ cùng Ngô Nhâm.
Người sao chẳng chút lương tâm!
Khoa danh đã nhục, quan trâm cũng hoài!
Lòng riêng tham đắm mùi đời,
Phụ tình thầy tớ, cãi lời phụ thân
Quyết đem sự ấy củ trần,
Làm cho Trịnh Khải một lần châu liên.

XVIII. Cuối đời nhà Lê (1783 – 1786)[sửa]

1. Loạn kiêu binh ở kinh thành[sửa]

Sâm già, Cán lại thiếu niên
Phó cho Hoàng Bảo giúp nên sao đành?
Tuyên phi học thói buông mành,
Trong dưa dưới mận nhân tình đều nghi.
Ở trong Khải mới thừa ky,
Ngoài quân ba phủ nhân khi lộng hành
Cùng nhau sáp huyết hội minh,
Trống hồi chửa dứt, các dinh đã vào.
Cửa thành binh lửa xôn xao,
Một cơn cỏ nội cá ao còn gì!
Cán vong, Khải lại tiếm vì,
Phủ binh từ ấy nhiều bề tuyên kiêu,
Hung hăng ngoài phố trong triều,
Phá nhà cướp của, dập dìu vào ra.
Đầy đường những tiếng oán ta,
Văn thần, võ tướng đều là bó tay.

2. Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất[sửa]

Tiến đồn nghe đến giặc Tây,
Tiềm mưu còn rắp đợi ngày xuất chinh.
Có tên Nguyễn Chỉnh tài danh,
Nhân khi tao loạn đem mình hàng Tây.
Cơ quan mưu lược vẽ bầy,
Cam lòng nước cũ, mượn tay người ngoài.
Tây sơn biết tỏ một hai,
Chia quân thủy bộ quyết bài kéo ra.
Ngọn cờ trổ lối sơn pha,
Hải vân đồn trấn, đâu là chẳng tan?
Cánh buồm đè lớp cuồng lan,
Cát dinh, Động hải quân quan chạy dài.
Ngụy Tây còn sợ mặt ngoài,
Rắp ngăn Tràng lũy tính bài phân vương
Khéo đâu Chỉnh lại đưa đường,
Rằng: ” Trong sự thế chi nhường cho ai?
Tướng công uy nhức bên trời,
Này cơ phát trúc hẳn mười chẳng xa.
Bấy lâu họ Trịnh gian tà,
Binh kiêu, dân oán ắt là bại vong.
Uy trời ai giám tranh phong,
Hãy xin thừa thắng ruổi giong cõi ngoài.”
Phải chăng Huệ mới nghe lời,
Lại cho Nguyễn Chỉnh, lĩnh bài tiên phong.
Lá buồm theo ngọn gió đông,
Vượt qua cửa bể vào sông Vị Hoàng.
Quân dung, đâu mới lạ nhường!
Mão mao, áo đỏ chật đường kéo ra.

3. Chúa Trịnh Khải bị bắt[sửa]

Bụi hồng mờ mịt kinh hoa,
Lục môn, Thúy ái gần xa tan tành.
Quyết liều Trịnh mới thân chinh,
Tây luông giáp trận quân mình đảo qua
Nài voi toan trở lại nhà,
Cờ Tây sơn đã mở ra đầy thành.
Qua Hạ lôi rắp lánh mình.
Giữa đường gặp đứa phụ tình bắt ra.

4. Nguyễn Huệ trả quyền Lê Hiển tông[sửa]

Ngụy Tây vốn kẻ hung tà,
Còn e người chốn Bắc hà khó xong.
Phù Lê có biểu mật phong,
Mặt ngoài trung nghĩa, trong lòng gian phi.
Hiển tông tuổi tác đã suy,
Nghe tin binh biến biết gì là đâu.
Vừa khi Nguyễn Huệ vào hầu,
Vấn an lại kể gót đầu đinh ninh.
Rằng: ” Nghe họ Trịnh cường hoành,
Vậy đem quân nghĩa quét thanh bụi trần.
Chủ trương mừng thấy đông quân.
Thái bình cây cỏ được nhuần hơi mưa.”
Phúc lành chúc chữ cửu như.
Của tin mấy quyển đồ thư dâng vào,
Bệ rồng ban chiếu tinh bao,
Gia phong Nguyễn Huệ đương trào quốc công.
Ngọc Hân vừa trạc đào hồng,
Ép duyên kim cải kết lòng sài lang,
Đương cơn đòng bác ngổn ngang,
Thực hư chưa tỏ, biến thường ai tin.
Hơi tàn gần trở gót tiên,
Lại vời Nguyễn Huệ gửi quyền quốc gia.
Một hai xin trở về nhà,
Bóng đèn, tiếng búa giám là di duyên.

5. Quân Tây sơn rút về Nam[sửa]

Bảo thành kinh lý đã yên,
Ngôi cao phó lại cháu hiền thừa gia.
Duy Kỳ nối giữ nghiệp nhà.
Cải nguyên Chiêu thống mới là sơ niên.
Huệ còn lưu ở Long biên,
Anh là Nguyễn Nhạc theo miền lại ra.
Rước mời ngày tiếp đôi ba,
Bệ từ, Nhạc mới lân la tự tình
” Đất, dân đâu cũng triều đình,
Giao lân rồi sẽ cất mình Nam qui.”
Nửa đêm ám hiệu cuốn kỳ
Bao nhiêu tài hóa chuyên về sạch không.
Bỏ Nguyễn Chỉnh ở Thăng long.
Cũng toan cắt cánh mở lồng với ai.
Về quê Chỉnh mới giả bài,
Rằng vâng mật chỉ hồi sai đất nhà.
Mộ quân hương dõng đem ra,
Ngoài là chống giặc, trong là giữ kinh.

6. Triều đình vua Lê Chiêu Thống[sửa]

Cựu thần mấy kẻ công khanh,
Thoái hưu để việc miếu đình mặc ai?
Tân khoa còn có một hai,
Bùi Dương, Trần Án cũng người trung trinh.
Cùng nhau phụng sắc triệu binh,
Thổ hào củ tập vào kinh hộ tùy.
Phân vân tranh lập nhiều bề,
Kẻ phò Trịnh Lệ, người suy Trịnh Bồng.
Yến đô lại cứ tập phong,
Những mưu phò Trịnh, quên lòng tôn Lê.
Mậu Xưng, Tích Nhưỡng kể chi,
Phùng Cơ còn biết thị phi nhẽ thương,
Trách thay Trọng Tế họ Dương,
Cũng trong khoa bảng, cùng phường đai cân
Sao không biết nghĩa quân thần
Bầy mưu phế lập sắp quân vây thành.
Non sông còn mặt triều đình,
Bạc đen xem thấy nhân tình mà ghê.

7. Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền[sửa]

Lê hoàng căm giận nhiều bề,
Mật thư sai sứ đưa về Nghệ an.
Chỉnh xưa tuy giả mưu gian,
Được thư rầy mới nở gan anh hùng.
Hịch bay đâu cũng nức lòng,
Tứ thành Tứ đột quân ròng hơn muôn,
Dặm trường thẳng ruổi chinh an
Nghệ, Thanh quét sạch mấy đoàn kiến ong,
Yến đô sức yếu thế cùng,
Theo Dương Trọng Tế qua vùng Bắc ninh.
Đại quân tiến đến kinh thành,
Long tân ngự duyệt, đại đình thưởng công.
Loan thư ban trước thềm rồng
Cha phong Bằng quận, con phong tước hầu.
Trăm quan ngôi thứ ở đầu,
Cánh vây sum họp, phủ lầu nghênh ngang.

XIX. Nhà Nguyễn Tây Sơn (1787 – 1802)[sửa]

1. Quân Tây sơn ra Bắc lần thứ hai[sửa]

Bốn phương lại động khói lang,
Ngụy Tây riêng mặt bá vương một trời,
Nhạc, Qui Nhơn; Lữ, Đồng nai;
Quảng Nam, Nguyễn Huệ; trong ngoài chia nhau.
Nhân cơ lại dấy qua mâu,
Văn Nhâm vâng lệnh quân phù kéo ra.
Qua Nghệ an, đến Thanh hoa,
Thổ sơn giáp trận Trinh hà áp binh.
Giặc ra đến đất Ninh bình,
Chỉnh đem hai vạn tinh binh quyết liều.
Một đêm thuyền trái buồm xiêu,
Vì con sơ suất, đền điều thua công.

2. Lê Chiêu Thống chạy dài[sửa]

Văn Nhậm kéo đến Thăng long,
Lê Hoàng thảng thốt qua sông Nhị hà.
Bắc ninh cũng đất dân nhà.
Bạc thay Cảnh Thước sao mà bất nhân!
Nỡ nào quên nghĩa cố quân
Đóng thành không rước, sai quân cướp đường.
Ngự bào cũng nhuộm mầu sương,
Nguyệt giang, Mục thị nhiều đường gian nguy.
Tây binh thừa thế cùng truy,
Cha con Nguyễn Chỉnh một kỳ trận vong.
Bắt phu canh giữ bên sông,
Kìa Dương Đình Tuấn cũng mong phù trì.
Chước đâu phản gián mới kỳ,
Để cho xa giá chạy về Chí linh.
Vội vàng chưa định hành dinh,
Mà Đinh Tích Nhưỡng nỡ tình đuổi theo!
Giải vây lại có thổ hào,
Lũ Hoàng Xuân Tú cũng đều cần vương,
Thừa dư vừa đến Thủy đường,
Kẻ về tấu tiệp, người sang đầu thành.
Bỗng đâu thuyền bạt vào Thanh,
Nước non man mác, quân tình ngẩn ngơ.

3. Nguyễn Huệ đặt chức Giám quốc ở Bắc hà[sửa]

Văn Nhâm tự ấy lại giờ,
Vỗ về sĩ tốt, đợi chờ chúa công.
Huệ sao tàn nhẫn cam lòng,
Một gươm nỡ quyết chẳng dong tướng thần.
Mới đòi hào mục xa gần,
Xem nhân tình có mười phần thuận không?
Nguyễn Huy Trạc cũng hào hùng,
Một thang tiết nghĩa quyết lòng quyên sinh.
Biết thiên hạ chẳng thuận tình,
Lập người giám quốc đem binh lại về.

4. Quân nhà Thanh sang nước ta[sửa]

Lê Hoàng truân kiển nhiều bề,
Mẹ con cách trở biết về nơi đâu?
Thái từ lạc tới Long châu,
Thổ quan dò hỏi tình đầu thủy chung.
Cứ lời đạt đến Quảng đông,
Gặp Tôn Sĩ Nghị cũng lòng mục lân,
Một phong biểu tấu chín lần,
Càn long có ý ân cần vì Lê.
Đền rồng ban ấn tử nê,
Đem quân bốn tỉnh trao về một tay.
Nam quan thẳng lối đường may,
Tắt qua trấn Lạng, sang ngay sông Cầu.
Tập công phá trại Nội hầu,
Theo đường Kinh bắc, tới đầu Nhị giang.
Rượu trâu đâu đã sẵn sàng,
Vua Lê mừng thấy đón đàng khao binh.
Tôn công quân lệnh túc thanh,
Tơ hào chẳng phạm, tấm thành cũng phu
Qua sông mới bắc cầu phù,
Tây luông quân đóng, Đông đô ngự vào.
Quốc vương sẵn ấn tay trao,
Truy tùy thưởng kẻ công lao nhọc nhằn.

5. Triều đình thời Lê mạt[sửa]

Bao nhiêu hào kiệt xa gần,
Đua nhau đều đến cửa quân đầu thầm
Xưa sao vắng vẻ hơi tăm!
Rầy sao hiệp lực đồng tâm lắm người!
Viêm lương mới tỏ thói đời.
Dạ trong đã chán, mặt ngoài cũng khinh.
Song mà ỷ thế nhà Thanh.
Thờ ơ với kẻ nước mình mặc ai!
Cơ mưu những chắc lưng người.
Để cho đất nước trong ngoài mất trông!

6. Quang Trung đại phá quân Thanh[sửa]

Quân Thanh đã được Thăng long,
Một hai rằng thế là xong việc mình.
Dùng dằng chẳng chịu tiến binh,
Nhác đường phòng thủ, mống tình đãi hoang.
Ngụy Tây nghe biết sơ phòng,
Giả điều tạ tội, quyết đường cất quân.
Dặm tràng nào có ai ngăn,
Thừa hư tiến bức đến gần Thăng long.
Trực khu đến lũy Nam đồng,
Quan Thanh dẫu mấy anh hùng mà đang?
Vua Lê khi ấy vội vàng,
Cùng Tôn Sĩ Nghị sang đàng Bắc kinh.
Qua sông lại sợ truy binh,
Phù kiều chém dứt, quân mình thác oan.

7. Cuộc lưu vong của Lê Chiêu thống[sửa]

Ngẩn ngơ đến ải Lạng sơn,
Theo sau còn có quân quan mấy người.
Cầm tay Sĩ Nghị than giài,
Vì mình kiển bộ nên người luống công,
Nhẽ đâu lại giám bận lòng,
Xin về đất cũ để mong tái đồ.
Tôn công cũng có tiên trù,
Đã dâng một biểu xin cầu viện binh.
Quế lâm còn tạm trú mình,
Bỗng đâu nghe chiếu nhà Thanh triệu về.
Phụng sai có sứ hộ tùy,
Sự đâu lại gặp những bề trở nan.
Sứ thần là Phúc Khang An,
Đã e xa cách, tại toan dối lừa.
Dần dà ngày tháng thoi đưa,
Lê hoàng luống những đợi chờ Yên kinh.
Tấc gang khôn tỏ sự tình,
Dẽ xem con Tạo giúp mình hay không?
Từ khi tam phẩm gia phong,
Mới hay Thanh đế cam lòng thế thôi!
Lỡ làng đến bước xa xôi,
Nhưng trong đạo chúa nghĩa tôi chẳng dời.
Lê Hân, Lê Quýnh mấy người,
Như Tòng, Ích Hiểu cũng lời thệ minh,
Tòng vong đều kẻ trung trinh,
Mã đồng khen cũng có tình tôn quân.
Vua Lê phút lánh cõi trần,
Non sông cách diễn mấy lần xa xa,
Bình Tây nhờ Thánh triều ta,
Kẻ gần an chốn, người xa tìm về,
Sang Thanh mấy kẻ theo Lê,
Còn ai cũng động lòng quê ngậm ngùi.
Vận Lê đến thế là thôi,
Ba trăm sáu chục năm rồi còn chi?

Tổng kết[sửa]

Mới hay có thịnh, có suy,
Hang sâu, núi cả có khi đổi dời
Trước sau tính lại trăm đời,
Có trời, có đất, có người chủ trương,
Khai tiên là họ Hồng Bàng,
Thụy thay, Triệu đổi thường thường suy di,
Rồi ra hợp hợp chia chia,
Trải Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê mấy đời,
Thiếu chi chuyện vãn đầy vơi!
Hiếm điều đắc thất, hiếm người thị phi!
Lại còn nhiều việc tín nghi,
Sự muôn năm cũ chép ghi rành rành
Bút son vâng mệnh đan đình,
Gác lê lần giở sử xanh muôn đời
Chuyện xưa theo sách diễn lời,
Phải chăng xin đã gương Trời rạng soi

Nguồn:http://vi.wikisource.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Nam_Qu%E1%BB%91c_s%E1%BB%AD_Di%E1%BB%85n_ca


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 3.515
  • 782
  • 803
  • 202
  • 1.188.480
  • 278.196