Thần tiên Việt Nam

Lục Vân Tiên 陆云仙 Kiều Nguyệt Nga phần 2 – Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

 

Đạo Giáo Thần Tiên 神仙越南道教

 

Lục Vân Tiên 陆云仙

Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷沼; 1822-1888)

 

Bản Quốc Ngữ 2082 Câu

 

Phần 2

 

 

 

Wang_Chuyi.jpg 

 

3957233_17271535dd1959_2.jpg

Đồng rằng: Nghe tiếng thầy đây,

Trừ ma ếm quỷ phép thầy rất hay.

Pháp rằng: Ấn đã cao tay,

Lại thêm phù chú xưa nay ai bì.

Qua sông cá thấy xếp vi,

Vào rừng cọp thấy phải quì lạy đưa.

Pháp hay hú gió kêu mưa,

Sai chim khiến vượn duổi lừa vật trâu.

Pháp hay miệng niệm một câu,

Tóm thâu muôn vật vào bầu hồ linh.

Pháp hay sái đậu thành binh,

Bện hình làm tướng phá thành Diêm Vương.

Pháp hay đạo hỏa phó thang,

Ngồi gươm đứng giáo mở đàng thiên hoang.

Có ba lượng bạc trao sang,

Đặng thầy sắm sửa lập đàn chữa cho.

Đồng rằng: Tôi chẳng so đo,

Khuyên thầy gắng sức chớ lo khó giàu.

Bấy lâu thầy tớ theo nhau,

Bạc dành hai lượng phòng sau đi đàng.

Chữa chuyên bệnh ấy đặng an,

Rồi tôi sẽ lấy đem sang cho thầy.

Pháp rằng: Về lấy sang đây,

Cho thầy toan liệu lập bày đàn ra.

Đồng rằng: Tôi đã lo xa,

Cực vì người bịnh ở nhà chẳng yên.

Xin thầy gắng sức chịu phiền,

Ra công bùa chú chữa chuyên cách nào.

Pháp rằng: Có khó chi sao,

Người nằm ta chữa rối trao phù về.

Đồng rằng: Tôi vốn thằng hề,

Bịnh chi mà khiến chịu bề chữa chuyên?

Pháp rằng: Ta biết kinh quyền,

Đau nam chữa bắc mà thuyên mới tài.

Tiểu đồng nghe lọt vào tai,

Lòng mừng vội vã nằm dài chữa chuyên.

Pháp bèn cất tiếng hét lên:

Mời ông Bàn Cổ tọa tiền chứng miêng.

Thỉnh ông đại thánh Tề thiên,

Thỉnh bà Võ hậu đều liền đến đây.

Thỉnh ông Nguyên soái chinh tây,

Cùng bà Vương mẫu sum vầy một khi.

Thỉnh ông Phật tổ A-di,

Thập phương chư Phật phù trì giúp công.

Lại mời công chúa Ngũ-long,

Bình nam ngũ hổ hội đồng an dinh.

Thỉnh trong thiên tướng thiên binh,

Cùng là tam phủ Động-đình Xích-lân.

Thỉnh trong khắp hết quỉ thần,

Cùng đều xuống chốn dương trần vui chơi.

Cho người ba đạo phù trời,

Uống vào khỏe mạnh như lời chẳng sai.

Tiểu đồng vâng lĩnh theo lời,

Lấy phù trở lại toan bài thuốc thang.

Vào nhà thưa với thầy Ngang:

Pháp phù đã đủ thầy toan phương nào?

Ngang rằng: Còn bạc trong bao,

Thời người khá lấy mà trao cho thầy.

Đồng rằng: Tôi hãy ở đây,

Bịnh kia dầu khá mình này bán đi.

Triệu Ngang biết chẳng còn chi,

Kiếm đường tráo chác đuổi đi khỏi vòng:

Ở đây làng xóm khó lòng,

E khi mưa nắng ai cùng đỡ che.

Đồng rằng: Trong gói vắng hoe,

Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm.

Những lo chạy hết một trăm,

Mình ve khô xép ruột tằm héo don.

Thương thay tiền mất tật còn,

Bơ vơ đất khách thon von thế này.

Thôi thôi gắng gượng khỏi đây,

Tôi đi khuyên giáo đỡ ngày gạo rau.

Vân Tiên chi xiết nỗi sầu,

Tiểu đồng dìu dắt gần cầu Lá-buôn.

Đương khi mưa gió luông tuồng,

Nguời buồn lại gặp kiểng buồn khá thương!

Xiết bao ăn tuyết nằm sương,

Màn trời chiếu đất dặm trường lao đao!

Dầu cho tài trí bực nào,

Gặp cơn nguy hiểm biết sao mà nhờ.

Tiên rằng: Đi đã ngất ngơ,

Tìm nơi cây cối bụi bờ nghỉ chơn.

Đồng rằng: Chốc nữa khỏi rừng,

Tìm nơi quán xá sẽ dừng nghỉ ngơi.

Non tây vừa khuất mặt trời,

Tớ thầy dìu dắt tới nơi Đại-đề.

Trường thi một lũ vừa về,

Trịnh Hâm xem thấy lại kề hỏi thăm:

Anh về nay đã hai rằm,

Cớ sao mang bịnh còn nằm nơi đây.

Tiên rằng: Tôi vốn chẳng may,

Chẳng hay chư hữu khoa này thế nao?

Hâm rằng: Tử Trực đậu cao,

Tôi cùng Bùi Kiệm đều vào cử nhân.

Một mình về trước viếng thân,

Hai người trở việc còn lần đi sau.

Đương cơn hoạn nạn gặp nhau,

Người lành nỡ bỏ người đau sao đành.

Từ đây tới quận Đông-thành,

Trong mình có bịnh bộ hành sao xong.

Lần hồi đến chốn giang trung,

Tìm thuyền ta sẽ tháp tùng với nhau.

Tiên rằng: Tình trước ngãi sau,

Có thương xin khá giúp nhau phen này.

Hâm rằng: Anh tạm ngồi đây,

Tiểu đồng người tới trước này cùng ta.

Vào rừng kiếm thuốc ngoại khoa,

Phòng khi sông biển phong ba bất kì.

Tiểu đồng vội vã ra đi,

Muốn cho đặng việc quản gì lao đao.

Trịnh Hâm trong dạ gươm dao,

Bắt người đồng tử trói vào gốc cây:

Trước cho hùm cọp ăn mày,

Hại Tiên phải dụng mưu này mới xong.

Vân Tiên ngồi những đợi trông,

Trịnh Hâm về nói tiểu đồng cọp ăn.

Vân Tiên than khóc nằm lăn:

Có đâu địa hãm thiên băng thình lình!

Bấy lâu đất khách lưu linh,

Một thầy một tớ lộ trình nuôi nhau.

Nay đà hai ngả phân nhau.

Còn ai nưng đỡ trước sau cho mình!.

Hâm rằng: Anh chớ ngại tình,

Tôi xin đưa tới Đông-thành thời thôi.

Vân Tiên chi xiết lụy rơi,

Buồm đà theo gió chạy xuôi một bề.

Tiểu đồng bị trói khôn về,

Kêu la chẳng thấu bốn bề rừng hoang:

Phận mình đã mắc tai nàn,

Cám thương họ Lục suối vàng bơ vơ.

Xiết bao những nỗi dật dờ,

Đò giang nào biết bụi bờ nào hay.

Vân Tiên hồn có linh rày,

Đem tôi theo với đỡ tay chơn cùng!.

Vái rồi lụy nhỏ ròng ròng,

Đêm khuya ngồi dựa cội tòng ngủ quên.

Sơn quân ghé lại một bên,

Cắn dây mở trói cõng lên ra đàng.

Tiểu đồng thức dậy mơ màng,

Xem qua dấu đất ràng ràng mới hay.

Nửa mừng nửa lại sợ thay,

Chạy ra chốn cũ kiếm thầy Vân Tiên.

Mặt trời vừa khỏi mái hiên,

Người buôn kẻ bán chợ phiên nhộn nhàng.

Hỏi thăm bà quán giữa đàng:

Bữa qua có thấy người tang chăng là?

Quán rằng: Thôi đã ra ma,

Khi mai làng xóm người đà đi chôn.

Tiểu đồng nghe nói kinh hồn,

Hỏi rằng: Biết chỗ nào chôn chỉ chừng.

Tay lau nước mắt rưng rưng,

Xảy nghe tiếng nói đầu rừng lao xao.

Tiểu đồng vội vã bước vào,

Xóm làng mới hỏi: Thằng nào tới đây?

Đồng rằng: Tớ tới kiếm thầy,

Chẳng hay người thác mả này là ai?

Người rằng: Một gã con trai,

Ở đâu không biết lạc loài đến đây.

Chơn tay mặt mũi tốt thay,

Đau chi nên nỗi nước này khá thương.

Tiểu đồng chẳng kịp hỏi han,

Nằm lăn bên mả khóc than một hồi.

Người đều xem thấy thương ôi!

Kêu nhau vác cuốc đều lui ra đàng.

Tiểu đồng nằm giữa rừng hoang,

Che chòi giữ mả lòng toan trọn bề.

Một mình ở đất Đại-đề,

Sớm đi khuyên giáo tối về quải đơm.

Dốc lòng trả nợ áo cơm,

Sống mà trọn nghĩa thác thơm danh hiền.

Thứ này đến thứ Vân Tiên,

Năm canh ngồi dựa be thuyền thở than.

Trong khăn lụy nhỏ chứa chan,

Cám thương phận tớ mắc nàn khi không.

Lênh đênh thuyền giữa biển đông,

Riêng than một tấm cô bồng ngẩn ngơ.

Đêm khuya lặng lẽ như tờ,

Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay.

Trịnh Hâm khi ấy ra tay,

Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời.

Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời,

Cho người thức dậy lấy lời phôi pha.

Trong thuyền ai nấy kêu la,

Đều thương họ Lục xót xa tấm lòng.

Vân Tiên mình lụy giữa dòng,

Giao long dìu đỡ vào trong bãi rày.

Vừa may trời đã sáng ngày,

Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ.

Hối con vầy lửa một giờ.

Ông hơ bụng dạ mụ hơ mặt mày.

Vân Tiên vừa ấm chơn tay,

Ngẩn ngơ hồn phách như say mới rồi.

Ngỡ thân mình phải nước trôi,

Hay đâu còn hãy đặng ngồi dương gian.

Ngư ông khi ấy hỏi han,

Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa.

Ngư rằng: Người ở cùng ta.

Hôm mai hẩm hút với già cho vui.

Tiên rằng: Ông lấy chi nuôi,

Thân tôi như thể trái mùi trên cây.

May đà trôi nổi đến đây,

Không chi báo đáp mình này trơ trơ.

Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,

Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn?

Nước trong rửa ruột sạch trơn,

Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

Rày doi mai vịnh vui vầy,

Ngày kia hứng gió đêm này chơi trăng.

Một mình thong thả làm ăn,

Khỏe quơ chài kéo mệt quăng câu dầm.

Nghêu ngao nay chích mai đầm,

Một bầu trời đất vui thầm ai hay.

Kinh luân đã sẵn trong tay,

Thung dung dưới thế vui say trong trời.

Thuyền nan một chiếc ở đời,

Tắm mưa chải gió trong vời Hàn-giang.

Tiên rằng: Vậy cũng một làng,

Võ công người ở gần đàng đây chăng?

Ngư rằng: Nhà ở cũng gần,

Khói ba khúc vịnh thì lần đến nơi.

Tiên rằng: Xưa đã gá lời,

Sui gia bao nỡ đổi dời chẳng thương.

Vợ chồng là đạo tào khương,

Chi bằng tới đó tìm phương gởi mình.

Trăm năm muốn trọn ân tình,

Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau.

Chút nhờ cứu tử ơn sâu,

Xin đem tới đó trước sau cho tròn.

Ngư rằng: Làm đạo rể con,

Cũng như sợi chỉ mà lòn trôn kim.

Sợ bay mà mỏi sức chim,

Bơ vơ cảnh lạ khôn tìm cây xưa.

Eó khi chậm bước tới trưa,

Chớ tin sông cũ bến xưa mà lầm.

Mấy ai ở đặng hảo tâm,

Nắng toan giúp nón mưa dầm giúp tơi.

Mấy ai hay nghĩ việc đời,

Nhớ nơi nghèo khổ quên nơi sang giàu.

Đã ba thứ tóc trên đầu,

Gẫm trong sự thế thêm âu cho đời.

Vân Tiên thưa đã hết lời,

Ngư ông chẳng đã tách vời đưa sang.

Dắt Tiên vào chốn hậu đàng,

Võ công xem thấy lòng càng hổ ngươi.

Chẳng qua sợ thế gian cười,

Một lời gượng gạo: Chào người ngày xưa!

Ngư ông đã có công đưa,

Tới ngày sau sẽ lo lừa đền ơn.

Ngư rằng: Tôi chẳng lòng sờn,

Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng.

Nhớ xưa trong núi Lư-san,

Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ Viên.

Tới sau đình trưởng đỗ thuyền,

Giúp người Hạng Võ qua miền Ô-giang.

Xưa còn thương kẻ mắc nàn,

Huống nay ai nỡ quên đàng ngãi nhân.

Một lời gắng giúp keo sơn,

Ngư ông từ giã lui chơn xuống thuyền.

Võ công khôn ngớt lòng phiền,

Ân tình thế lợi khó tuyền đặng vay.

Dạy Tiên: Ngươi hãy ngồi đây,

Cho ta trở lại sau này liệu toan.

Công rằng: Hỡi mụ Quỳnh Trang,

Dò lòng ái nữ Thể Loan thế nào?

Mặc con toan liệu làm sao,

Vốn không ép vợ lẽ nào ép con.

Loan rằng: Gót đỏ như son,

Xưa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn?

Ai cho sen muống một bồn,

Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê?

Thà không trót chịu một bề,

Nỡ đem mình ngọc dựa kề thất phu.

Dốc lòng chờ đợi danh nhu,

Rể đâu có rể đui mù thể ni.

Đã nghe người nói hội này,

Rằng Vương Tử Trực chiếm rày thủ khoa.

Ta dầu muốn kết sui gia,

Họ Vương họ Võ một nhà mới xinh.

Công rằng: Muốn trọn việc mình,

Phải toan một chước dứt tình mới xong.

Nghe rằng: trong núi Thương-tòng,

Có hang thăm thẳm bịt bùng khôn ra.

Đông-thành ngàn dặm còn xa,

Đem chàng bỏ đó ai mà biết đâu.

Phút vừa trăng đã đứng đầu,

Vân Tiên ngồi trước nhà cầu thở than.

Võ công ra trước dỗ chàng:

Xuống thuyền rồi sẽ đưa sang Đông-thành.

Ra đi đương lúc tam canh,

Dắt vào hang tối bỏ đành Vân Tiên.

Bỏ rồi rón rén bước liền,

Xuống gay chèo quế dời thuyền tách xa.

Tiên rằng: Các chú đưa ta,

Xin đưa cho tới quê nhà sẽ hay.

Ghi lòng dốc trọn thảo ngay,

Một phen mà khỏi ngàn ngày chẳng quên.

Lặng nghe vẳng tiếng hai bên,

Trong hang tăm tối đá trên chập chồng.

Vân Tiên khi ấy hãi hùng,

Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.

Nực cười con tạo trớ trinh,

Chữ duyên tráo chác chữ tình lãng xao.

Ngẫm mình tai nạn biết bao,

Mới lên khỏi biển lại vào trong hang.

Dây sầu ai khéo vương mang,

Tránh nơi lưới thỏ gặp đàng bẫy cheo.

Trong hang sau trước quạnh hiu,

Muốn ra cho khỏi ai dìu dắt đi.

Oan gia nợ đã khéo gây,

Ôi thôi thân thể còn gì mà toan.

Đã đành xa cõi nhân gian,

Dựa mình vào chốn thạch bàn nằm co.

Đêm khuya ngọn gió thổi lò,

Sương sa lác đác mưa tro lạnh lùng.

Năm ngày chịu đói khát ròng,

Nhờ ba huờn thuốc đỡ lòng hôm mai.

Du thần xem thấy ai hoài,

Xét trong mình gã có bài phù tiên.

Mới hay là Lục Vân Tiên.

Cùng nhau dìu dắt đều liền đem ra.

Khỏi hang một dặm vừa xa,

Đến nơi đại lộ trời đà hừng đông.

Du thần trở lại sơn trung,

Vân Tiên còn hãy giấc nồng mê man.

Lão tiều cơm gói sẵn sàng,

Sớm mai xách búa đi ngang vào rừng.

Tới đường đại lộ là chừng,

Xảy nghe có tiếng trong rừng thở than.

Hay là yêu quái tà gian,

Rung cây nhát lão làm đuờng hại nhân.

Lão tiều liền bước lại gần,

Thiệt là một gã văn nhân mắc nàn.

Chi bằng lên tiếng hỏi han:

Nhân sao mắc việc tai nàn thế nay?

Vân Tiên nghe tiếng mừng thay,

Vội vàng gượng dậy trình bày trước sau.

Lão tiều nghe nói giờ lâu,

Gẫm trong thế sự gật đầu thở than:

Ít người trong tuyết đưa than,

Khó ngồi giữa chợ ai màng đoái thương.

Vân Tiên nghe nói mới tường,

Cũng trang ẩn dật biết đường thảo ngay:

Ngửa trông lượng cả cao dày,

Cứu trong một buổi ơn tày tái sinh.

Mai sau về tới Đông-thành,

Đền ơn cứu khổ mới đành dạ tôi.

Lão tiều mới nói: Thôi thôi,

Làm ơn mà lại trông người sao hay?

Già hay thương kẻ thảo ngay,

Này thôi để lão dắt ngay về nhà.

Tiên rằng. Trong dạ xót xa,

Nay đà sáu bữa không hòa mùi chi.

Lại thêm rũ liệt tứ chi,

Muốn đi theo đó mà đi khôn rồi.

Lão tiều vội ngửa áo tơi,

Mở cơm trong gói miệng mời Vân Tiên:

Gắng mà ăn uống cho yên,

Lão ra sức lão cõng Tiên về nhà.

Khỏi rừng ra tới ngã ba,

May đâu gặp một chàng là Hớn Minh.

Lão tiều lật đật bôn trình,

Hớn Minh theo hỏi sự tình một khi.

Vân Tiên nghe tiếng cố tri,

Vội mừng bạn cũ còn nghi nỗi mình.

Minh rằng: Dám hỏi nhân huynh,

Cớ sao nên nỗi thân hình thể ni?

Tiên ràng: Chẳng xiết nói chi,

Thân này nào có khác gì cây trôi.

Linh đinh gió dập sóng dồi,

Rày đây mai đó khôn rồi gian nan.

Minh rằng: Đây khó hỏi han,

Xin vào chùa sẽ luận bàn cùng nhau.

Tiều rằng: Chẳng dám ngồi lâu.

Vào rừng đốn củi bán chầu chợ phiên.

Hớn Minh quỳ gối lạy liền:

Ơn ông cứu đặng Vân Tiên bạn lành.

Này hai lượng bạc trong mình,

Tôi xin báo đáp chút tình cho ông.

Tiều rằng: Vốn lão tình không,

Một mình ngơ ngẩn non tòng hôm mai.

Tấm lòng chẳng muốn của ai,

Lánh nơi danh lợi chông gai cực lòng.

Kìa non nọ nước thong dong,

Trăng thanh gió mát bạn cùng hươu nai.

Công hầu phú quý mặc ai,

Lộc rừng gánh vác hai vai tháng ngày.

Vân Tiên nghe biết người ngay,

Hỏi thăm tên họ phòng ngày đền ơn.

Lão tiều trở lại lâm sơn,

Tiên Minh hai gã đều hoàn am mây.

Tiên rằng: Đã gặp khoa này,

Cớ sao ngọc hữu ở đây làm gì?

Minh rằng: Xưa dốc xuống thi,

Gặp nơi miếu võ đều đi một lần.

Anh thời về trước tỉnh thân.

Tôi thời mang gói sau lần ra kinh.

Đi vừa tới huyện Loan-minh,

Gặp con quan huyện Đặng Sinh là chàng.

Giàu sang ỷ thế nghinh ngang,

Gặp con gái tốt cưỡng gian không nghì.

Tôi bèn nổi giận một khi,

Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò.

Mình làm nỡ để ai lo,

Bó tay chịu trói nộp cho huyện đàng.

Án đày ra quận Sóc-phang,

Tôi bèn vượt ngục lánh đàng đến đây.

Vừa may mà gặp chùa này,

Mai danh ẩn tích bấy chầy náu nương.

Vân Tiên nghe nói thảm thương,

Lại bày một khúc tai ương phận mình.

Minh nghe Tiên nói động tình,

Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng.

Tiên rằng: Thương cội xuân huyên,

Tuổi cao tác lớn chịu phiền lao đao.

Trông con như hạn trông dào,

Mình này trôi nổi phương nào biết đâu.

Vầng mây giăng bạc trên đầu,

Ba năm chưa trọn một câu sinh thành.

Hữu tam bất hiếu đã đành,

Tiểu đồng trước đã vì mình thác oan.

Tưởng thôi như cắt ruột gan,

Quặn đau chín khúc chứa chan mấy lần.

Minh rằng: Người ở trong trần,

Có khi phú quí có lần gian nan.

Thấp cao vàng biết tuổi vàng,

Gặp khi lửa đỏ màu càng thêm xuê.

Thôi thôi anh chớ vội về,

Ở đây nương náu toan bề thuốc thang.

Bao giờ hết lúc tai nàn,

Đem nhau ta sẽ lập đàng công danh.

Cam La sớm gặp cũng xinh,

Muộn mà Khương tử cũng vinh một đời.

Nên hư có số ở trời,

Bôn chôn sao khỏi đổi dời sao xong.

Vân Tiên khi ấy an lòng,

Ở nơi am tự bạn cùng Hớn Minh.

Võ công làm việc trớ trinh,

Dứt tình họ Lục mến tình họ Vương.

Kể từ định chước hại chàng,

Thể Loan hớn hở lòng càng thêm vui.

Ngày ngày trang điểm phấn dồi,

Phòng khi gặp gỡ đứng ngồi cho xuê.

Xảy đâu Tử Trực vừa về,

Vào nhà họ Võ thăm bề Vân Tiên.

Công rằng: Chớ hỏi thêm phiền,

Chàng đà lâm bịnh huỳnh tuyền xa chơi.

Thương chàng phận bạc trong đời,

Cũng vì Nguyệt lão xe lơi mối hồng.

Nghe qua Tử Trực chạnh lòng,

Hai hàng nước mắt ròng ròng như mưa.

Than rằng: Chạnh nhớ linh xưa,

Nghĩa đà kết nghĩa tình chưa phỉ tình.

Trời sao nỡ phụ tài lành,

Bảng vàng chưa thấy ngày xanh đã mòn.

Cùng nhau chưa đặng vuông tròn.

Người đà sớm thác ta còn làm chi?

Trong đời mấy bực cố tri,

Mấy trang đồng đạo mấy người đồng tâm?.

Công rằng: Ta cũng thương thầm,

Tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang.

Thôi thôi khuyên chớ thở than,

Đây đà tính đặng một đàng rất hay.

Tới đây thời ở lại đây,

Cùng con gái lão sum vầy thất gia.

Phòng khi hôm sớm vào ra,

Thấy Vương Tử Trực cũng là thấy Tiên.

Trực rằng: Ngòi bút dĩa nghiên,

Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau.

Vợ Tiên là Trực chị dâu,

Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì.

Chẳng hay người học sách chi,

Nói sao những tiếng dị kì khó nghe?

Hay là học thói nước Tề,

Vợ người tử Củ đưa về Hoàn công.

Hay là học thói Đường cung,

Vợ người Tiều Lạc sánh cùng Thế Dân?

Người nay nào phải nhà Tần,

Bất Vi gả vợ Dị Nhân lấy lầm.

Nói sao chẳng biết hổ thầm,

Người ta há phải là cầm thú sao?

Võ công hổ thẹn xiết bao,

Ngồi trân khôn cãi lẽ nào cho qua.

Thể Loan trong cửa bước ra,

Miệng chào: Thầy cử tân khoa mới về.

Thiếp đà chẳng trọn lời thề,

Lỡ bề sửa trắp lỡ bề nưng khăn.

Tiếc thay dạ thỏ nằng nằng,

Đêm thu chờ đợi bóng trăng bấy chầy.

Chẳng ưng thời cũng làm khuây,

Nỡ buông lời nói chẳng vì chẳng kiêng?.

Trực rằng: Ái Lữ Phụng-tiên,

Phòng toan đem thói Điêu Thuyền trêu ngươi?

Mồ chồng ngọn cỏ còn tươi,

Lòng nào mà nỡ buông lời nguyệt hoa?

Hổ hang vậy cũng người ta,

So loài cầm thú vậy mà khác chi?

Vân Tiên anh hỡi cố tri,

Suối vàng có biết sự ni chăng là?

Tay lau nước mắt trở ra,

Về nhà sắm sửa tìm qua Đông-thành.

Võ công hổ thẹn trong mình,

Năm ngày nhuốm bịnh thất tình chết oan.

Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang,

Mẹ con đóng cửa cư tang trong nhà.

Chú thích cuối trang[sửa]

1. Thứ đầu: lớp đầu, phần đầu

2. Bình thủy tương phùng: bèo nước gặp nhau, tình cờ mà gặp

3. Bằng hữu chi giao: tình bạn bè

4. Thanh khâm: áo cổ xanh là áo của học trò thời xưa thường bận. Nợ thanh khâm, cũng như nói nợ bút nghiên

5. Hai bảy: mười bốn

6. Hồ Việt nhứt gia: người Hồ (phía Bắc) người Việt (phía Nam) chung một nhà

7. Dồi: trau dồi son phấn

8. Duyên cầm sắt: duyên vợ chồng hòa thuận êm ấm (như tiếng đàn sắt, đàn cầm hòa nhau)

9. Kẻ ở nước Tấn (phía Đông) người ở nước Tần (phía Tây), chỉ sự xa cách mỗi người một ngả

1. Tức giai ngẫu (một đôi tốt đẹp), chỉ vợ chồng tốt đôi

11. Dâu nam giản: người con dâu trung hậu, đảm đang, lấy ý từ Kinh Thi: Hái rau tần từ bờ suối phía Nam, là thơ khen người vợ trẻ đảm đang lo việc nội trợ. Trai đông sàng: chỉ chàng rể tốt

12. Ngãi tế: con rể

13. Đại khoa: là thi đỗ. Tiểu khoa: là cưới vợ

14. Tót đời: hơn đời, hơn hết mọi người

15. Trước: là trúc. Đây ý nói hai người kết bạn thân với nhau là rất tốt, như trúc, mai

16. Bình thủy hữu duyên: bèo nước có duyên

17. Giao kề: sánh ngồi gần kề bên nhau

18. Kì: chỉ người tài giỏi khác thường

19. Bạch Hàm, Như Hoành: hai nhân vật nổi tiếng thơ văn, tài hoa trong truyện Bình Sơn Lãnh Yến

20. Lương đống: rường cột, chỉ người có tài đức lớn giúp nổi việc nước

21. Én hộc: ý nói chim én không sánh được với chim hộc (Trực nói nhún)

22. Thượng trình: lên đường

23. Tiểu nhi: con trẻ, tiếng cha mẹ gọi con. Lê đình: sân có trồng lê

24. Tống tình: tiễn nhau trong tình cảm

2. Liễm dung: nghiêm chỉnh dáng điệu để tỏ ý tôn trọng

26. Phó công: đi thi lập công danh

27. Nôn nao không yên, như mưa, như gió luôn xao động

28. Chim phượng thiêng đậu đúng cây ngô đồng, ví người hiền tài được ở vị trí xứng đáng

29. Cung quế xuyên dương: ví việc thi đỗ, công thành danh đạt

30. Tào khương: tấm cám, vợ chồng lấy nhau từ lúc còn nghèo hèn

31. Nói lòng dạ đổi thay, tham mới bỏ cũ. Đó và đăng là hai dụng cụ đan bằng tre để bắt cá

32. May thì gặp duyên, rủi thì gặp nợ, lẽ đó bày ra rành rành

33. Để được làm quan to, Ngô Khởi đã giết vợ. Chu Mãi Thần vì nghèo nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú

34. Sông đẹp núi lạ, nói cảnh đẹp

3. Gặp thời, thỏa lòng đua sức đua tài

36. Tình hoài: tâm tình cảm xúc ở trong lòng

37. Cửa Võ: mỏm núi đá hình cái cửa có sóng dữ, tục truyền hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép khắp nơi kéo về vượt Vũ môn, con nào nhảy qua được thì hóa rồng. Nhân đó, cửa Vũ chỉ trường thi, và thi đỗ gọi là vượt qua Vũ môn

38. Trực nói phen này mặc sức vẫy vùng

39. Vân Tiên e ngại lần này không theo kịp chúng bạn

4. Kinh địa: đất kinh đô

41. Tác chừng: tuổi tác chừng vào khoảng

42. Cho bề: cho nhiều, như nói bề bộn, bề bề

43. Ướp ngâu: ướp hoa ngâu vàng rất thơm

44. Trà ve: chè đựng trong chai, lọ nhỏ. Điểm tuyết: lấm tấm màu tuyết, nói trà ngon Cúc hương: hương hoa cúc

4. Bĩ bàng: đầy đủ, tươm tất

46. Viết tùng cổ thi: viết dựa dẫm theo thơ cũ có sẵn

47. Bất tài đồ thơ: không có tài năng về sách vở, tức là nói người học tồi, sức học kém cỏi

48. Tôn Tẫn là bạn học binh pháp với Bàng Quyên, sau bị Quyên hại, chặt hai chân, để ghìm tài. Thầy học Quỷ Cốc Tử đã bảo trước cho Tôn Tẫn nhưng ông không đề phòng (không lừa, không lực chọn)

49. Tuyền: trọn đủ cả. Ý cả câu: ông có thông thuộc cả kinh sử hay không?

50. Hay ghét hay thương: biết ghét và ghét thương

51. Tầm phào: vu vơ, hão huyền

52. Kiệt Trụ: vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương, cả hai đều bạo ngược, vô đạo, hoang dâm

53. U Lệ: U Vương và Lệ Vương thời nhà Chu làm nhiều việc bạo ngược, vô đạo. Đa đoan: lắm chuyện rắc rối

54. Ngũ bá: cuối đời nhà Chu, năm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm chủ một thời, nhân dân phải lầm than điêu đứng. Phân vân: lộn xộn bối rối như cảnh loạn

55. Đời thúc quí: đời suy loạn sắp bị diệt vong. Phân băng: chia lìa

56. Sơm đầu tối đánh: sớm đầu hàng, tối lại đánh

57. Thánh nhân: chỉ Khổng Tử, không được dùng, từng đi khắp các nước Tống, Vệ, Trần, Khuông tìm cách hành đạo của mình mà không được. Về sau ông trở về nước Lỗ mở trường dạy học

58. Nhan tử: tức Nhan Uyên, học trò giỏi của Khổng Tử

59. Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, giúp Lưu Bị đánh bại Tào Tháo, dựng nước ở đất Thục, hết sức lo việc trung hưng nhà Hán, nhưng không thành

60. Đổng Tử: tức Đổng Trọng Thư, danh nho đời Hán

61. Nguyên Lượng: tức Đào Tiềm đời Tấn, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn

62. Hàn Dũ: đời Đường, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ làm quan ở triều. Vua mê tín đạo Phật, rước xương Phật vào cung, ông dâng sớ cực lực ngăn cản. Vì thế ông bị đổi ra làm quan ở đất Triều Châu

63. Liêm, Lạc: chỉ Chu Đôn Di ở Liêm Khê và hai anh em họ Trình ở Lạc Dương. Cả ba đều là những nhà triết học đời Tống, có ra làm quan nhưng không được đắc dụng, lại trở về dạy học

64. Nói nhân tài ở chỗ nghèo hèn

65. Kinh luân: tài sắp đặt tổ chức việc nước

66. Nghiêu Thuấn: hai vua truyền thuyết được nhà nho coi là mẫu mực, đã theo được đạo trời mà trị dân

67. Sào Phủ Hứa Do: hai ẩn sĩ nổi tiếng đời Nghiêu

68. Bá Di và Thúc Tề, hai người lấy việc nước mất làm xấu hổ, bỏ lên núi Thú Dương hái rau vi mà ăn, không chịu ăn thóc nhà Chu. Chăng khứng: không chịu

69. Ai hầu chi ai: không ai chịu hầu hạ, phục dịch cho ai cả

70. Hai đại công thần nhà Thương

71. Thái công: Khương Tử Nha, già hơn 7 tuổi vẫn ngồi câu cá ở bờ sông Vị. Chu Văn Vương nhân đi săn gặp ông, bèn đón ông về kinh, tôn làm thầy. Ông giúp Văn Vương và con là Vũ Vương dựng nghiệp nhà Chu

72. Nghiêm Lăng: ẩn sĩ đời vua Quang Vũ

73. Cày mây câu nguyệt: cày trong mây, câu dưới trăng là nói cảnh thanh tao ẩn dật. Áo cầu: áo cừu, áo may bằng da thú. Nghiêm Lăng ngồi lâu năm áo cừu đã rách nát

74. Trần Đoàn: học rộng, tinh thông Kinh Dịch, ẩn ở núi Vũ Dương, tu luyện đạo tiên

75. Túi thơ ngâm phong vịnh nguyệt, coi công danh phú quý như giấc chiêm bao

76. Bảy người đời Tấn, tính tình phóng đạt, thường họp nhau vui chơi nơi rừng Trúc (Trúc Lâm thất hiền)

77. Rừng nhu biển thánh: đạo Nho dày như rừng, rộng như biển

78. Khai phong: mở phong thư. Sự cơ: sự tình, nông nỗi

79. Qui lai: trở về, quay về (vì mẹ chết)

80. Sách Văn công: sách quy định nghi lễ về tang ma cưới xin

81. Chín chữ cù lao: công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con

82. Nhũ bộ: bú sữa, mớm cơm

83. Thiên hương: hương trời, đây dùng chỉ tài năng lỗi lạc của Vân Tiên

84. Bạn tác: bạn cùng tuổi, cùng lứa

85. Lòng còn lo ngại về đường xa nỗi gần chưa biết rồi sẽ ra sao

86. Tị trần: tránh bụi, xa lánh cuộc đời loạn lạc mà đi ở ẩn

87. Quày quã: vội quay phắt ngay đi

88. Dưỡng dục: nuôi nấng, dạy dỗ. Sinh thành: sinh ra và gây dựng nên người

89. Vân Tiên thấy mắt bỗng tối mù

90. Hỏi phăn: hỏi lần cho ra manh mối

91. Đầu thang: bốc thuốc

92. Y học, Thọ thế, Đông y là các bộ sách y học cổ truyền

93. Ngân hải tinh vi: sách thuốc về cách chữa mắt

94. Cang mục: sách nói về tính chất các vị thuốc. Thanh nang: chỉ sách chép các phương thuốc chưa hề truyền cho ai

95. Sách tập hợp các phương thuốc hay đã được dùng

96. Ngự Toản, Hồi xuân: các sách thuốc cổ

97. Quân thần: vị chính vị phụ trong một thang thuốc đông y

98. Nỏ nan: nói thuốc sao khô cẩn thận

99. Lư san: bài phú dạy phép xem mạch

100. Lục quân, Tứ vật: tên hai thang thuốc căn bản chữa khí, huyết

101. Thập toàn, Bát vị: hai bài thuốc bổ chữa bệnh tạng phủ suy

102. Bát trận tân phương: sách thuốc do danh y Trương Giới Tân đời Minh soạn

103. Khi bị cảm thường uống thang Ngũ sài

104. Lục bộ: sáu bộ mạch

105. Phù hồng: mạch nổi

106. Kinh lạc: các đường truyền dẫn khí huyết trong thân người

107. Mạng môn: huyệt ở giữa hai quả thận. Tướng hỏa: dương khí (thận hỏa)

108. Cơ thể tích nhiệt đã lâu, cần hạ nhiệt (giáng hỏa). Tư âm: làm vượng âm lên

109. Huỳnh liên, huỳnh bá, huỳnh cầm: ba vị thuốc chữa nóng

Phải thêm gấp bội ba vị này vào, thì nóng ở tim mới bình thường trở lại

Vạn linh: thuốc chữa mắt đau

Hoàn tình: thuốc uống cho mắt thêm sáng ra

Đòi cuộc đòi đàn: đòi người bệnh phải đặt tiền cược trước

Tiên sư: đây nói tiên sư nghề làm thuốc

Khi đi đường, Vân Tiên có làm điều gì phạm đến quỷ thần nên bị quỷ thần phạt

Cầu: cầu xin giúp

Châu Diệc: Kinh Dịch đời Chu. Sách có 64 quẻ,  hào. Thời xưa sách dùng vào việc bói toán

Huỳnh kim, Dã hạc: hai sách nói về thuật bói toán

Lục nhâm, Lục giáp: hai môn thuật số bói toán

Can, chi: trong khoa lý số

Chiêm: bói. Lộ trình: nói việc đi đường

Mai rùa, cỏ thi là hai thứ dùng để bói

Giao, sách, trùng: cách bói dùng ba đồng tiền gieo sáu lần xuống đĩa

Trang: trang quẻ. Lục xung: sáu hào trong quẻ xung khắc nhau

Quẻ du hồn: quẻ nói việc hồn đi chơi vơ vẩn, ứng vào việc Vân Tiên bị long đong nơi đường xa đất khách

Đời Vân Tiên bị xáo động, công danh trắc trở

Ấn: phù phép trừ tà của thầy pháp

Phù chú: lá bùa và câu thần chú

Hồ linh: bầu thiêng, có thể thu chứa cả trời đất

Sái đậu thành binh: rảy hạt đậu mà hóa thành binh lính

Đạo hỏa: giẫm lên lửa. Phó thang: dấn mình vào nước sôi

Mở đàng thiên hoang: mở đường trời đất

Hề: hề đồng

Bàn Cổ: ông tổ của trời đất, vạn vật. Tọa tiền chứng miêng: trước bàn thờ chứng minh cho

Tôn Ngộ Không

Võ hậu: tên một vị thần thường đi lại trên đại dương

Vị tướng đời Đường

Bà tiên cai quản tiên nữ

Công chúa Ngũ Long: năm công chúa của Long vương

Bình nam ngũ hổ: năm tướng dũng mãnh đánh chiếm phương Nam. An dinh: đóng yên doanh trại

Chỉ chung các vị thần ở trên trời, dưới âm phủ, và trong lòng sông ở Động Đình và Xích Lân

Tráo chác: lừa dối, trở mặt

Thon von: cô đơn sa sút gian nguy

Khuyên giáo: đi xin của bố thi

Cầu bắc qua rạch Lá Buôn (Biên Hòa)

Hai rằm: hai ngày rằm, tức hai tháng

Đất sụt trời sập, chỉ tai biến lớn

Sơn quân: vua núi, chỉ con hổ

Ràng ràng: rành rành

Người tang: người bận áo tang

Quảy đơm: cúng lễ

Cô bồng: con thuyền lẻ loi

Sao mọc nhiều không theo hàng lối nào

Vời: khoảng nước rộng, lòng sông

Phôi pha: qua quýt cho xong chuyện

Hối: giục. Vầy lửa: nhóm lửa

Hẩm hút chỉ thứ gạo xấu, thức ăn người nghèo

Trái mùi: trái chín nục

Doi: dải đất ở cửa sông hay dọc sông

Chích, đầm: ao hồ

Cứu tử: cứu cho khỏi chết

Chẳng đã: cực chẳng đã

Ngũ Viên (Ngũ Tử Tư) một lần bị đuổi rất nguy, may được ông chài đưa thoát qua sông

Hạng Vũ lúc bị mấy ngàn kị binh Hán đuổi gấp tới sông Ô giang có ông đình trưởng mời qua sông (nhưng Hạng Vũ từ chối, ở lại quyết chiến và tự sát

Phồn: giống, thứ hạng

Nhà cầu: nhà phụ làm lối đi thông nối hai nhà chính

Gay: vặn quai chèo chặt cọc chèo

Trớ trinh: trớ trêu

Cheo: loài nai xạ hương

Thổi lò: thổi lùa mạnh vào một nơi. Mưa tro: mưa bụi, mưa phùn

Du thần: thần đi xem xét chốn dân gian

Trong tuyết đưa than: gặp trời giá tuyết đưa giúp người than sưởi

Không hòa mùi chi: không ăn uống gì

Bôn trình: lên đường

Nhân huynh: người anh tốt

Hoàn: trở về. Am mây: chùa nhỏ hẻo lánh

Tỉnh thân: thăm nom cha mẹ

Cưỡng bức phụ nữ, bất chấp đạo nghĩa

Xuân huyên: cha mẹ

Để tang ba năm cũng chưa đủ để báo đáp công sinh thành của cha mẹ

Hữu tam bất hiếu: ba điều bất hiếu

Cam La: mưu sĩ thời Chiến Quốc

Khương Tử Nha

Bôn chôn: nôn vội

Lừa dối

Huỳnh tuyền: suối vàng

Sắt cầm: tình duyên

Thất gia: chỉ vợ chồng

Nhắc lại chuyện làm thơ tỏ tình gắn bó

Hoàn Công sai người nói với vua Lỗ giết Tử Củ, chiếm vợ của em

Đường cung: cung vua Đường

Bất Vi kén trong số vợ mình, một người tuyệt đẹp đã có mang, dâng cho Tử Sở làm vợ. Thái tử Sở lên làm vua, tức Trang Tương vương. Ba năm sau chết, con Sở (thực chất là con Bất Vi) lên ngôi Tần vương (Tần Thủy Hoàng)

Tục truyền thơ trông bóng trăng mà chửa. Nằng nằng: quyết một bề không đổi

Điêu Thuyền dùng mĩ nhân kế quyến rũ Lã Bố và Đổng Trác, khiến Bố giết Trác

Có điều trái với ý mình mà đâm ra uất ức phiền muộn

Đoạn này đến thứ Nguyệt Nga,

Hà-khê phủ ấy theo cha học hành.

Kiều công lên chức thái khanh,

Chỉ sai ra huyện Đông-thành chăn dân.

Ra tờ khắp hết xa gần,

Hỏi thăm họ Lục tìm lần đến nơi.

Khiến quân đem bức thư mời,

Lục ông vưng lịnh tới nơi dinh tiền.

Kiều công hỏi chuyện Vân Tiên,

Lục ông thấy hỏi bỗng liền khóc than.

Thưa rằng: Nghe tiếng đồn vang,

Con tôi nhuốm bịnh giữa đàng bỏ thây.

Biệt tin từ ấy nhẫn nay,

Phút nghe người hỏi dạ này xốn xang!

Kiều công trong dạ bàng hoàng,

Trở vào nói lại với nàng Nguyệt Nga:

Lục ông nói lại cùng cha.

Duyên con rày đã trôi hoa giạt bèo.

Riêng than chút phận tơ điều,

Hán-giang chưa gặp Ô-kiều lại rơi.

Nàng rằng: Phải thiệt như lời,

Xin cha sai kẻ mời người vào trong.

Nguyệt Nga đứng dựa bên phòng,

Tay ôm bức tượng khóc ròng như mưa.

Công rằng: Nào bức tượng xưa,

Nguyệt Nga con khá đem đưa người nhìn.

Lục ông một buổi ngồi nhìn,

Tay chơn mặt mũi giống in con mình.

Chuyện trò sau trước phân minh,

Lục ông khi ấy sự tình mới hay:

Thương con phận bạc lắm thay,

Nguyền xưa còn đó con rày đi đâu?

Nguyệt Nga chi xiết nỗi sầu,

Lục ông thấy vậy thêm đau gan vàng.

Kiếm lời khuyên giải với nàng:

Giải cơn phiền não kẻo mang lấy sầu.

Người đời như bóng phù du,

Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.

Cũng chưa đồng tịch đồng sàng,

Cũng chưa nên nghĩa tào khang đâu mà!

Cũng như cửa sổ ngựa qua,

Nghĩ nào mà ủ mặt hoa cho phiền.

Còn tiếp phần 3 >>


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.184
  • 327
  • 3.702
  • 927
  • 988.362
  • 231.673