Thần tiên Việt Nam

Lục Vân Tiên 陆云仙 Kiều Nguyệt Nga phần 1 – Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Đạo Giáo Thần Tiên 神仙越南道教

Lục Vân Tiên 陆云仙

Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷沼; 1822-1888)

Bản Quốc Ngữ 2082 Câu

 Tan_Chuduan.jpg

 

Sun_Buer.jpg

Trước đèn xem truyện Tây minh,

Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước lành dè thân sau.

Trai thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.

Có người ở quận Đông-thành,

Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền.

Đặt tên là Lục Vân Tiên,

Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành.

Theo thầy nấu sử xôi kinh,

Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao.

Văn đà khởi phụng đằng giao,

Võ thêm ba lược sáu thao ai bì.

Xảy nghe mở hội khoa thi,

Vân Tiên vào tạ tôn sư xin về:

Bấy lâu cửa thánh dựa kề,

Đã tươi khí tượng lại xuê tinh thần.

Nay đà gặp hội long vân,

Ai ai mà chẳng lập thân buổi này.

Chí lăm bắn nhạn ven mây,

Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa.

Làm trai trong cõi người ta,

Trước là báo bổ sau là hiển vang.

Tôn sư khi ấy luận bàn:

Gẫm trong số hệ khoa tràng còn xa.

Máy trời chẳng dám nói ra,

Xui thầy thương tớ xót xa trong lòng.

Sau dầu tỏ nỗi đục trong,

Phải toan một phép để phòng hộ thân.

Rày con xuống chốn phong trần,

Thầy cho hai đạo phù thần đem theo.

Chẳng may mà gặp lúc nghèo,

Xuống sông cũng vững lên đèo cũng an.

Tôn sư trở lại hậu đàng,

Vân Tiên ngơ ngẩn lòng càng sinh nghi:

Chẳng hay mình mắc việc chi,

Tôn sư người dạy khoa kì còn xa?

Hay là bối rối việc nhà,

Hay là đức bạc hay là tài sơ?

Bấy lâu lòng những ước mơ,

Hội này chẳng gặp còn chờ hội nao.

Nên hư chẳng biết làm sao,

Chi bằng hỏi lại lẽ nào cho minh.

Đặng cho rõ nỗi sự tình,

Ngõ sau ngàn dặm đăng trình mới an.

Tôn sư ngồi hãy thở than,

Ngó ra trước án thấy chàng trở vô.

Hỏi rằng: Vạn lý trường đồ,

Sao chưa cất gánh trở vô việc gì?

Hay là con hãy hồ nghi,

Thầy bàn một việc khoa kì ban trưa?

Vân Tiên nghe nói liền thưa:

Tiểu sinh chưa biết nắng mưa buổi nào.

Song đường tuổi hạc đã cao,

Xin thầy nói lại âm hao con tường.

Tôn sư nghe nói thêm thương,

Dắt tay ra chốn tiền đường coi trăng.

Nhân cơ tàng sự dặn rằng:

Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.

Tuy là soi khắp mọi nơi,

Khi mờ khi tỏ khi vơi khi đầy.

Sau con cũng rõ lẽ này,

Lựa là con phải hỏi thầy làm chi?

Số con hai chữ khoa kì,

Khôi tinh đã rạng Tử-vi thêm lòa.

Hiềm vì ngựa chạy đường xa,

Thỏ vừa ló bóng gà đà gáy tan.

Bao giờ cho tới bắc phang,

Gặp chuột ra đàng con mới nên danh.

Sau dầu đặng chữ hiển vinh,

Mấy lời thầy nói tiền trình chẳng sai.

Trong cơ bĩ cực thới lai,

Giữ mình cho vẹn việc ai chớ sờn.

Vân Tiên vội vã tạ ơn,

Trăm năm dốc giữ keo sơn mọi lời.

Ra đi vừa rạng chân trời,

Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.

Tiên rằng: Thiên các nhứt phương,

Thầy đeo đoạn thảm tớ vương mối sầu.

Quản bao thân trẻ dãi dầu,

Mang đai Tử-lộ quảy bầu Nhan Uyên.

Bao giờ cá nước gặp duyên,

Đặng cho con thảo phỉ nguyền tôi ngay.

Kể từ lướt dặm tới nay,

Mỏi mê hầu đã mấy ngày xông sương.

Đoái nhìn phong cảnh thêm thương,

Vơi vơi dặm cũ nẻo đường còn xa.

Chi bằng kiếm chốn lân gia,

Trước là tìm bạn sau là nghỉ chơn.

Việc chi than khóc tưng bừng,

Đều đem nhau chạy vào rừng lên non?

Tiên rằng: Bớ chú cõng con!

Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài?

Dân rằng: Tiểu tử là ai,

Hay là một đảng Sơn-đài theo tao?

Tiên rằng: Cớ sự làm sao,

Xin ngừng vài bước sẽ trao một lời.

Dân nghe tiếng nói khoan thai,

Kêu nhau dừng lại bày lời phân qua:

Nhân rày có đảng lâu la,

Tên rằng Đỗ Dự hiệu là Phong Lai.

Nhóm nhau ở chốn Sơn-đài,

Người đều sợ nó có tài khôn đương.

Bây giờ xuống cướp thôn hương,

Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.

Xóm làng chẳng dám nói chi,

Cảm thương hai gã nữ nhi mắc nàn!

Con ai vóc ngọc mình vàng,

Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng.

E khi mắc đảng hành hung,

Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.

Thôi thôi chẳng dám nói lâu,

Chạy đi cho khỏi kẻo âu tới mình.

Vân Tiên nổi giận lôi đình,

Hỏi thăm: Lũ nó còn đình nơi nao?

Tôi xin ra sức anh hào,

Cứu người cho khỏi lao đao buổi này.

Dân rằng: Lũ nó còn đây,

Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành.

E khi họa hổ bất thành,

Khi không mình lại xô mình xuống hang.

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Kêu rằng: Bớ đảng hung đồ!

Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.

Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:

Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.

Trước gây việc dữ tại mầy,

Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.

Vân Tiên tả đột hữu xông,

Khác nào Triệu tử phá vòng Đương-dang.

Lâu la bốn phía vỡ tan,

Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.

Phong Lai trở chẳng kịp tay,

Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.

Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,

Hỏi: Ai than khóc ở trong xe nầy?

Thưa rằng: Tôi thiệt người ngay,

Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.

Trong xe chật hẹp khôn phô,

Cúi đầu trăm lạy cứu cô tôi cùng.

Vân Tiên nghe nói động lòng,

Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la.

Khoan khoan ngồi đó chớ ra,

Nàng là phận gái ta là phận trai.

Tiểu thơ con gái nhà ai,

Đi đâu nên nỗi mang tai bất kì?

Chẳng hay tên họ là chi,

Khuê môn phận gái việc gì đến đây?

Trước sau chưa hãn dạ này,

Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra?.

Thưa rằng: Tôi Kiều Nguyệt Nga,

Con này tì tất tên là Kim Liên.

Quê nhà ở quận Tây-xuyên,

Cha làm tri phủ ở miền Hà-khê.

Sai quân đem bức thơ về,

Rước tôi qua đó định bề nghi gia.

Làm con đâu dám cãi cha,

Ví dầu ngàn dặm đường xa cũng đành!

Chẳng qua là sự bất bình,

Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.

Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.

Trước xe quân tử tạm ngồi,

Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:

Chút tôi liễu yếu đào thơ,

Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.

Hà-khê qua đó cũng gần,

Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng.

Gặp đây đương lúc giữa đàng,

Của tiền chẳng có bạc vàng cũng không.

Gẫm câu báo đức thù công,

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.

Vân Tiên nghe nói liền cười:

Làm ơn há dễ trông người trả ơn?

Nay đà rõ đặng nguồn cơn,

Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.

Nhớ câu kiến ngãi bất vi.

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

Đó mà biết chữ thỉ chung,

Lựa là đây phải theo cùng làm chi.

Nguyệt Nga biết ý chẳng đi,

Hỏi qua tên họ một khi cho tường.

Thưa rằng: Tiện thiếp đi đường

Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?

Phút nghe lời nói thanh tao,

Vân Tiên há nỡ lòng nào phôi pha:

Đông-thành vốn thiệt quê ta,

Họ là Lục thị tên là Vân Tiên.

Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên,

Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.

Thưa rằng: Nay gặp tri âm,

Xin đưa một vật để cầm làm tin.

Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,

Nguyệt Nga liếc thấy càng thìn nết na:

Vật chi một chút gọi là,

Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.

Của này là của vất vơ,

Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành!.

Vân Tiên khó nỗi làm thinh,

Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây.

Than rằng: Đó khéo trêu đây,

Ơn kia đã mấy của này rất sang.

Đương khi gặp gỡ giữa đàng,

Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.

Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,

Nào ai chịu lấy của ai làm gì.

Thưa rằng: Chút phận nữ nhi,

Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng.

Ai dè những đấng anh hùng,

Thấy trâm thôi lại thẹn cùng cây trâm.

Riêng than: Trâm hỡi là trâm!

Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ?

Đưa trâm chàng đã làm ngơ,

Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ.

Vân Tiên ngó lại rằng ừ:

Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu.

Nguyệt Nga ứng tiếng xin hầu,

Xuống tay liền tả tám câu năm vần.

Thơ rồi này thiếp xin dâng,

Ngửa trông lượng rộng văn nhân thế nào?

Vân Tiên xem thấy ngạt ngào,

Ai dè sức gái tài cao bực này.

Đã mau mà lại thêm hay,

Chẳng phen Tạ nữ cùng tày Từ phi.

Thơ ngâm dũ xuất dũ kì,

Cho hay tài gái kém gì tài trai.

Như vầy ai lại thua ai,

Vân Tiên họa lại một bài trao ra.

Xem thơ biết ý gần xa,

Mai hòa vận điểu, điểu hòa vận mai.

Có câu xúc cảnh hứng hoài,

Đường xa vòi vọi dặm dài vơi vơi.

Ai ai cũng ở trong trời,

Gặp nhau lời đã cạn lời thời thôi.

Vân Tiên từ giã phản hồi,

Nguyệt Nga than thở: Tình ôi là tình!

Nghĩ mình mà ngán cho mình,

Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.

Nặng nề hai chữ uyên ương,

Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.

Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông!

Trăm năm cho vẹn chữ tùng mới an.

Hữu tình chi bấy Ngưu-lang,

Tấm lòng Chức-nữ vì chàng mà nghiêng.

Thôi thôi em hỡi Kim Liên!

Đẩy xe cho chị qua miền Hà-khê.

Trải qua dấu thỏ đường dê,

Chim kêu vượn hú tứ bề nước non.

Vái trời cho đặng vuông tròn,

Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.

Phút đâu đã tới phủ đàng,

Kiều công xem thấy lòng càng sinh nghi.

Hỏi rằng: Nào trẻ tùy nhi,

Cớ sao nên nỗi con đi một mình?

Nguyệt Nga thưa việc tiền trình,

Kiều công tưởng nỗi sự tình chẳng vui.

Nguyệt Nga dạ hãy ngùi ngùi,

Nghĩ mình thôi lại sụt sùi đòi cơn:

Lao đao phận trẻ chi sờn,

No nao trả đặng công ơn cho chàng.

Kiều công nghe nói liền can,

Dạy rằng: Con hãy nghỉ an mình vàng.

Khi nào cha rảnh việc quan,

Cho quân qua đó mời chàng đến đây.

Sao sao chẳng kíp thời chầy,

Cha nguyền trả đặng ơn nầy thời thôi.

Hậu đường con hãy tạm lui,

Làm khuây dạ trẻ cho vui lòng già.

Tây lầu trống điểm sang ba,

Nguyệt Nga còn hãy xót xa phận mình.

Dời chơn ra chốn hoa đình,

Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhân.

Than rằng: Lưu thủy cao sơn,

Ngày nào nghe đặng tiếng đờn tri âm.

Chữ tình càng tưởng càng thâm,

Muốn pha khó lợt muốn dầm khôn phai.

Vơi vơi đất rộng trời dài,

Hỡi ai nỡ để cho ai đeo phiền.

Trở vào bèn lấy bút nghiên,

Đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh.

Làu làu một tấm lòng thành,

Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên.

Than rằng: Ngàn dặm sơn xuyên,

Chữ ân để dạ chữ duyên nhuốm sầu.

Chú thích cuối trang[sửa]

1. Bài văn tự răn nổi tiếng bàn về đạo hiếu và đạo nhân, do Trương Tái làm

2. Hai tám: 16 tuổi

3. Sân Trình: chỉ Trình Chiêu và Trình Di, hai nhà Nho nổi tiếng đời Tống

4. Văn đã như phượng trỗi dậy, rồng bay cao, tức văn đã thành tài

5. Ý nói quyết thi đỗ

6. Danh tôi: danh của kẻ tôi tớ (Vân Tiên nói nhún)

7. Báo đáp công ơn cha mẹ và thầy

8. Máy trời: thiên cơ (cơ trời huyền bí)

9. Phù thần: bùa hộ mệnh

10. Hiểm nghèo

11. Song đường: xuân đường, huyên đường (cha mẹ). Tuổi hạc: tuổi thọ

12. Âm hao: tin tức

13. Nhân cơ trời đang chứa nhiều bí ẩn (do xem trăng sao mà biết)

14. Sao Thiên Khôi (sao văn học, thi cử) và sao Tử Vi (thân mệnh) đều sáng rỡ

15. Nhưng gặp năm xung nên chưa thuận (mão xung dậu)

16. Tiền trình: con đường phía trước

17. Mỗi người một phương trời

18. Tử Lộ, Nhan Uyên: hai học trò giỏi của Khổng Tử, thuở nhỏ rất nghèo, Tử Lộ chỉ có một dây đai, Nhan Uyên chỉ có một bầu nước

19. Tôi ngay: bề tôi trung thành của vua

20. Đảng sơn đài: đảng cướp núi

21. Dung nhan lạnh lùng (tiếng cổ): sắc đẹp tuyệt vời

22. Thục nữ: con gái đức hạnh. Thất phu: đàn ông thô bỉ

23. Âu (ưu): lo

24. Qua: ta. Bậu: ngươi (bạn, anh bạn)

25. Vẽ hổ không thành: mưu đồ thất bại

26. Khi không: không dưng

27. Triệu Tử phá vòng Đương Dương: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại ở Tân Dã phải bỏ chạy. Quân Tháo đuổi theo đến Đương Dương, thì Lưu Bị phải bỏ cả vợ con, cướp đường rút về phía Nam, tướng tá lạc nhau. Triệu Tử Long một mình đánh phá vòng vây trùng điệp của quân Tào, vượt cầu Trường Bản, tìm gặp Lưu Bị

28. Chưa hãn: chưa rõ, chưa biết chắc chắn

29. Báo trả ơn đức, đền đáp công lao

30. Luận ngữ: Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã, nghĩa là: thấy việc nghĩa không làm là người vô dũng

31. Thìn: răn, giữ

32. Của vất vơ: của quấy quá, không mấy giá trị

33. Lây dây: lỡ dở không xuôi bề nào

34. Ngạt ngào: mùi thơm nức, đây ý nói thơ hay lắm

35. Chẳng phen: chẳng bằng, chẳng sánh kịp. Tạ nữ: tức Tạ Đạo Uẩn đời Tấn nổi tiếng thông minh, giỏi thơ văn. Từ phi: tên Huệ, người đời Đường, tám tuổi đã giỏi việc văn thơ

36. Dũ xuất dũ kì: càng đọc càng thấy hay thấy lạ

37. Mai điểu: tranh mai và chim đẹp hài hòa. Đây nói thơ xướng họa, tình ý rất xứng hợp nhau

38. Xúc cảnh hứng hoài: xúc cảm trước cảnh đẹp mà động lòng thơ

39. Vẹn chữ tùng: trọn đạo làm vợ (theo chồng)

40. Ngưu Lang: nhân vật thần thoại, chồng của Chức Nữ

41. Tùy nhi: trẻ theo hầu

42. Tiền trình: việc đi đường vừa rồi

43. Đòi cơn: nhiều cơn

44. No nao: nỏ biết lúc nào, chừng nào

45. Sao sao: dù thế nào

46. Hoa đình: nhà nhỏ ngồi thưởng hoa

47. Thâm: sâu

48. Sơn xuyên: núi sông, nói sự xa xôi cách trở

Truyện nàng sau hãy còn lâu,

Truyện chàng xin nối thứ đầu chép ra.

Vân Tiên từ cách Nguyệt Nga,

Giữa đường lại gặp người ra kinh kì,

Xa xem mặt mũi đen sì,

Mình cao sồ sộ dị kì rất hung.

Nhớ câu bình thủy tương phùng,

Anh hùng lại gặp anh hùng một khi:

Chẳng hay danh tánh là chi,

Một mình mang gói ra đi việc gì?

Đáp rằng: Ta cũng xuống thi,

Hớn Minh tánh tự Ô-mi quê nhà.

Vân Tiên biết lẽ chánh tà,

Hễ người dị tướng ắt là tài cao.

Chữ rằng: Bằng hữu chi giao,

Tình kia đã gặp lẽ nào làm khuây?

Nên rừng há dễ một cây,

Muốn cho có đó cùng đây luôn vần.

Kìa nơi võ miếu hầu gần,

Hai ta vào đó nghỉ chơn một hồi….

Cùng nhau bày họ tên rồi,

Hai chàng từ tạ đều lui ra đường.

Hớn Minh đi trước tựu trường,

Vân Tiên còn hãy hồi hương viếng nhà.

Mừng rằng: Nay thấy con ta,

Cha già hằng tưởng mẹ già luống trông.

Bấy lâu đèn sách gia công,

Con đà nên chữ tang bồng cùng chăng?

Vân Tiên quỳ lạy thưa rằng:

Chẳng hơn người cổ cũng bằng người kim.

Dám xin cha mẹ an tâm,

Cho con trả nợ thanh khâm cho rồi.

Mẹ cha thấy nói thêm vui,

Lại lo non nước xa xôi ngàn trùng.

Cho theo một đứa tiểu đồng,

Thư phong một bức dặn cùng Vân Tiên:

Xưa đà định chữ lương duyên,

Cùng quan hưu trí ở miền Hàn-giang,

Con người là Võ Thể Loan,

Tuổi vừa hai bảy dung nhan mặn mà.

Chữ rằng Hồ Việt nhứt gia,

Con đi qua đó trao qua thơ này.

Con dầu bước đặng thang mây,

Dưới chơn đã sẵn một dây tơ hồng.

Song thân dạy bảo vừa xong,

Vân Tiên cùng gã tiểu đồng dời chơn.

Ra đi tách dặm băng chừng,

Gió nam rày đã đưa xuân qua hè.

Lại xem dặm liễu đường hòe,

Tin ong ngơ ngáo tiếng ve vang dầy.

Vui xem nước nọ non nầy,

Nước xao sóng dợn non vầy đá cao.

Màn trời gấm trải biết bao,

Trên nhành chim nói dưới ao cá cười.

Quận thành nhắm kiểng coi người,

Kiểng xinh như vẽ người tươi như dồi.

Hàn-giang phút đã tới nơi,

Vân Tiên ra mắt một hồi trình thơ.

Võ công lấy đọc bấy giờ,

Mừng duyên cầm sắt mối tơ đặng liền.

Liếc coi tướng mạo Vân Tiên,

Khá khen họ Lục phước hiền sinh con.

Mày tằm mắt phụng môi son,

Mười phân cốt cách vuông tròn mười phân.

Những e kẻ Tấn người Tần,

Nào hay chữ ngẫu đặng gần chữ giai.

Xem đà đẹp đẽ hòa hai,

Này dâu nam giản nọ trai đông sàng.

Công rằng: Ngãi tế mới sang,

Muốn lo việc nước hãy toan việc nhà.

Tiên rằng: Nhờ lượng nhạc gia,

Đại khoa dầu đặng tiểu khoa lo gì.

Công rằng: Con dốc xuống thi,

Sao không kết bạn mà đi tựu trường?

Gần đây có một họ Vương,

Tên là Tử Trực văn chương tót đời.

Cha đà sai trẻ qua mời,

Đặng con cùng gã thử chơi một bài.

Thấp cao cao thấp biết tài,

Vầy sau trước bạn cùng mai mới mầu.

Xảy đâu Tử Trực tới hầu,

Võ Công sẵn đặt một bầu rượu ngon.

Công rằng: Nầy bớ hai con!

Thơ hay làm đặng rượu ngon thưởng liền.

Muốn cho Trực sánh cùng Tiên,

Lấy câu bình thủy hữu duyên làm đề.

Song song hai gã giao kề,

Lục Vương hai họ đua nghề một khi.

Cho hay kì lại gặp kì,

Bạch Hàm há dễ kém chi Như Hoành.

Công rằng: Đơn quế đôi nhành,

Bảng vàng thẻ bạc đã đành danh nêu.

Như chuông chẳng đánh chẳng kêu,

Ngọn đèn tỏ rõ trước khêu bởi mình.

Thiệt trang lương đống đã đành,

Khá khen hai họ tài lành hòa hai.

Trực rằng: Tiên vốn cao tài,

Có đâu én hộc sánh vai một bầy.

Tình cờ mà gặp nhau đây,

Trực rày xin nhượng Tiên này làm anh.

Nay đà nên nghĩa đệ huynh,

Xin về mai sẽ thượng trình cùng nhau.

Phút xem trăng đã đứng đầu,

Vân Tiên vào chốn thơ lầu nghỉ an.

Võ công trở lại hậu đàng,

Đêm khuya dạy dỗ Thể Loan mọi lời:

Ngày mai vừa rạng chơn trời,

Tiểu nhi trang điểm ra nơi lê đình.

Gọi là chút nghĩa tống tình,

Phòng sau cho khỏi bất bình cùng nhau.

Bóng trăng vừa lộ nhành dâu,

Vân Tiên vào tạ giây lâu xuất hành.

Ra đi vừa thuở bình minh,

Thể Loan đứng trước lê đình liễm dung.

Thưa rằng: Quân tử phó công,

Xin thương bồ liễu chữ tùng ngây thơ.

Tấm lòng thương gió nhớ mưa,

Đường xa ngàn dặm xin đưa một lời:

Ngày nay thánh chúa trị đời,

Nguyền cho linh phụng gặp nơi ngô đồng.

Quản bao chút phận má hồng,

Phòng khuya vò võ đợi trông khôn lường.

Chàng dầu cung quế xuyên dương,

Thiếp xin hai chữ tào khương cho bằng.

Xin đừng tham đó bỏ đăng,

Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn.

Tiên rằng: Như lửa mới nhen,

Dễ trong một bếp mà chen mấy lò.

May duyên rủi nợ dễ phô,

Chớ nghi Ngô Khởi hãy lo Mãi Thần.

Thể Loan vội vã lui chơn,

Vân Tiên từ biệt trông chừng Trường-an.

Xa xa vừa mấy dặm đàng,

Gặp Vương Tử Trực vầy đoàn đều đi.

Trải qua thủy tú sơn kì,

Phỉ lòng cá nhảy gặp thì rồng bay.

Người hay lại gặp kiểng hay,

Khác nào tiên tử chơi rày Bồng-lai.

Cùng nhau tả chút tình hoài,

Năm ba chén rượu một vài câu thơ.

Công danh ai chẳng ước mơ,

Ba tầng cửa Võ một giờ nhảy qua.

Cùng nhau bàn bạc gần xa,

Chữ tài chữ mạng xưa hòa ghét nhau.

Trực rằng: Rồng xuống vực sâu,

Mặc dầu giỡn sóng mặc dầu chơi mây.

Tiên rằng: Hồng hộc đều bay,

E khi mỏi cánh lạc bầy về sau.

Mảng còn trò chuyện với nhau,

Trông chừng kinh địa đã hầu tới nơi.

Chênh chênh vừa xế mặt trời,

Hai người tìm quán nghỉ ngơi đợi kì.

Phút đâu gặp bạn cố tri,

Đều bày tên họ một khi mới tường.

Một người ở quận Phan-dương,

Tên Hâm họ Trịnh tầm thường nghề văn.

Một người ở phủ Dương-xuân,

Họ Bùi tên Kiệm tác chừng đôi mươi.

Hai người lại gặp hai người,

Đều vào một quán vui cười ngả nghiêng.

Kiệm rằng: Nghe tiếng anh Tiên,

Nay đã thấy mặt phỉ nguyền ước ao.

Hâm rằng: Chưa biết thấp cao,

Làm thơ mới biết bậc nào tài năng.

Bèn kêu ông quán nói rằng:

Khá toan sắm sửa đồ ăn cho bề.

Quán rằng: Thịt cá ê hề,

Khô lân chả phụng bộn bề thiếu đâu.

Kìa là thuốc lá ướp ngâu,

Trà ve tuyết điểm rượu bầu cúc hương.

Để khi đãi khách giàu sang,

Đãi người văn vật đãi trang anh hùng.

Bĩ bàng trà rượu đã xong,

Bốn người ngồi lại một vòng làm thơ.

Kiệm Hâm còn hãy ngẩn ngơ,

Phút thơ Tiên Trực một giờ đều xong.

Kiệm Hâm xem thấy lạ lùng,

Gẫm nghi Tiên Trực viết tùng cổ thi.

Chẳng hay ông quán cười chi,

Vỗ tay xuống chiếu một khi cười dài.

Tiên rằng: Ông quán cười ai?

Quán rằng: Cười kẻ bất tài đồ thơ,

Cười người Tôn Tẫn không lừa.

Trước đà thấy máy chẳng ngừa Bàng Quyên.

Trực rằng: Lời nói hữu duyên,

Thế trong kinh sử có tuyền cùng chăng?

Quán rằng: Kinh sử đã từng,

Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.

Hỏi thời ta phải nói ra,

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

Tiên rằng: Trong đục chưa tường,

Chẳng hay thương ghét ghét thương lẽ nào?

Quán rằng: Ghét việc tầm phào,

Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.

Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,

Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.

Ghét đời U Lệ đa đoan,

Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.

Ghét đời ngũ bá phân vân,

Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.

Ghét đời thúc quí phân băng,

Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.

Thương là thương đức thánh nhân,

Khi nơi Tống Vệ lúc Trần lúc Khuông.

Thương thầy Nhan tử dở dang,

Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

Thương ông Gia-cát tài lành,

Gặp cơn Hớn mạt đã đành phôi pha.

: Thương thầy Đồng tửcao xa,

Chí thời có chí ngôi mà không ngôi.

Thương người Nguyên-lượng ngùi ngùi,

Lỡ bề giúp nước lại lui về cày.

Thương ông Hàn Dũ chẳng may,

Sớm dưng lời biểu tối đày đi xa.

Thương thầy Liêm Lạc đã ra,

Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.

Xem qua kinh sử mấy lần,

Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương.

Trực rằng: Chùa rách phật vàng,

Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân.

Thương dân sao chẳng lập thân,

Để khi nắng hạ toan phần làm mưa?

Quán rằng: Nghiêu Thuấn thuở xưa,

Khó ngăn Sào Phủ khôn ngừa Hứa Do.

Di Tề chẳng khứng giúp Châu,

Một mình một núi ai hầu chi ai.

Ông Y ông Phó ôm tài,

Kẻ cày người cuốc đoái hoài chi đâu.

Thái công xưa một cần câu,

Hôm mai sông Vị mặc dầu vui chơi.

Nghiêm Lăng đã mấy đua bơi,

Cày mây câu nguyệt tả tơi áo cầu.

Trần Đoàn chẳng chút lo âu,

Gió trăng một túi công hầu chiêm bao.

Người nay có khác xưa nào?

Muốn ra ai cấm muốn vào ai ngăn.

Hâm rằng: Lão quán nói nhăng,

Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm.

Gối rơm theo phận gối rơm,

Có đâu ở thấp mà chồm lên cao.

Quán rằng: Sấm chớp mưa rào,

Ếch ngồi đáy giếng thấy bao lăm trời.

Sông trong cá lội thảnh thơi,

Xem hai con mắt sáng ngời như châu.

Uổng thay đờn gảy tai trâu,

Nước xao đầu vịt gẫm âu nực cười.

Tiên rằng: Ông quán chớ cười,

Đây đà nhớ lại bảy người Trước-lâm.

Cùng nhau kết bạn đồng tâm,

Khi cờ khi rượu khi cầm khi thi.

Công danh phú quí màng chi,

Sao bằng thong thả mặc khi vui lòng.

Rừng nhu biển thánh minh mông,

Dù ai lặn lội cho cùng vậy vay.

Quán rằng: Đó biết ý đây,

Lời kia đã cạn rượu này thưởng cho.

Kiệm Hâm là đứa so đo,

Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng.

Khoa này Tiên ắt đầu công,

Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi.

Mảng còn nghĩ việc tới lui,

Xảy nghe trống đã giục thôi vào trường.

Kẻ thùng người tráp đầy đường,

Lao xao đoàn bảy chàng ràng lũ ba.

Vân Tiên vừa bước chơn ra,

Bỗng đâu xảy gặp tin nhà gởi thơ.

Khai phong mới tỏ sự cơ,

Mình gieo xuống đất dật dờ hồn hoa.

Hai hàng lụy ngọc nhỏ sa,

Trời nam đất bắc xót xa đoạn trường.

Anh em ai nấy đều thương,

Trời ơi há nỡ lấp đường công danh!

Những lăm công toại danh thành,

Nào hay từ mẫu u minh sớm dời.

Gắng vào trong quán an nơi,

Tớ thầy than thở liệu lời qui lai.

Tiểu đồng than vắn than dài,

Trời sao trời nỡ phụ tài người ngay!

Trực rằng: Đã đến nỗi này,

Tiểu đồng bậu hãy làm khuây giải phiền.

Sớm hôm thang thuốc giữ gìn,

Chờ ta vài bữa ra trường sẽ hay,

Bây giờ kíp rước thợ may,

Sắm đồ tang phục nội ngày cho xong.

Dây rơm mũ bạc áo thùng,

Cứ theo trong sách Văn công mà làm.

Tiên rằng: Con bắc mẹ nam,

Nước non vòi vọi đã cam lỗi nghì!

Trong mình không cánh không vi,

Lấy chi lướt dặm lấy chi bớt đàng.

Vào tràng phút lại gặp tang,

Ngẩn ngơ kẻ ở lỡ làng người đi.

Việc trong trời đất biết chi,

Sao dời vật đổi còn gì mà trông!

Hai hàng lụy ngọc ròng ròng,

Tưởng bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.

Cánh buồm bao quản gió xiêu,

Ngàn trùng biển rộng chín chìu ruột đau!

Thương thay chín chữ cù lao.

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

Quán rằng: Trời đất thình lình,

Gió mưa đâu phút gãy nhành thiên hương.

Ai ai trông thấy cũng thương,

Lỡ bề báo hiếu lỡ đường lập thân.

Dầu cho chước quỷ mưu thần,

Phong trần ai cũng phong trần như ai.

Éo le ai khéo đặt bày,

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đường đi hơn tháng chẳng gần,

Khi qua khi lại mấy lần xông pha.

Xảy đâu bạc tác vừa ra,

Trực cùng Hâm Kiệm xúm mà đưa Tiên.

Hâm rằng: Anh chớ ưu phiền,

Khoa này chẳng gặp ta nguyền khoa sau.

Thấy nhau khó nổi giúp nhau,

Một vừng mây bạc dàu dàu khá thương.

Vân Tiên cất gánh lên đường,

Trịnh Hâm ngó lại đôi hàng nhỏ sa.

Đi vừa một dặm xa xa,

Phút nghe ông quán bôn ba theo cùng.

Quán rằng: Thương đấng anh hùng,

Đưa ba hườn thuốc để phòng hộ thân.

Chẳng may gặp lúc gian truân,

Đương khi quá đói thuốc thần cũng no.

Tiên rằng: Cúi đội ơn cho,

Tấm lòng ngài ngại hãy lo xa gần.

Quán rằng: Ta cũng bâng khuâng,

Thấy vầy nên mới tị trần đến đây.

Non xanh nước bích vui vầy,

Khi đêm rượu cúc khi ngày trà lan.

Dấn thân vào chốn an nhàn,

Thoát vòng danh lợi lánh đàng thị phi.

Nói rồi quày quã ra đi,

Vân Tiên xem thấy càng nghi trong lòng.

Trông chừng dặm cũ thẳng xông,

Nghĩ đòi cơn lại não nồng đòi cơn:

Nên hư chút phận chi sờn,

Nhớ câu dưỡng dục lo ơn sinh thành.

Mang câu bất hiếu đã đành,

Nghĩ mình mà thẹn cho mình làm con.

Trọn đời một tấm lòng son,

Chí lăm trả nợ nước non cho rồi.

Nào hay nước chảy hoa trôi,

Nào hay phận bạc như vôi thế này.

Một mình ngơ ngẩn đường mây,

Khác nào chiếc nhạn lạc bầy kêu sương.

Đến nay lâm việc mới tường,

Hèn chi thầy dạy khoa trường còn xa.

Tiểu đồng thấy vậy thưa qua:

Gẫm đây cho đến quê nhà còn lâu.

Thầy sao chẳng ngớt cơn sầu,

Mình đi đã mỏi dòng châu thêm nhuần.

E khi mang bịnh nửa chừng,

Trong non khó liệu giữa rừng khôn toan.

Tiên rằng: Khô héo lá gan,

Ôi thôi con mắt đã mang lấy sầu!

Mịt mù nào thấy chi đâu,

Chơn đi đã mỏi mình đau như dần.

Có thân phải khổ với thân,

Thân ôi thân biết mấy lần chẳng may!

Đồng rằng: Trời đất có hay,

Ra đi vừa đặng mười ngày lại đau.

Một mình nhắm trước nhắm sau,

Xanh xanh bờ cõi dào dào cỏ cây.

Vốn không làng xóm chi đây,

Xin lần tới đó tìm thầy thuốc thang.

Vừa may gặp khách qua đàng,

Người người đều chỉ vào làng Đồng-văn.

Dắt nhau khi ấy hỏi phăn,

Gặp thầy làm thuốc tên rằng Triệu Ngang.

Ngang rằng: Khá tạm nghỉ an,

Rạng ngày coi mạch đầu thang mới đành.

Gặp ta bịnh ấy ắt lành,

Bạc tiền trong gói sẵn dành bao nhiêu?

Đồng rằng: Tiền bạc chẳng nhiều,

Xin thầy nghĩ lượng đặng điều thuốc thang.

May mà bịnh ấy đặng an,

Bạc còn hai lượng trao sang cho thầy.

Ngang rằng: Ta ở chốn nầy,

Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba.

Sách chi cũng đủ trong nhà,

Nội kinh đã sẵn ngoại khoa thêm mầu.

Trước xem Y học làm đầu,

Sau coi Thọ thế thứ cầu Đông y.

Gẫm trong Ngân hải tinh vi,

Cùng là Cang mục thua gì Thanh nang.

Gẫm trong Tập nghiệm lương phang,

Cùng là Ngự Toản trải đàng Hồi xuân.

Vị chi sẵn đặt quân thần,

Thuốc thời bào chế mười phần nỏ nan.

Mạch thời đọc phú Lư-san,

Đặt vào tay bịnh biết đàng tử sinh.

Lục quân Tứ vật thang danh.

Thập toàn Bát vị sẵn dành nội thương.

Lại thông Bát trận tân phương,

Lâm nhằm ngoại cảm đầu thang Ngũ sài.

Đồng rằng: Thầy thiệt có tài,

Xin vào coi mạch luận bài thuốc chi.

Ngang rằng: Lục bộ đều suy,

Bộ quan bên tả mạch đi phù hồng.

Cứ trong Kinh lạc mà thông,

Mạng môn tướng hỏa đã xông lên đầu.

Tam tiêu tích nhiệt đã lâu,

Muốn cho giáng hỏa phải đầu tư âm.

Huỳnh liên huỳnh bá huỳnh cầm,

Gia vào cho bội nhiệt tâm mới bình.

Ngoài thời cho điểm vạn linh,

Trong thời cho uống hoàn tình mới xong.

Khá trao hai lượng bạc ròng,

Bổ thêm vị thuốc để phòng đầu thang.

Chẳng qua làm phúc cho chàng,

Nào ai đòi cuộc đòi đàn chi ai.

Tiểu đồng những ngỡ thiệt tài,

Vội vàng mở gói chẳng nài liền trao.

Mười ngày chẳng bớt chút nào,

Thêm đau trong dạ như bào như xoi.

Đồng rằng: Vào đó thầy coi,

Bịnh thời không giảm thầy đòi tiền thêm.

Ngang rằng: Nằm thấy khi đêm,

Tiên sư mách bảo một điềm chiêm bao.

Quỉ thần người ở trên cao,

E khi đường sá lẽ nào biết đâu?

Tiểu đồng người khá qua cầu,

Cùng ông thầy bói ở đầu Tây-viên.

Tiểu đồng nghe nói đi liền,

Gặp ông thầy bói đặt tiền mà coi.

Bói rằng: Ta bói hẳn hoi,

Bói hay đã dậy người coi đã đầy.

Ta đây nào phải các thầy,

Bá vơ bá vất nói nhây không nhằm.

Ôn nhuần Châu Diệc mấy năm,

Sáu mươi bốn quẻ ba trăm dư hào.

Huỳnh kim Dã hạc sách cao,

Lục nhâm Lục giáp chỗ nào chẳng hay.

Can chi đều ở trong tay,

Đã thông trời đất lại hay việc người.

Đặt tiền quan mốt bốn mươi,

Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành.

Thầy bèn gieo đặng quẻ linh,

Chiêm tên tuổi ấy lộ trình mắc chi?

Ứng vào rùa với cỏ thi,

Rồi thầy coi quẻ một khi mới tường.

Đồng rằng: Người ở đông phương,

Nhân đi buôn bán giữa đường chẳng an.

Con nhà họ Lục là chàng,

Tuổi vừa hai tám còn đàng thơ ngây

Bói rằng: Đinh mão năm may,

Hèn chi Giáp tí ngày rày chẳng an.

Mạng kim lại ở cung càn,

Tuổi này là tuổi giàu sang trong đời.

Cầu tài quẻ ấy xa vời,

Khen người khéo nói những lời trêu ta.

Cầm tiền gieo xuống xem qua,

Một giao hai sách lại ba hào trùng.

Trang thành là quẻ lục xung,

Thấy hào phụ mẫu khắc cùng tử tôn.

Hóa ra làm quẻ du hồn,

Lại thêm thế động khắc dồn hào quan.

Cứ trong quẻ ấy mà bàn:

Tuổi này mới chịu mẫu tang trong mình.

Xui nên phát bịnh thình lình,

Vì chưng ma quỉ lộ trình rất thiêng.

Muốn cho bịnh ấy đặng yên,

Phải tìm thầy pháp chữa chuyên ít ngày.

Đồng rằng: Thầy pháp đâu đây?

Bói rằng: Cũng ở chốn này bước ra,

Phép hay tiếng dậy đồn xa,

Tên là Đạo sĩ ở Trà-hương thôn.

Tiểu đồng mới chạy bôn bôn,

Hỏi thăm Đạo sĩ hương thôn chốn nào.

Chợ đông buôn bán lao xao,

Người ta liền chỉ nơi vào chẳng xa.

Đồng đi một buổi tới nhà,

Đạo sĩ xem thấy lòng mà mừng thay!


Ai đang trực tuyến

  • 3
  • 1.225
  • 297
  • 5.892
  • 928
  • 964.854
  • 226.562