Thần tiên Việt Nam

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca 大南國史演歌 Tr1- Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca

大南國史演歌 Tr1

Nguồn:Văn thư lưu trữ mở Wikisource

Đại Nam Quốc sử Diễn ca  (năm 1870) 
của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái (Trương Vĩnh Ký diễn âm lục bát)

Đại Nam Quốc sử Diễn ca (chữ Nho: 大南國史演歌) là một tác phẩm văn vần bằng chữ Nôm sáng tác vào khoảng triều Tự Đức thời nhà Nguyễn.

Trích dẫn từ Đại Nam Quốc sử Diễn ca của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.

Mục lục

 [ẩn]

 

    * 1 Thời kỳ mở nước (Thế kỷ 29 – thế kỷ 2 TCN)

          o 1.1 I Nhà Hồng Bàng (2879 – 256 TCN)

                + 1.1.1 1. Mở đầu

                + 1.1.2 2. Kinh Dương vương

                + 1.1.3 3. Lạc Long Quân và Âu Cơ

                + 1.1.4 4. Hùng vương và nước Văn lang

                + 1.1.5 5. Giao thiệp với Trung Hoa

                + 1.1.6 6. Chuyện Phù Đổng Thiên vương

                + 1.1.7 7. Chuyện Sơn tinh và Thủy tinh

                + 1.1.8 8. Chuyện Chử Đồng tử và Tiên dung

                + 1.1.9 9. Hết đời Hồng Bàng

          o 1.2 II. Nhà Thục (258 – 207 TCN)

                + 1.2.1 1. Thần Kim quy giúp vua Thục

                + 1.2.2 2. Trung quốc đánh Âu Lạc

                + 1.2.3 3. Trọng Thủy và Mị Châu

                + 1.2.4 4. Triệu Đà diệt Thục

          o 1.3 III. Nhà Triệu (207 – 111 TCN)

                + 1.3.1 1. Triệu Vũ vương thần phục nhà Hán

                + 1.3.2 2. Triệu Văn vương và Triệu Minh vương

                + 1.3.3 3. Cù thị xin nhập Hán

                + 1.3.4 4. Lữ Gia phá mưu Cù Thị

                + 1.3.5 5. Hán đánh Nam Việt

                + 1.3.6 6. Nhà Triệu mất

    * 2 Thời kỳ chống Bắc thuộc (Thế kỷ 2 TCN – thế kỷ 10 SCN)

          o 2.1 IV. Nhà Hán và Hai bà Trưng (111 TCN 43 SCN)

                + 2.1.1 1. Chính sách nhà Tây Hán

                + 2.1.2 2. Hai bà Trưng dựng nền độc lập

          o 2.2 V. Giao Châu trong thời Bắc thuộc (43 – 544)

                + 2.2.1 1. Chính sách nhà Đông Hán

                + 2.2.2 2. Lý Tiến, Lý Cầm làm quan nhà Hán

                + 2.2.3 3. Họ Sĩ tự chủ

                + 2.2.4 4. Bà Triệu Ẩu đánh Ngô

                + 2.2.5 5. Ngô Tấn tranh nhau Giao Châu

                + 2.2.6 6. Chính sách nhà Tấn

                + 2.2.7 7. Họ Đỗ ba đời làm thứ sử

                + 2.2.8 8. Giao châu loạn

          o 2.3 VI. Nhà Tiền Lý (544 – 603)

                + 2.3.1 1. Lý Nam Đế dựng nền độc lập

                + 2.3.2 2. Triệu Quang Phục phá Lương

                + 2.3.3 3. Lý Phật Tử đánh Triệu quang Phục

                + 2.3.4 4. Lý Phật Tử hàng Tùy

          o 2.4 VII. Nền đô hộ của nhà Đường (603 – 905)

                + 2.4.1 1. An nam đô hộ phủ

                + 2.4.2 2. Mai Thúc Loan khởi nghĩa

                + 2.4.3 3. Giặc Đồ Bà

                + 2.4.4 4. Phùng Hưng khởi nghĩa

                + 2.4.5 5. Chuyện Lý Ông Trọng

                + 2.4.6 6. Quan lại nhà Đường

                + 2.4.7 7. Giặc Nam Chiếu

                + 2.4.8 8. Cao Biền dẹp Nam Chiếu

    * 3 Thời kỳ xây dựng Độc lập và thống nhất (Thế kỷ thứ 10)

          o 3.1 VIII. Nhà Ngô (906 – 967)

                + 3.1.1 1. Họ Khúc dấy nghiệp

                + 3.1.2 2. Ngô Quyền phá quân Nam Hán

                + 3.1.3 3. Dương Tam Kha tiếm ngôi

                + 3.1.4 4. Nhà Ngô phục hưng

          o 3.2 IX Nhà Đinh và nhà Tiền Lê (967 1009)

                + 3.2.1 1. Thập nhị sứ quân

                + 3.2.2 2. Đinh Bộ Lĩnh hợp nhất quốc gia

                + 3.2.3 3. Chính sách nhà Đinh

                + 3.2.4 4. Nhà Đinh mất ngôi

                + 3.2.5 5. Lê Hoàn phá quân Tống

                + 3.2.6 6. Nhà Lê thất chính

    * 4 Thời kỳ phát triển (Thế kỷ 11 – đầu thế kỷ 19)

          o 4.1 X. Nhà Hậu Lý (1010 – 1225)

                + 4.1.1 1. Lý Thái Tổ

                + 4.1.2 2. Lý Thái Tông bình Nùng, phục Chiêm

                + 4.1.3 3. Lý Thánh Tông, một ông vua nhân dũng

                + 4.1.4 4. Bà Ỷ Lan nhiếp chánh

                + 4.1.5 5. Lý Thường Kiệt bại Chiêm, phá Tống

                + 4.1.6 6. Lý Thần Tông khuyến khích việc nông

                + 4.1.7 7. Đỗ Anh Vũ lộng quyền

                + 4.1.8 8. Tài kinh quốc của Tô Hiến Thành

                + 4.1.9 9. Lý Cao Tổ thất chính

                + 4.1.10 10. Quách-Bốc chiếm kinh-thành

                + 4.1.11 11. Họ Trần giúp vua Lý

                + 4.1.12 12. Lý Huệ Tông phát điên

                + 4.1.13 13. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng

    * 5 Thời Kỳ Thịnh Trị (1226 – 1340)

          o 5.1 XI. Nhà Trần (Thời kỳ thịnh trị: 1226 – 1340)

                + 5.1.1 1. Những việc cải cách đầu tiên

                + 5.1.2 2. Văn học và võ công

                + 5.1.3 3. Phong tục đời Trần

                + 5.1.4 4. Đức độ và chánh trị của Trần Thánh tông

                + 5.1.5 5. Trần Hưng Đạo phá Mông Cổ

                + 5.1.6 6. Anh tông và Minh tông

                + 5.1.7 7. Việc đánh dẹp về đời Hiến tông

          o 5.2 XII. Nhà Trần (Thời kỳ suy vi: 1341 – 1400)

                + 5.2.1 1. Nhà Trần bắt đầu suy

                + 5.2.2 2. Dương Nhật Lễ tiếm vị

                + 5.2.3 3. Chiêm Thành xâm nhiễu

                + 5.2.4 4. Lê Quý Ly phế lập

          o 5.3 XIII. Nhà Hồ và giặc nhà Minh (1400 – 1418)

                + 5.3.1 1. Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần

                + 5.3.2 2. Quân Minh diệt nhà Hồ

                + 5.3.3 3. Trần Giản Định chống Minh

                + 5.3.4 4. Trần Trùng Quang chống Minh

                + 5.3.5 5. Quân Minh chiếm toàn cõi Đại Việt

                + 5.3.6 6. Chính sách nhà Minh

          o 5.4 XIV. Nhà Hậu Lê (Thời kỳ thống nhất: 1418 – 1526)

                + 5.4.1 1. Lê thái Tổ phá giặc Minh

                + 5.4.2 2. Nhà Lê kiến quốc

                + 5.4.3 3. Lê Nghi Dân cướp ngôi

                + 5.4.4 4. Thời kỳ toàn thịnh: Lê Thánh tông

                + 5.4.5 5. Nhà Lê bắt đầu suy

                + 5.4.6 6. Loạn Trần Cảo và Trịnh Duy Sản

                + 5.4.7 7. Chính quyền tan rã

                + 5.4.8 8. Mạc Đăng Dung chuyên quyền

          o 5.5 XV. Nhà Mạc (1527 1592)

                + 5.5.1 1. Ngoại giao và nội chính của Mạc Đăng Dung

                + 5.5.2 2. Nguyễn Kim khởi nghĩa phù Lê

                + 5.5.3 3. Trịnh Kiểm tiến quân ra Bắc

                + 5.5.4 4. Nguyễn Hoàng vào Hóa Châu

                + 5.5.5 5. Trịnh Mạc phân tranh

                + 5.5.6 6. Trịnh Tùng chấp chính

                + 5.5.7 7. Trịnh Tùng diệt Mạc

          o 5.6 XVI. Nhà Lê Trung hưng (Vua Lê Chúa Trịnh: 1593 – 1729)

                + 5.6.1 1. Giao thiệp buổi đầu với Trung hoa

                + 5.6.2 2. Trịnh Tùng xưng chúa

                + 5.6.3 3. Trịnh Tráng tăng quyền phủ chúa

                + 5.6.4 4. Trịnh Tạc đánh Nguyễn và Mạc

                + 5.6.5 5. Trịnh Căn và nhà Thanh

                + 5.6.6 6. Triều thần nhà Lê

                + 5.6.7 7. Những việc cải cách về thời Trịnh Cương

          o 5.7 XVII. Nhà Lê suy vi (Trịnh Nguyễn phân tranh: 1729 – 1782)

                + 5.7.1 1. Chính sách đồi bại của Trịnh Giang

                + 5.7.2 2. Sự loạn lạc ở Bắc hà

                + 5.7.3 3. Trịnh Doanh và Lê Hiển tông

                + 5.7.4 4. Trịnh Doanh và Trịnh Sâm dẹp loạn

                + 5.7.5 5. Trịnh Sâm đánh chúa Nguyễn

                + 5.7.6 6. Trịnh Sâm hỏng mưu thoán đoạt

                + 5.7.7 7. Đặng Thị Huệ lộng quyền

          o 5.8 XVIII. Cuối đời nhà Lê (1783 – 1786)

                + 5.8.1 1. Loạn kiêu binh ở kinh thành

                + 5.8.2 2. Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất

                + 5.8.3 3. Chúa Trịnh Khải bị bắt

                + 5.8.4 4. Nguyễn Huệ trả quyền Lê Hiển tông

                + 5.8.5 5. Quân Tây sơn rút về Nam

                + 5.8.6 6. Triều đình vua Lê Chiêu Thống

                + 5.8.7 7. Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền

          o 5.9 XIX. Nhà Nguyễn Tây Sơn (1787 – 1802)

                + 5.9.1 1. Quân Tây sơn ra Bắc lần thứ hai

                + 5.9.2 2. Lê Chiêu Thống chạy dài

                + 5.9.3 3. Nguyễn Huệ đặt chức Giám quốc ở Bắc hà

                + 5.9.4 4. Quân nhà Thanh sang nước ta

                + 5.9.5 5. Triều đình thời Lê mạt

                + 5.9.6 6. Quang Trung đại phá quân Thanh

                + 5.9.7 7. Cuộc lưu vong của Lê Chiêu thống

    * 6 Tổng kết

Thời kỳ mở nước (Thế kỷ 29 – thế kỷ 2 TCN)

I Nhà Hồng Bàng (2879 – 256 TCN)[sửa]

1. Mở đầu[sửa]

Nghìn thu gặp hội thăng bình,
Sao Khuê sáng vẻ văn minh giữa trời
Lan đài dừng bút thảnh thơi,
Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh
Nam giao là cõi ly minh,
Thiên thư định phận rành rành từ xưa
Phế hưng đổi mấy cuộc cờ,
Thị phi chép để đến giờ làm gương

2. Kinh Dương vương[sửa]

Kể từ trời mở viêm bang,
Sơ đầu có họ Hồng bàng mới ra
Cháu đời Viêm đế thứ ba,
Nối dòng Hỏa đức gọi là Đế Minh
Quan phong khi giá Nam hành,
Hay đâu Mai Lĩnh duyên sinh Lam kiều,
Vụ tiên vừa thuở đào yêu,
Xe loan nối gót, tơ điều kết duyên
Dòng thần sánh với người tiên,
Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra,
Phong làm quân trưởng nước ta,
Tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương
Hóa cơ dựng mối luân thường
Động Đình sớm kết với nàng Thần Long
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng
Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì

3. Lạc Long Quân và Âu Cơ[sửa]

Lạc long lại sánh Âu ky.
Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường.
Noãn bào dù chuyện hoang đường,
Ví xem huyền điểu sinh Thương khác gì?
Đến điều tan hợp cũng kỳ,
Há vì thủy hỏa sinh ly như lời,
Chia con sự cũng lạ đời,
Qui sơn, qui hải khác người biệt ly.
Lạc long về chốn Nam thùy,
Âu cơ sang nẻo Ba vì Tản viên.
Chủ trương chọn một con hiền,
Sửa sang việc nước nối lên ngôi rồng.

4. Hùng vương và nước Văn lang[sửa]

Hùng vương đô ở châu Phong,
Ấy nơi Bạch hạc hợp dòng Thao giang.
Đặt tên là nước Văn lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liền.
Phong châu, Phúc lộc, Chu diên,
Nhận trong địa chí về miền Sơn tây;
Định yên, Hà nội đổi thay,
Ấy châu Giao chỉ xưa nay còn truyền.
Tân hưng là cõi Hưng, Tuyên,
Vũ ninh tỉnh Bắc, Dương tuyền tỉnh Đông;
Thái, Cao hai tỉnh hỗn đồng,
Ấy là Vũ định tiếp cùng biên manh;
Hoài hoan: Nghệ; Cửu chân: Thanh;
Việt thường là cõi Trị, Bình trung châu.
Lạng là Lục hải thượng du
Xa khơi Ninh hải thuộc vào Quảng yên.
Bình văn, Cửu đức còn tên,
Mà trong cương giới sơn xuyên chưa tường.
Trước sau đều gọi Hùng vương,
Vua thường nối hiệu, quan thường nối tên.
Lạc hầu là tướng điều nguyên,
Vũ là Lạc tướng giữ quyền quân cơ;
Đặt quan Bồ chinh hữu tư
Chức danh một bực, đẳng uy một loài.

5. Giao thiệp với Trung Hoa[sửa]

Vừa khi phong khí sơ khai,
Trinh nguyên xẩy đã gặp đời Đế Nghiêu.
Bình dương nhật nguyệt rạng kiêu,
Tấm lòng quì, hoắc cũng đều hướng dương.
Thần quy đem tiến Đào đường,
Bắc Nam từ ấy giao bang là đầu.
Man dân ở chốn thượng lưu,
Lấy nghề chài lưới làm điều trị sinh.
Thánh nhân soi xét vật tình,
Đem loài thủy quái vẽ mình thổ nhân.
Từ sau tục mới văn thân,
Lợi dân đã dấy, hại dân cũng trừ.
Dõi truyền một mối xa thư,
Nước non đầm ấm, mây mưa thái binh.
Vừa đời ngang với Chu Thành,
Bốn phương biển lặng, trời thanh một mầu.
Thử thăm Trung quớc thể nào,
Lại đem bạch trĩ dâng vào Chu vương.
Ba trùng dịch lộ chưa tường,
Ban xe tí ngọ chỉ đường Nam quy.

6. Chuyện Phù Đổng Thiên vương[sửa]

Sáu đời Hùng vận vừa suy,
Vũ ninh có giặc mới đi cầu tài,
Làng Phù đổng có một người,
Sinh ra chẳng nói,chẳng cười trơ trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ.
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương.
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo nhung cởi lại Linh san,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Miếu đình còn dầu cố viên,
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?

7. Chuyện Sơn tinh và Thủy tinh[sửa]

Lại nghe trong thủa Lạc Hùng
Mị châu có ả tư phong khác thường,
Gần xa nức tiếng cung trang.
Thừa long ai kẻ đông sàng sánh vai?
Bỗng đàu vừa thấy hai người,
Một Sơn tinh với một loài Thủy tinh,
Cầu hôn đều gửi tấc thành,
Hùng vương mới phán sự tình một hai.
Sính nghi ước kịp ngày mai,
Ai mau chân trước, định lời hứa anh.
Trống lầu vừa mới tan canh,
Kiệu hoa đã thấy Sơn tinh chực ngoài.
Ước sao lại cứ như lời,
Xe loan trăm cỗ đưa người nghi gia.
Cung đàn tiếng địch xa xa,
Vui về non Tản, oán ra bể Tần.
Thủy tinh lỡ bưởc chậm chân,
Đùng đùng nổi giận, đem ân làm thù.
Mưa tuôn gió thổi mịt mù,
Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia,
Sơn thần hỏa phép cũng ghê,
Lưới giăng dòng Nhị, phen che ngàn Đoài.
Núi cao sông cũng còn dài,
Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen.

8. Chuyện Chử Đồng tử và Tiên dung[sửa]

Bổ di còn chuyện trích tiên,
Có người họ Chử ở miền Khoái châu.
Ra vào nương náu hà châu.
Phong trần đã trải mấy thâu cùng người.
Tiên dung gặp buổi đi chơi,
Giỏ đưa Đằng các, buồm xuôi Nhị hà,
Chử đồng ẩn chốn bình sa
Biết đâu gặp gỡ lại là túc duyên.
Thừa lương nàng mới dừng thuyền,
Vây màn tắm mát kề liền bên sông.
Người thục nữ, kẻ tiên đồng,
Tình cờ ai biết vợ chồng duyên ưa.
Giận con ra thói mây mưa,
Hùng vương truyền lịnh thuyền đưa bắt về.
Non sông đã trót lời thề,
Hai người một phút hóa về Bồng châu,
Đông an, Dạ trạch đâu đâu,
Khói hương nghi ngút truyền sau muôn đời.

9. Hết đời Hồng Bàng[sửa]

Bể dâu biến đổi cơ trời,
Mà so Hồng Lạc lâu dài ai hơn?
Kể vua mười tám đời truyền,
Hai ngàn năm lẻ vững bền khôn lay.
Một dòng phụ đạo xưa nay,
Trước ngang Đường đế sau tầy Noãn vương

II. Nhà Thục (258 – 207 TCN)[sửa]

1. Thần Kim quy giúp vua Thục[sửa]

Thục từ dứt nước Văn lang
Đổi tên Âu lạc, mới sang Loa thành.
Phong khê là đất Vũ ninh,
Xây thôi lại lở, công trình biết bao
Thục vương thành ý khẩn cầu,
Bỗng đâu giang sứ hiện vào kim qui.
Hóa ra thưa nói cũng kỳ,
Lại tường cơn cớ bởi vì yêu tinh.
Lại hay phù phép cũng linh,
Vào rừng sát quỉ, đào thành trừ hung.
Thành xây nửa tháng mà xong.
Thục vương cảm tạ tấm lòng hiệu linh.
Lại bàn đến sự chiến tranh,
Vuốt thiêng để lại tạ tình quân vương.
Dặn sau làm máy Linh quang,
Chế ra thần nỏ, dự phòng việc quân.

2. Trung quốc đánh Âu Lạc[sửa]

Bấy giờ gặp hội cường Tần,
Tằm ăn lá Bắc, toan lần cành Nam.
Châu cơ muốn nặng túi tham,
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi.
Lĩnh nam mấy chốn bièn thùy,
Quế lâm, Tượng quận thu về bản chương.
Đặt ra úy, lịnh rõ ràng,
Họ Nhâm, họ Triệu sai sang giữ gìn.
Hai người thống thuộc đã quen,
Long xuyên, Nam hải đôi bên lấn dần.
Chia nhau thủy bộ hai quân,
Tiên du ruổi ngựa, Đông tân đỗ thuyền.
Thục vương có nỏ thần truyền,
Muôn quân buông một lượt tên còn gì?
Nhâm Hiêu mắc bệnh trở về,
Triệu Đà lại khiến sứ đi xin hòa.
Bình giang rạch nửa sơn hà
Bắc là Triệu úy. Nam là Thục vương.

3. Trọng Thủy và Mị Châu[sửa]

Mặt ngoài hai nước phân cương,
Mà trong Triệu là mượn đường thông gia,
Nghĩ rẳng: Nam Bắc một nhà;
Nào hay hôn cấu lại ra khấu thù.
Thục cơ tên gọi Mị Châu
Gả cho Trọng Thủy, con đầu Triệu vương.
Trăm năm đã tạc đá vàng,
Ai ngờ thế tử ra đàng phụ ân.
Tóc tơ tỏ hết xa gần.
Thừa cơ đem máy nỏ thần đổi đi,
Tỉnh thân giả tiếng Bắc qui.
Đinh ninh dặn hết mọi bề thủy chung
Rằng: ” Khi đôi nước tranh hùng,”
” Kẻ Tần người Việt tương phùng đâu đây?”
” Trùng lai dù họa có ngày,”
” Nga mao xin nhận dấu này thấy nhau”
Cạn lời, thẳng ruổi vó câu,
Quản bao liễu oán, hoa sầu nẻo xa.

4. Triệu Đà diệt Thục[sửa]

Giáp binh sắp sẵn từ nhà,
Về cùng Triệu úy, kéo ra ải Tần,
An dương cậy có nỏ thần.
Vi kỳ còn hãy ham phần vui chơi,
Triệu quân ruổi đến tận nơi.
Máy thiêng đã mất, thế người cũng suy.
Vội vàng đến lúc lưu li,
Còn đem ái nữ đề huề sau yên
Nga mao vẫn cứ lời nguyền,
Để cho quân Triệu theo liền bông tinh.
Kim qui đâu lại hiện linh;
Mới hay giặc ở bên mình không xa,
Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,
Dứt tình, phó lưỡi Thái a cho nàng,
Bể Nam đến bước cùng đường,
Văn tê theo ngọn suối vàng cho xuôi.
Tính ra nước Thục một đời,
Ở ngôi vừa được năm mươi năm trỏn.
Nghe thần rồi lại tin con;
Cơ mưu chẳng nhiệm, thôi còn trách ai?

III. Nhà Triệu (207 – 111 TCN)[sửa]

1. Triệu Vũ vương thần phục nhà Hán[sửa]

Triệu Vương thay nối ngôi trời,
Định đô cứ hiểm đóng ngoài Phiên ngu.
Loạn Tần gặp lúc Ngư Hồ,
Trời nam riêng mở dư đồ một phương.
Rồng Lưu bay cõi Phiếm dương,
Mới sai Lục Giả đem sang ấn phù.
Cõi nam lại cứ phong cho,
Biên thùy gìn giữ cơ đồ vững an.
Gặp khi gà Lữ gáy càn,
Chia đôi Hán, Việt lại toan sinh lòng.
Vì ai cấm chợ ngăn sông,
Để cho dứt nẻo quan thông đôi nhà.
Thân chinh hỏi tội Tràng sa
Mân, Âu muôn dặm mở ra một lần.
Hán Văn lấy đức mục lân,
Sắc sai Lục giả cựu thần lại sang.
Tỉ thư một bức chiếu vàng,
Ngỏ điều ân ý, kể đường thủy chung.
Triệu vương nghe cũng bằng lòng,
Mới dâng tạ biểu một phong vào chầu.
Ngoài tuy giữ lễ chư hầu,
Trong theo hiệu đế làm đầu nước ta.
Trăm hai mươi tuổi mới già,
Tính năm ngự vị kể già bảy mươi.

2. Triệu Văn vương và Triệu Minh vương[sửa]

Văn vương vừa nối nghiệp đời,
Lửa binh đâu lại động ngoài biên cương.
Phong thư tâu với Hán hoàng,
Nghĩa thanh sớm đã giục đường cất quân.
Vương Khôi vâng lịnh tướng thần,
Ải lang quét sạch bui trần một phương.
Hán đình có chiếu ban sang,
Sai con Triệu lại theo đường cống nghi.
Xe rổng phút bỗng mây che,
Minh vương ở Hán lại về nối ngôi.
Bợm già bỗng rấm họa thai,
Vợ là Cù thị vốn người Hàm đan
Khuynh thành quen thói hồng nhan,
Đã chuyên sủng ái lại toan tranh hành.
Dâng thư xin với Hán đình,
Lập con thế tử, phong mình cung phi.

3. Cù thị xin nhập Hán[sửa]

Ai vương thơ ấu nối vì,
Mẹ là cù hậu, nhiều bề riêng tây.
Cầu phong đã rắp những ngày,
Ngoài thông Bắc sứ trong gầy lệ giai.
Khéo đâu dắc díu lạ đời,
Sứ là Thiếu Quý vẫn người tình nhân.
Hoa tàn lại bén hơi xuân,
Giao hoan đôi mặt, hòa thân một lòng.
Nghĩ rằng: về Hán là xong,
Tình riêng phải mượn phép công mới già.
Làm thư gửi sứ đưa qua;
Mẹ con đã sắm sửa ra sang chầu.

4. Lữ Gia phá mưu Cù Thị[sửa]

Lữ Gia là tướng ở đầu.
Đem lời can gián bây mưu xa gần.
Một hai ngăn đón hành trần:
” Để cho Triệu bích về Tần sao nên.”
Nàng Cù đã quyết một bên.
Lại toan mượn lấy sứ quyền ra tay.
Tiệc vui chén cúc giở say,
Mắt đưa cao thấp, giáo lay dùng dằng.
Đang khi hoan yến nửa chừng,
Lữ Gia biết ý ngập ngừng bước ra.
Chia quân cấm lữ về nhà,
Tiềm mưu mới họp năm ba đại thần.
Đôi bên hiềm khích thêm phần
Mụ Cù yếu sức, sứ thần non gan.

5. Hán đánh Nam Việt[sửa]

Vũ thư đạt đến Nam quan,
Hán sai binh mã hai ngàn kéo sang
Lữ Gia truyền hịch bốn phương:
Nỗi Hưng thơ dại, nỗi nàng dâm ô;
Tình riêng chim Việt ngựa Hồ,
Chuyên vần báu ngọc các đồ sạch không.
Rắp toan bán nước làm công.
Quên ơn thủa trước, không lòng mai sau.
Cũng tuồng Lữ Trĩ khác đâu,
Chồi non chẳng bẻ, rễ sâu khó đào.
Quan binh một trận đổ vào,
Lửa nào tiếc ngọc, nắng nào tiếc hoa.

6. Nhà Triệu mất[sửa]

Vệ Dương lên nối nghiệp nhà,
Trong là quốc nạn, ngoài là địch nhân.
Hai nghìn giết sạch Hán quân,
Đem cờ sứ tiết để gần ải quan.
Tạ từ giả tiếng nói van,
Mấy nơi yếu hại sai quan đề phòng,
Bỗng đâu Hán lại tiếp sang,
Một kỳ tịnh tiến, năm đường giáp công.
Trong thành một ngọn lửa thông,
Chiêu hàng ngoài mạc, hội đồng các dinh.
Chạy ra lại gặp truy binh,
Vệ vương, Lữ tướng buộc mình cửa hiên.
Kể từ Triệu lịch kỷ niên,
Năm ngoài chín chục, ngôi truyền năm vua.
Trách ai gây việc tranh đua,
Vắn đài vận nước, được thua cơ trời.

Thời kỳ chống Bắc thuộc (Thế kỷ 2 TCN – thế kỷ 10 SCN)[sửa]

IV. Nhà Hán và Hai bà Trưng (111 TCN 43 SCN)[sửa]

1. Chính sách nhà Tây Hán[sửa]

Giao Châu mới thuộc nước người,
Ấy về Tây Hán là đời Nguyên phong.
Bản đồ vào sách hỗn đồng,
Đất chia chín quận, quan phong thú thần.
Đầu sai Thạch Đái trị dân,
Cầm quyền tiết việt giữ phần phong cương.
Tuần tuyên mới có Tích Quang,
Dạy dân lễ nghiã theo đường hoa phong.
Nhâm Diên khuyên việc canh nông,
Đổi nghề ngư liệp về trong khuê điền.
Sính nghi lại giúp bổng tiền,
Khiến người bần khổ thỏa nguyền thất gia.
Văn phong nhức dấy gần xa,
Tự hai hiền thú ấy là khai tiên.
Luân hồi trăm có dư niên,
Trải qua Đông Hán thừa tuyên mấy người.

2. Hai bà Trưng dựng nền độc lập[sửa]

Đường ca lâu đã vắng lời,
Đến như Tô Định là người chí hung.

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương.
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cũng liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Aỉ quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan

V. Giao Châu trong thời Bắc thuộc (43 – 544)[sửa]

1. Chính sách nhà Đông Hán[sửa]

Trải Minh, Chương đến Hiếu, An,
Tuần lương đã ít, tham tàn thiếu đâu.
Mới từ Thuận đế về sau,
Đặt quan thứ sử thuộc vào chức phương.
Kìa như Phàn Diễn, Giả Xương,
Chu Ngu, Lưu Tảo dung thường kể chi.
Trương Kiều thành tín phủ tuy,
Chúc Lương uy đức, man di cũng gần.
Hạ Phương ân trạch ngấm nhuần,
Một châu tiết việt hai lần thừa tuyên.

2. Lý Tiến, Lý Cầm làm quan nhà Hán[sửa]


Tuần lương lại có Mạnh Kiên,
Khúc ca Giả phủ vang miền trung châu.
Ba năm thăng trạc về chầu,
Thổ quan Lý Tiến mới đầu Nam nhân.
Sở kêu:” Ai chẳng vương thần,
Sĩ đồ chi để xa gần khác nhau?”
Tình từ động đến thần lưu,
Chiếu cho cống sĩ bổ châu huyện ngoài.
Lý Cầm chầu chực điện đài,
Nhân khi Nguyên đán kêu lời xa xôi.
Rằng:” Sao phủ tái hẹp hòi?
Gió mưa để một cõi ngoài Viêm phương “.
Tấm thành cũng thấu quân vương,
Trung châu lại mới bổ sang hai người.
Nước Nam mấy kẻ nhân tài,
Mới cùng người Hán chen vai từ rày.
 

3. Họ Sĩ tự chủ[sửa]

Lửa lò Viêm Hán gần bay,
Thế chia chân vạc, nào hay cơ trời.
Tranh nhau ba nước ba nơi,
Cầm quyền sinh sát mặc người phong cương.
Nho lưu lại có Sĩ vương,
Khơi nguồn Thù Tứ, mở đường lễ văn.
Phong tiêu rất mực thú thần,
Sánh vai Đậu Mục, chen chân Triệu Đà.
Sĩ Huy nối giữ tước nhà,
Dứt đường thông hiếu, gây ra cừu thù.
Cửa hiên phút bỗng hệ tù,
Tiết mao lại thuộc về Ngô từ rầy.

4. Bà Triệu Ẩu đánh Ngô[sửa]

Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu chân có ả Triệu kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.

5. Ngô Tấn tranh nhau Giao Châu[sửa]

Từ giờ Ngô lại tung hoành,
Đặt làm Giao, Quảng hai thành mới phân.
Tôn Tư rồi lại Đặng Tuân,
Lữ Hưng, Dương Tắc mấy lần đổi thay.
Đổng Nguyên, Lưu Tuấn đua tay,
Kẻ Ngô, người Tấn những ngày phân tranh.
Đào Hoàng nối dựng sứ tinh,
Tân xương, Cửu đức, Vũ bình lại chia.
Mười năm chuyên mặt phiên ly,
Uy gia bốn cõi, ân thùy một châu.
Khi đi, dân đã nguyện lưu,
Khi già, thương khóc khác nào từ thân.

6. Chính sách nhà Tấn[sửa]

Ngô công nối dấu phương trần,
Hai mươi năm lẻ nhân tuần cũng yên.
Dân tình cảm kết đã bền,
Tước nhà Cố Bật lại truyền Cố Tham.
Dân tình khi đã chẳng kham,
Dẫu là Cố Thọ muốn làm ai nghe.
Quận phù lại thuộc Đào Uy,
Rồi ra Đào Thục, Đào Tuy kế truyền.
Bốn đời tiết việt cầm quyền,
Phiên bình muôn dặm, trung hiền một môn.
Tham tàn những lũ Vương Ôn,
Binh qua nối gót, nước non nhuộm trần.
Tấn sai đô đốc tướng quân,
Sĩ Hành là kẻ danh thần chức cao.
Dẹp yên rồi lại về trào,
Uy danh nào kém họ Đào thuở xưa.
Nguyễn Phu tài trí có thừa,
Phá năm mươi lũy tảo trừ giặc Man.

7. Họ Đỗ ba đời làm thứ sử[sửa]

Châu diên lại có thổ quan,
Đỗ công tên Viện dẹp đoàn Cửu chân.
Tướng môn nối chức phiên thần,
Con là Tuệ Độ thêm phần uy danh.
Bổng riêng tán cấp cùng manh,
Cơm rau áo vải như hình kẻ quê.
Dâm từ cấm thói ngu mê,
Dựng nhà học hiệu giảng bề minh luân.
Ân uy ra khắp xa gần,
Cửa thành đêm mở, gió xuân một trời.
Hoàng Văn phủ ngữ cũng tài,
Một nhà kế tập ba đời tuần lương.

8. Giao châu loạn[sửa]

Đến triều Lưu Tống hưng vương,
Hòa Chi, Nguyên Cán sai sang hội đồng.
Đuổi Dương Mai, giết Phù Long,
Khải ca một khúc tấu công về trào.
Gió thu cuốn bức chinh bào,
Y thường một gánh, qui thiều nhẹ không.
Từ khi vắng kẻ chiết xung,
Tràng Nhân, Lưu Mục tranh hùng mấy phen.
Pháp Thừa cũng chức tuần tuyên,
Những chăm việc sách để quyền lại ty.
Dưới màn có Phục đăng Chi,
Cướp quyền châu mục, lộng uy triều đình.
Tề suy, Nguyên Khải tung hoành,
Hùng phiên chiếm giữ cô thành một phương.
Bắc triều đã thuộc về Lương,
Lại sai Lý Thốc chiêu hàng nẻo xa.
Giao châu một giải sơn hà,
Ái Châu lại mới đặt ra từ rày.

VI. Nhà Tiền Lý (544 – 603)[sửa]

1. Lý Nam Đế dựng nền độc lập[sửa]

Kể từ Ngô, Tấn lại đây,
Hai trăm mười bốn năm chầy cát phân.
Cỏ cây chan chứa bụi trần,
Thái bình mới có Lý Phần hưng vương.
Vốn xưa nhập sĩ nước Lương,
Binh qua gặp lúc phân nhương lại về.
Cứu dân đã quyết lời thề,
Văn thần, vũ tướng ứng kỳ đều ra,
Tiêu Tư nghe gió chạy xa,
Đông tây muôn dặm quan hà quét thanh.
Vạn Xuân mới đặt quốc danh,
Cải nguyên Thiên đức, đô thành Long biên.
Lịch đồ vừa mới kỷ niên,
Hưng vương khí tượng cũng nên một đời.
Quân Lương đâu đã đến ngoài,
Bá Tiên là tướng đeo bài chuyên chinh.
Cùng nhau mấy trận giao binh,
Thất cơ Tô Lịch, Gia ninh đôi đường.
Thu quân vào ở Tân xương,
Để cho Quang Phục chống Lương mặt ngoài.
Mới hay ” nhật phụ mộc lai,”
Sấm văn trước đã an bài những khi.

2. Triệu Quang Phục phá Lương[sửa]

Bấy giờ Triệu mới thừa ky,
Cứ đầm Dạ trạch, liệu bề tấn công.
Lý vương phút trở xe rồng,
Triệu Quang Phục mới chuyên lòng kinh doanh.
Hương nguyền trời cũng chứng minh,
Rông vàng trao vuốt giắt vành đầu mâu.
Từ khi long trảo đội đầu,
Hổ hùng thêm mạnh, quân nào dám đương.
Bá Tiên đã trở về Lương,
Dương Sằn còn ở chiến trường tranh đua.
Một cơn gió bẻ chồi khô,
Ải lang dứt dấu ngựa Hồ vào ra,
Bốn phương phẳng lặng can qua,
Theo nền nếp cũ, lại ra Long thành.

3. Lý Phật Tử đánh Triệu quang Phục[sửa]

Lý xưa còn có một cành,
Tên là Thiên Bảo náu mình Ai Lao.
Chiêu binh lên ở Động đào,
Họ là Phật Tử cũng vào hội minh.
Đào lang lại đổi quốc danh,
Cũng toan thu phục cựu kinh của nhà.
Cành dâu mây tỏa bóng tà,
Bấy giờ Phật Tử mới ra nối giòng,
Rừng xanh gió phất cờ hồng,
Đề binh kéo xuống bẹn sông tung hoành.
Triệu vương giáp trận Thái bình,
Lý thua rồi mới thu binh xin hoà.
Triệu về Long đỗ Nhị hà,
Lý về Hạ mỗ, ấy là Ô diên.
Hai nhà lại kết nhân duyên,
Nhã lang sánh với gái hiền Cảo nương.
Có người: Hống, Hát họ Trương,
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu.
Rằng:” Xưa Trọng Thủy, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắc mối Châu Trần sao nên?”
Trăng già sao nỡ xe duyên?
Để cho Hậu Lý gây nền nội công.
Tình con rể, nghĩa vợ chồng,
Tin nhau ai biết ra lòng lừa nhau.
Lâu la mới ngỏ tình đâu,
Nhã lang trộm lấy đâu mâu đổi liền.
Trở về giả chước vấn yên,
Giáp binh đâu đã băng miền kéo sang.
Triệu vương đến bước vội vàng,
Tình riêng còn chửa dứt đường cho qua.
Đem con chạy đến Đai nha,
Than thân bách chiến phải ra đường cùng!

4. Lý Phật Tử hàng Tùy[sửa]

Từ nay Phật Tử xưng hùng,
Hiệu là Nam đế nối dòng Lý vương.
Phong châu mới mở triều đường.
Ô diên, Long đỗ giữ giàng hai kinh.
Tùy sai đại tướng tổng binh,
Lưu Phương là chức quản hành Giao châu.
Đô long một trận giáp nhau,
Xin hàng Lý phải sang chầu Tấn dương.
Từ giờ lại thuộc Bắc phương,
Mấy năm Tùy loạn rồi Đường mới ra.

VII. Nền đô hộ của nhà Đường (603 – 905)[sửa]

1. An nam đô hộ phủ[sửa]

Quan Tùy lại có Khâu Hòa,
Đem dâng đồ tịch nước ta về Đường.
An nam mới lại canh trương,
Đặt Đô hộ phủ theo đường Trung Hoa.
Mười hai châu lại chia ra:
Giao, Phong, Lục, Ái, Chi, Nga, Diễn, Tràng.
Vũ an, Phúc Lộ, Hoan, Thang,
Cơ mi các bộ man hoang ở ngoài.

2. Mai Thúc Loan khởi nghĩa[sửa]

Quan Đường lắm kẻ tham tài,
Binh dân hàm oán, trong ngoài hợp mưu.
Mai Thúc Loan ở Hoan Châu,
Quân ba mươi vạn ruổi vào ải xa.
Hiệu cờ Hắc đế mở ra,
Cũng toan quét sạch sơn hà một phương.
Đường sai Tư Húc tiếp sang,
Hợp cùng Sở Khách hai đàng giáp công.
Vận đời còn chửa hanh thông.
Nước non để giận anh hùng nghìn thu.

3. Giặc Đồ Bà[sửa]

Trấn nam lại đổi tên châu,
Một đời canh cải trước sau mấy kỳ.
Xa khơi ngoài chốn biên thùy,
Đồ bà giặc mọi đua bề phân tranh.
Bá Nghi hợp với Chính Bình,
Dẹp đoàn tiểu khấu, xây thành Đại La.

4. Phùng Hưng khởi nghĩa[sửa]

Xiết bao phú trọng, chính hà,
Sinh dân sầu khổ ai là xót chăng?
Đường lâm mới có Phùng Hưng,
Đã tài kiêu dũng, lại lưng phú hào.
Cõi Tây nổi việc cung đao,
Đô quân tôn hiệu, Tản Thao hiệp tình.
Đem quân thẳng đến vây thành,
Đại La thế bức, Chính Bình hồn tiêu.
Nhân phủ trị mở ngôi triều,
Phong châu một giải nhiếp điều mấy niên.
Đế hương phút trở xe biền,
Đại vương Bố Cái tiếng truyền muôn thu.
Phùng An con nối thơ ngu,
Nghe quan nhu viễn bầy mưu hàng Đường.

5. Chuyện Lý Ông Trọng[sửa]

Kể từ đô hộ Triệu Xương,
Thành La xây lại vững vàng hơn xưa.
Thuyền chơi qua bến sông Từ,
Giấc nồng đâu bỗng tình cờ lạ sao.
Thấy người hai trượng dài cao,
Bàn kinh, giảng truyện khác nào văn nhân.
Cùng nhau như gửi tâm thần,
Tỉnh ra mới rõ nguyên căn tỏ tường.
Lý Ông Trọng ở Thụy hương,
Người đời vua Thục mà sang thi Tần.
Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân,
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ.
Uy danh đã khiếp Hung nô,
Người về Nam quốc, hình đồ Bắc phương.
Hàm dương đúc tượng người vàng,
Uy thừa còn giúp Tần hoàng phục xa.
Hương thơm cổ miếu tà tà,
Từ nay tu lý mới là phong quang.

6. Quan lại nhà Đường[sửa]

Triệu công tuổi tác về Đường,
Quý Nguyên, Bùi Thái tranh quyền với nhau.
Triều đình kén kẻ trị châu,
Triệu công vâng mệnh xe thiều, lại sang.
Bản kiều vừa nhận dấu sương,
Bến hồng đã định, khói lang cũng tàn.
Trương Đan thay chức phiên hàn,
Tập nghề thủy chiến, tạo thuyền đồng mông.
Đại la mới đắp lũy vòng,
Ái, Hoan thành cũ đều cùng tái tu.
Quan tham ai chẳng oán thù,
Kìa như Tượng Cổ sư đồ bạn ly.
Quan hiền ai chẳng úy uy,
Kìa như Mả Tổng man di đầu hàng.
Nguyên Gia dời phủ Tô giang,
Đến năm Bảo lịch dời sang Tống bình.
Giao châu binh mã tung hoành,
Thăng Triều đã dẹp, Dương Thanh lại nồng.
Kìa ai tôn trở chiết xung,
Mã công tên Thực anh hùng kém chi.
Tiết thanh cảm vật mới kỳ,
Dưới dòng Hợp phố châu đi cũng về.
Kiềm châu xa ruỗi mã đề,
Hồng bay còn dấu tuyết nê chưa mòn.
Nhũng quan lại gặp Vũ Hồn,
Thành lâu lửa cháy, dinh đồn quân reo.
Đoàn công vâng mệnh Đường triều.
Trước xe phủ dụ, giặc nào chẳng tan.
Thôi trung thổ, lại ngoại man,
Châu Nhai, Nguyên Hựu sai quan mấy lần.
Nho môn có kẻ tướng thần,
Họ Vương tên Thức kinh luân gồm tài.
Thành môn nghiêm nghị trong ngoài,
Trồng cây trúc mộc, tập bài cung đao.
Châu dân đều thấm ân cao,
Chiêm thành, Chân lạp cũng vào hiệu cung.

7. Giặc Nam Chiếu[sửa]

Xe thiều vừa trở về Đông,
Giặc Man thừa khích ruổi giong cõi ngoài.
Vương Khoan, Lý Hộ phi tài,
Đường sai Thái Lập lĩnh bài Giao Châu.
Biên thư mấy bức về tâu,
Kẻ xin lưu thú, người cầu bãi binh.
Ghen công vi hoặc, Thái Kinh,
Thờ ơ để việc biên tình mặc ai.
Tiếc thay muôn dặm thành dài,
Cô quân nên nỗi thiệt tài chiết xung.
Ngu Hầu tiếp chiến bên sông,
Quyết liều một trận đều cùng quyên sinh.
Vua Đường tuyên chỉ triệt binh,
Bỏ hàm Đô hộ, đặt hành Giao Châu.
Trấn, đồn, cửa bể, đâu đâu,
Tống Nhung, Thừa Huấn hợp nhau một đường.
Dùng dằng nào dám tiến sang,
Tám ngàn quân bỏ cương tràng sạch không.
Dối tâu lại muốn cầu công,
Rồi ra sự phát đều cùng nghị lưu.

8. Cao Biền dẹp Nam Chiếu[sửa]

Cao Biền là tướng lạc điêu,
Tài danh sớm đã dự vào giản tri.
Quân phù vâng lệnh chỉ huy,
Tiệp thư sai một tiểu ty về chầu.
Gia quan cho lĩnh tiết mao,
Đặt quân Tĩnh hải biên vào bản chương.
Một châu hùng cứ xưng vương,
Thành La rộng mở, kim thang vững bền.
Tuần hành trải khắp sơn xuyên,
Đào Thiên uy cảng, thông thuyền vãng lai.
Chín năm khép mở ra tài,
Thành trì truyền dấu, miếu đài ghi công.
Rồi khi trở ngựa Hán trung,
Cao Tầm là cháu nối dòng xưng phiên.
Họ Tăng, tên Cổn cũng hiền,
Giao Châu di ký còn truyền một chương.

Thời kỳ xây dựng Độc lập và thống nhất (Thế kỷ thứ 10)[sửa]

VIII. Nhà Ngô (906 – 967)[sửa]

1. Họ Khúc dấy nghiệp[sửa]

Ba trăm năm lẻ Tùy, Đường,
Lại trong Ngũ quý tang thương cũng dài,
Hồng châu Khúc Hạo hùng tài,
Gặp đời thúc quý toan bài bá vương.
Cõi nhà hùng cứ nam phương,
Cung cầu một lễ, Hán Lương hai lòng.
Qui mô cũng rắp hỗn đồng,
Điền tô, đinh ngạch đều cùng định nên.
Thừa gia vừa được tái truyền,
Bởi cầu Lương tiết hóa nên Hán tù.
Dương Đinh Nghệ lại báo thù,
Đuổi người Hán, lĩnh châu phù vừa xong.
Nghĩa nhi gặp đứa gian hùng,
Kiều công Tiện lại nỡ lòng sao nên.

2. Ngô Quyền phá quân Nam Hán[sửa]

Dương công xưa có rể hiền,
Đường lâm hào hữu tên Quyền họ Ngô.
Vì thầy, quyết chí phục thù,
Nghĩa binh từ cõi Ái châu kéo vào.
Hán sai thái tử Hoằng Thao,
Đem quân ứng viện toan vào giúp công.
Bạch Đằng một trận giao phong,
Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu.
Quân thân đã chính cương trù,
Giang sơn rầy có vương hầu chủ trương.
Về Loa thành mới đăng quang,
Quan danh cải định, triều chương đặt bày.

3. Dương Tam Kha tiếm ngôi[sửa]

Nền vương vừa mới dựng xây,
Tiếc cho hưởng nước chưa đầy sáu năm.
Đến cơn loạn mệnh nên nhầm,
Cán Long tuyền để trao cầm tay ai?
Tam Kha là đứa gian hồi,
Lấy bè thích lý chịu lời thác cô.
Cành dương đè lấn chồi ngô,
Bình vương tiếm hiệu, quốc đô tranh quyền.

4. Nhà Ngô phục hưng[sửa]

Ngô vương vốn có con hiền,
Trưởng là Xương Ngập nối truyền thế gia.
Trà hương lánh dấu yên hà,
Hộ trì lại gặp tôi là Phạm công.
Xương Văn em thứ con dòng,
Nương mình phủ dưỡng, cam lòng kinh doanh.
Nhân khi ra đánh Thái bình,
Vén tay tả đản, về thành tập công.
Khoan hình rồi lại giáng phong,
Tư tình, công nghĩa thủy chung lưỡng tuyền.
Yên vui lại nhớ anh hiền,
Rước tìm Xương Ngập chung quyền quốc gia.
Chi lan xum họp một nhà,
Anh xưng Thiên Sách, em là Tấn Vương.
Cùng nhau đều hưởng giàu sang,
Dù khi chếch lệch biên tường cũng nguôi.
Bốn năm Thiên Sách vừa rồi,
Tấn Vương rầy mới chuyên ngôi một mình.
Sính tài lại hiếu việc binh,
Thao giang đã tĩnh, Thái bình lại vây.
Trận tiền một mũi tên bay,
Khinh thân vàng ngọc, trách này bởi ai?
Tiếc thay chửa được lâu dài,
Mười lăm năm mới hai đời đến đây.

IX Nhà Đinh và nhà Tiền Lê (967 1009)[sửa]

1. Thập nhị sứ quân[sửa]

Nghiệp Ngô rầy có ai thay?
Đua nhau lại, phó mặc tay quần hùng.
Tiên du riêng một đề phong,
Nguyễn Công Thủ Tiệp cứ vùng Nguyệt Thiên
Đường lâm riêng một sơn xuyên,
Ngô Công Nhật Khánh cứ miền Tản Thao.
Tây phù liệt có Nguyễn Siêu,
Ngô Xương Xí giữ Bình kiều một phương.
Tế giang này có Lữ Đường,
Nguyễn Khoan hùng cứ Vĩnh tường phải chăng?
Phạm Phòng Át giữ châu Đằng,
Kiều Tam Chế giữ ngàn rừng châu Phong.
Đỗ Giang kìa Đỗ Cảnh Công;
Kiều công tên Thuận ở trong Hồi hồ.
Kiến ong Siêu loại tranh đua,
Lý Khuê một cõi trì khu dầu lòng.
Kình nghê Bố hải vẫy vùng,
Trần công tên Lãm xưng hùng một nơi.
Phân tranh hội ấy nực cười!
Mười hai quan sứ mỗi người mỗi phương.

2. Đinh Bộ Lĩnh hợp nhất quốc gia[sửa]

Xây vần trong cuộc tang thương,
Trải bao phân loạn mới sang trị bình.
Có ông Bộ Lĩnh họ Đinh,
Con quan thử sử ở thành Hoa lư.
Khác thường từ thuở còn thơ,
Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau.
Dập dìu kẻ trước người sau,
Trần ai đã thấy vương hầu uy dung.
Một mai về với Trần công,
Hiệu xưng Vạn thắng, anh hùng ai qua.
Bốn phương thu lại một nhà,
Mười hai sứ tướng đều là quét thanh.

3. Chính sách nhà Đinh[sửa]

Trường yên đầu dựng đô thành.
Cải nguyên là hiệu Thái bình từ đây.
Ngìn năm cơ tự mới xây,
Lên ngôi hoàng đế đặt bầy trăm quan.
Có đưòng bệ có y quan,
Đẳng uy có biệt, giai ban có thường.
Tống phong giao chỉ quận vương,
Cha con đều chịu sủng chương một ngày.
Hồng Bàng để mối đến nay,
Kể trong chính thống từ đây là đầu.
Tiếc không học vấn công phu,
Chuyện xưa ít biết, lo sau vụng đường.
Già tăng cũng dự quan sang,
Bặc, Điền, Cơ, Tú đều phường vũ nhân.
Nội đình năm vị nữ quân,
Nặng tình kiêm ái, quên phần di mưu.
Đã phong Đinh Liễn con đầu,
Hạng Lang là thứ nhẽ nào đổi thay?
Pháp hình cũng lạ xưa nay,
Hùm nuôi trong cũi, vạc bày ngoài sân.

4. Nhà Đinh mất ngôi[sửa]

Chơi bời gần lũ tiểu nhân,
Rượu hoa ngọt giọng, đền xuân mê lòng.
Trùng môn thưa hở đề phòng,
Để cho Đỗ Thích gian hùng nỡ tay.
Nối sau Thiếu đế thơ ngây,
Lê Hoàn tiếp chính từ rầy dọc ngang.
Tiếm xưng là Phó quốc vương,
Ra vào cùng ả họ Dương chung tình.
Bặc, Điền vì nước liều mình,
Trách sao Cự Lạng tán thành mưu gian

5. Lê Hoàn phá quân Tống[sửa]

Chợt nghe binh báo Nam quan,
Cùng nhau phù lập Lê Hoàn làm vương.
Trước mành, vâng lệnh nàng Dương,
Trong cung đã thấy áo vàng đưa ra,
Trường yên đổi mặt sơn hà,
Đại Hành trí lược thực là cũng ghê!
Vạc Đinh đã trở sang Lê,
Nàng Dương chăn gối cũng về hậu cung.
Nguy nga ngói bạc, cột đồng,
Cung đài trang sức buông lòng xa hoang,
Tự mình đã trái luân thường,
Lấy chi rủ mối, dựng giường, về sau.

6. Nhà Lê thất chính[sửa]

Đoàn con đích, thứ tranh nhau,
Để cho cốt nhục thành cừu bởi ai?
Trung tông vừa mới nối đời,
Cấm đình thoắt đã có người sính hung,
Ngọa triều thí nghịch hôn dung,
Trong mê tử sắc, ngoài nồng hình danh,
Đao sơn, kiếm thụ đầy thành,
Thủy lao bào lạc ngục hình gớm thay.
Bốn năm sầu oán đã đầy,
Vừa tuần Lê rụng đến ngày Lý sinh.

Thời kỳ phát triển (Thế kỷ 11 – đầu thế kỷ 19)[sửa]

X. Nhà Hậu Lý (1010 – 1225)[sửa]

1. Lý Thái Tổ[sửa]

Bắc giang trời mở thánh minh,
Lý Công tên Uẩn nhân tình đới suy.
Lê triều làm chức chỉ huy,
Lũ Đào Cam Mộc ứng kỳ phù lên.
Đầu năm cải hiệu Thuận Thiên,
Thăng Long mới đổi đặt tên kinh thành.
Định ra thuế lệ phân minh,
Túc xa, quản giáp quân danh cũng tường.
Hỗn dồng một mối phong cương,
Hai mươi bốn lộ các đường mới chia.
Cử long sấm dậy binh uy,
Diễn châu gió động tinh kỳ thân chinh.
Biện loan gặp lúc hối minh,
Hương nguyền cảm cách, sóng kình cũng êm.
Bốn phương trong trị, ngoài nghiêm,
Chiêm Thành, Chân Lạp xa đem cung cầu.
Ngựa man sang tiến Bắc triều,
Tống hoàng ban thưởng quan bào thêm vinh.
Ví hay đạo học tinh minh,
Đế vương sự nghiệp nước mình ai hơn?
Có sao tin hoặc dị đoan,
Say vui đạo Phật lưu tiên cảnh chùa?
Để cho dân tục tranh đua,
Ni cô nối gót, tăng đồ chen vai.
Bởi vì sinh cửa Như lai,
Tiêu sơn từ thuở anh hài mới ra.
Sóng tình chìm nổi ái hà,
Chín ngôi hoàng hậu, phép nhà cũng sai.
Tự mình đã dựng lệ giai,
Khiến nên con cái, thêm bài tương tranh.

2. Lý Thái Tông bình Nùng, phục Chiêm[sửa]

Thái Tông nối nghiệp thủ thành,
Anh em lại rắp đua giành ngôi cao.
Cùng nhau binh mã sấn vào,
Cấm thành bỗng chốc xôn xao chiến trường.
Trận tiền giết Vũ đức Vương,
Đông Chinh, Dực Thánh tìm đường chạy xa.
Khoan hình lại xuống chiếu tha,
Thân phiên đã định, nước nhà mới yên.
Ban hình luật, canh tịch điền,
Mở đồ nhất thống cầm quyền tứ chinh.
Mừng xem ” Phiên phục, Nùng bình”,
Huy xưng có chữ rành rành biểu tiên.
Vắn dài là số tự nhiên,
Tụng kinh cầu thọ, khéo nên chuyện cười.

3. Lý Thánh Tông, một ông vua nhân dũng[sửa]

Thánh Tông văn học hơn đời,
Bình Chiêm, đánh Tống, đủ tài kinh luân.
Khuyến nông chăm việc cần dân,
Chiếu chăn thương kẻ tù nhân lạnh lùng.
Thánh hiền tô tượng học cung,
Đặt khoa bác sĩ, ưu dung đại thần.
Ân riêng mưa móc đượm nhuần,
Đã tiền lại lúa ân cần dưỡng liêm.
Hồ tây vui thú Dâm đàm,
Nỡ đem của nước xây làm cung tiên.
Chuông Sùng Khánh, tháp Báo Thiên,
Phật vàng đúc tượng, say thiền lạ sao.

4. Bà Ỷ Lan nhiếp chánh[sửa]

Nhân Tông tuổi chửa là bao,
Ngoài ra triều yết, trong vào giảng minh.
Thụ di có Lý Đạo Thành,
Ỷ Lan hoàng hậu buông mành giúp nên.
Mở khoa bác học cầu hiền,
Ba thăng một mẫu, thuế điền nhẹ thay!
Có khi xem gặt, xem cầy,
Lòng chăm điền dã, một ngày mấy tao.
Mưa ân ngấm khắp dồi dào,
Chuộc người bần nữ gả vào quan phu.

5. Lý Thường Kiệt bại Chiêm, phá Tống[sửa]

Thân chinh xe ngựa trì khu,
Phá Sa động bắt man tù Ngụy Phang.
Chiêm Thành nộp đất xin hàng,
Ba châu qui phụ một đường thanh di.
Tống binh xâm nhiễu biên thùy,
Tướng quân Thường Kiệt dựng cờ Bắc chinh.
Bên song Như Nguyệt trú dinh,
Giang sơn dường có thần linh hộ trì.
Miếu tiền phảng phất ngâm thi,
Như phân địa thế, như trì thiên binh.
Bấy giờ Tống mới hư kinh,
Giảng hòa lại trả mấy thành cố cương.
Lại còn hối hận một chương:
” Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng nguyên”
Năm mươi năm lẻ lâu bền,
Vũ công văn đức rạng truyền sử xanh.
Thượng dương sao nỡ bạc tình,
Để bà Dương hậu một mình ngậm oan.
Kìa Lê văn Thịnh mưu gian,
Thương chi quái hổ mà khoan lưới hình!
Phật từ như quả chứng minh,
Chuông chùa Diên Hựu đã thành phúc cai.
Cớ sao Trừ quân lại thác vào người hoá duyên?


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 6.104
  • 986
  • 6.046
  • 999
  • 975.779
  • 228.250