Thần tiên Việt Nam

Đền Vua Lê Đại Hành – Thanh Hóa 黎大行 – 越南道教

 

 

Đền Vua Lê Đại Hành – Thanh Hóa黎大行-越南道教

 

Lê Đại Hành (chữ Hán: 黎大行; tên húy là Lê Hoàn (黎桓)

 

 

 

Lê Đại Hành- tên húy là Lê Hoàn (941 1005)- là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp to lớn trong chống quân Tống phương Bắc, bình Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt. Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau đó Lý Công Uẩn có đủ khả năng dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ra một kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long. Xung quanh vị Hoàng đế này còn nhiều điều chưa được sáng tỏ như vấn đề thân thế, sự nghiệp, và thụy hiệu.

Về quê hương Lê Hoàn, vấn đề mà Ngô Thì Sỹ đặt ra từ thế kỷ 18, được thảo luận nhiều lần dưới thời nhà Nguyễn cho đến nay các nhà sử học vẫn chưa đưa ra được kết luận nơi đâu trong ba tỉnh: Ninh Bình, Thanh Hoá hay Hà Nam là quê hương của ông. Tại hội thảo “1000 năm Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, trải qua một chặng đường đổi mới của sử học, nhiều vấn đề về quê hương của Lê Hoàn được đào sâu và nhìn nhận lại theo chiều hướng thoáng rộng hơn. Tựu chung có các ý kiến sau:

Trường Châu (Ninh Bình)

Việt Sử Lược viết từ thời Trần ghi là: “Đại Hành vương húy là Hoàn, họ Lê, người Trường Châu”. Trường Châu là vùng đất kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình. Các nhà nghiên cứu Mai Khánh (Bảo tàng Hà Nam) và TS. Vũ Văn Quân đồng ý rằng Lê Hoàn là người Trường Châu nhưng cho rằng Trường Châu bao gồm cả Ninh Bình và Hà Nam.

Ái Châu (Thanh Hóa)

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí ghi: “Vua họ Lê, tên húy là Hoàn, người Ái Châu”. Cùng quan điểm sách “Các Triều Đại Việt Nam” còn cho rằng mẹ Lê Hoàn là Đặng Thị Sen chứ không gọi là Đặng Thị. An Nam Chí Lược của Lê Tắc thời Trần, mục Lê nhị thế gia chép: “Lê Hoàn, người Ái Châu, có chí lược, được lòng quân sỹ”. Website chính thức của tỉnh Thanh Hóa cũng khẳng định Lê Hoàn là người quê hương mình. Đại Nam Nhất Thống Chí chép: “Miếu Lê Đại Hành hoàng đế ở xã Trung Lập, huyện Thuỵ Nguyên- ngày nay là xã Xuâp Lập,huyện Thọ Xuân-chỗ này là nền nhà cũ của tiên tổ nhà vua”.Lịch sử tỉnh Hà Nam lại chép “mộ tổ Lê Đại Hành ở bên miếu xã Ninh Thái, huyện Thanh Liêm”.

Bảo Thái (Hà Nam)

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi: “Xét thấy Lê Đại Hành Hoàng đế người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm chứ không phải Ái Châu, sử cũ chép nhầm”. Cuốn Việt Nam Sử lược, Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cưong Mục, Việt Sử Tiêu Án đều ghi: “Lê Hoàn quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm” . Nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng Lê Hoàn sinh ở Thanh Liêm, Hà Nam và theo ông, Thanh Hóa chỉ có thể là quê ngoại hay quê bố nuôi. Lịch sử Hà Nam Ninh cũng đã nhận định: “Lê Hoàn quê nội ở Thanh Liêm (Hà Nam), quê ngoại ở Kẻ Sập (Thanh Hoá), Tuy sinh ở đất Ái Châu nhưng ông chỉ sống ở đấy hơn 10 năm, sau trở về Thanh Liêm”. GS. Lê Văn Lan cũng cho rằng “Lê Hoàn là đứa trẻ mồ côi ở làng Kẻ Sập – quê ngoại, chàng trai nghèo ở miền Bảo Thái quê nội”. Sử cũ cũng nhắc tới Trần Bình Trọng quê ở xã Thanh Liêm là hậu duệ của Lê Hoàn. Vị danh tướng thời Trần này được ban quốc tính vì có nhiều công trạng. Website chính thức của tỉnh Hà Nam cũng khẳng định Lê Hoàn là người quê hương mình.

* * *

 

 

Về các biến cố chính trị liên quan đến cái chết của Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, một vài giả thiết cho rằng không phải Đỗ Thích mà chính Lê Hoàn, cấu kết với Dương Vân Nga, đã ám sát Đinh Tiên Hoàng và con trưởng để chiếm ngôi. Việc Lê Đại Hành lấy Dương thái hậu nhà Đinh-vua Lê lập Dương Vân Nga làm một trong năm bà hoàng, các sử gia phong kiến rất nặng lời chê trách. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sỹ Liên viết:”Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao? …Vua nhân gian dâm trong cung mà lấy được nước, dẹp giặc bên ngoài để yên dân, trong nước lặng yên, Bắc Nam vô sự”.

Hoàng Xuân Hãn viết trong Hoàng Xuân Hãn tuyển tập: “…việc này trái với khuôn phép nhà nho. Các sử gia nho xưa đã trịnh trọng chỉ trích như Ngô Sỹ Liên, Ngô Thì Sỹ…”.

* * *

Về tên “Đại Hành”

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Khi vua mới mất mà chưa được đặt thụy hiệu thì được gọi là Đại Hành Hoàng đế. Do vua nối ngôi là Lê Ngọa Triều đã không đặt thụy hiệu nên “Đại Hành Hoàng đế” đã trở thành thụy hiệu của Lê Hoàn.

Sử gia Lê Văn Hưu viết:”Thiên tử và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế, Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên thì hợp bầy tôi bàn xem đức hạnh hay hay dỡ để đặt thụy là mỗ hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không gọi là Đại Hành nữa. Lê Đại Hành thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu mà truyền đến ngày nay là làm sao? Vì Ngọa Triều là con bất hiếu, lại không có bề tôi nho học để giúp đỡ bàn về phép đặt thụy cho nên thế.”

Tuy nhiên, có sách giải thích “đại hành” là đi xa hẳn không trở lại. Có sách khác lại giải thích “đại hành” là đức hạnh lớn (hành và hạnh viết cùng một chữ o, âm cổ đọc như nhau).

Các sử gia đều trách Lê Ngọa Triều là đứa con bất hiếu, lại không có bề tôi nho học. Tại sao không ai nói chính Lê Hoàn mới là đứa con bất hiếu, không hề quan tâm đến cha mẹ, tổ tông. Trong suốt 26 năm làm vua, tôi không tin là Lê Hoàn bận đến mức không còn thời gian để truy tôn cho cha mẹ, lập bàn thờ để dâng hương lên tổ tiên. Quả táo văng không xa khỏi gốc cây, câu thành ngữ đó vào đời nào cũng đúng.

* * *

     Đền thờ Lê Đại Hành

Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 40 nơi thờ Lê Đại Hành (trong đó có 12 nơi thờ riêng, 5 nơi phối thờ với bà vợ cả là Đô Hồ phu nhân; 2 nơi phối thờ với Thái hậu Dương Vân Nga và 21 nơi thờ với các vị thần khác). Ninh Bình là tỉnh có nhiều di tích thờ Lê Hoàn nhất 11 nơi; tiếp theo là Thái Bình với 10 nơi; Hà Nội có 9 nơi (trong đó Hà Đông 4 nơi, Thanh Trì 3 nơi và Sơn Tây 2 nơi); Nam Định 4 nơi, Hà Nam 3 nơi; các tỉnh Thanh Hoá, Hưng Yên, Hải Dương tìm thấy 1 nơi thờ.

 

 

Ninh Bình là vùng đất kinh đô của đất nước dưới thời Lê Hoàn, các đền thờ tập trung nhiều ở quanh khu di tích cố đô Hoa Lư. Thái Bình là nơi diễn ra trận đánh Lục Đầu Giang chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Điều này có thể giải thích cho việc nhân dân quanh khu vực diễn ra trận Lục Giang thờ cúng Lê Hoàn, đặc biệt là hai tổng Xích Bích và Ỷ Đôn. Các thần tích, thẩn sắc tại Hải Dương, Hải Phòng – nơi diễn ra trận Bạch Đằng năm 981 cho thấy các tướng của ông được thờ ở rất nhiều nơi và trong thần tích, thần sắc của họ có mô tả lại những chiến công của Lê Hoàn tại khu vực này.

 

Đền thờ Lê Hoàn ở Hoa Lư

 Tại Thanh Hóa, ở xã Xuân Lập huyện Thọ Xuân có đền thờ Lê Hoàn còn giữ được nhiều nét kiến trúc rất độc đáo với 13 gian làm bằng gỗ và lợp bằng ngói cổ. Gắn với đền thờ là lễ hội tri ân Lê Đại Hành được tổ chức hằng năm với 3 kỳ đại tế: Húy nhật 8/03; Sinh nhật 15/07 và lễ cúng dâng bánh chưng ngày tết. 

 

 

Viết bởi tamlong04 | Chủ nhật, 21 Tháng 2 2010 11:43


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 117
  • 30
  • 4.149
  • 927
  • 1.193.460
  • 279.268