Thần tiên Việt Nam

Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝 Trang cuối – Bắc Đẩu Điện – Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

 

Thần Tiên Việt Nam – Bắc Đẩu Điện 越南神仙

 

Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝 Phần Cuối
 Lý Văn Phức dịchnhi_thap_tu_hieu_pc.jpg

 

Nhị thập tứ hiếu (chữ Hán: 二十四孝) là một tác phẩm kể lại sự tích của 24 tấm gương hiếu thảo do Quách Cư Nghiệp (có sách ghi Quách Cư Kinh 郭居敬, bính âm: Guō Jūjìng) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Ông nổi tiếng là một người con hiếu thảo, và sau khi cha mất ông đã xuất bản quyển này. Hầu hết các người con hiếu thảo là nam giới báo hiếu cho mẹ già. Các câu chuyện được kể lại xảy ra từ thời Thuấn Đế đến đời ông.

二十四孝 越南神仙

 13 扇枕温衾    13 Phiến Chẩm Ôn Khâm

   黄香, 东汉江夏安陆人, 九岁丧母, 事父极孝. 酷夏时为父亲扇凉枕席;寒冬时用身体为父亲温暖被褥. 少年时即博通经典, 文采飞扬, 京师广泛流传天下无双, 江夏黄童. 安帝(107-125年)时任魏郡(今属河北)太守, 魏郡遭受水灾, 黄香尽其所有赈济灾民. 著有《九宫赋》、《天子冠颂》等.

 

 14 拾葚异器    14 Thập dị Khí

   蔡顺, 汉代汝南(今属河南)人, 少年丧父, 事母甚孝. 当时正值王莽之乱, 又遇饥荒, 柴米昂贵, 只得拾桑葚母子充饥. 一天, 巧遇赤眉军, 义军士兵厉声问道:为什么把红色的桑葚和黑色的桑葚分开装在两个篓子里?蔡顺回答说:黑色的桑葚供老母食用, 红色的桑葚留给自己吃. 赤眉军怜悯他的孝心, 送给他三斗白米, 一头牛, 带回去供奉他的母亲, 以示敬意.

 

 15 涌泉跃鲤    15 Dũng Tuyền Dược Lí

   姜诗, 东汉四川广汉人, 娶庞氏为妻. 夫妻孝顺, 其家距长江六七里之遥, 庞氏常到江边取婆婆喜喝的长江水. 婆婆爱吃鱼, 夫妻就常做鱼给她吃, 婆婆不愿意独自吃, 他们又请来邻居老婆婆一起吃. 一次因风大, 庞氏取水晚归, 姜诗怀疑她怠慢母亲, 将她逐出家门. 庞氏寄居在邻居家中, 昼夜辛勤纺纱织布, 将积蓄所得托邻居送回家中孝敬婆婆. 其后, 婆婆知道了庞氏被逐之事, 令姜诗将其请回. 庞氏回家这天, 院中忽然喷涌出泉水, 口味与长江水相同, 每天还有两条鲤鱼跃出. 从此, 庞氏便用这些供奉婆婆, 不必远走江边了.

 

 16 闻雷泣墓    16 Văn Lôi Khấp Mộ

   王裒, 魏晋时期营陵(今山东昌乐东南)人, 博学多能. 父亲王仪被司马昭杀害, 他隐居以教书为业, 终身不面向西坐, 表示永不作晋臣. 其母在世时怕雷, 死后埋葬在山林中. 每当风雨天气, 听到雷声, 他就跑到母亲坟前, 跪拜安慰母亲说:裒儿在这里, 母亲不要害怕. 他教书时, 每当读到《蓼莪》篇, 就常常泪流满面, 思念父母.

 

 17 乳姑不怠    17 Nhũ Cô Bất Đãi

   崔山南, , 唐代博陵(今属河北)人, 官至山南西道节度使, 人称山南. 当年, 崔山南的曾祖母长孙夫人, 年事已高, 牙齿脱落, 祖母唐夫人十分孝顺, 每天盥洗后, 都上堂用自己的乳汁喂养婆婆, 如此数年, 长孙夫人不再吃其他饭食, 身体依然健康. 长孙夫人病重时, 将全家大小召集在一起, 说:我无以报答新妇之恩, 但愿新妇的子孙媳妇也像她孝敬我一样孝敬她. 后来崔山南做了高官, 果然像长孙夫人所嘱, 孝敬祖母唐夫人.

 

 18 卧冰求鲤    18 Ngọa Băng Cầu Lí

   王祥, 琅琊人, 生母早丧, 继母朱氏多次在他父亲面前说他的坏话, 使他失去父爱. 父母患病, 他衣不解带侍候, 继母想吃活鲤鱼, 适值天寒地冻, 他解开衣服卧在冰上, 冰忽然自行融化, 跃出两条鲤鱼. 继母食后, 果然病愈. 王祥隐居二十余年, 后从温县县令做到大司农、司空、太尉.

 

 19 恣蚊饱血    19 Tứ Văn Bão Huyết

   吴猛, 晋朝濮阳人, 八岁时就懂得孝敬父母. 家里贫穷, 没有蚊帐, 蚊虫叮咬使父亲不能安睡. 每到夏夜, 吴猛总是赤身坐在父亲床前, 任蚊虫叮咬而不驱赶, 担心蚊虫离开自己去叮咬父亲.

 

 20 扼虎救父    20 Ách Hổ Cứu Phụ

   杨香, 晋朝人. 十四岁时随父亲到田间割稻, 忽然跑来一只猛虎, 把父亲扑倒叼走, 杨香手无寸铁, 为救父亲, 全然不顾自己的安危, 急忙跳上前, 用尽全身气力扼住猛虎的咽喉. 猛虎终于放下父亲跑掉

 

 21 哭竹生笋21 Khốc Trúc Sinh Duẩn

   孟宗, 三国时江夏人, 少年时父亡, 母亲年老病重, 医生嘱用鲜竹笋做汤. 适值严冬, 没有鲜笋, 孟宗无计可施, 独自一人跑到竹林里, 扶竹哭泣. 少顷, 他忽然听到地裂声, 只见地上长出数茎嫩笋. 孟宗大喜, 采回做汤, 母亲喝了后果然病愈. 后来他官至司空.

 

 22 尝粪忧心    22 Thường Phẩn Ưu Tâm

   庾黔娄, 南齐高士, 任孱陵县令. 赴任不满十天, 忽觉心惊流汗, 预感家中有事, 当即辞官返乡. 回到家中, 知父亲已病重两日. 医生嘱咐说:要知道病情吉凶, 只要尝一尝病人粪便的味道, 味苦就好. 黔娄于是就去尝父亲的粪便, 发现味甜, 内心十分忧虑, 夜里跪拜北斗星, 乞求以身代父去死. 几天后父亲死去, 黔娄安葬了父亲, 并守制三年

 

 23 弃官寻母    23 Khí Quan Tầm Mẫu

   朱寿昌, 宋代天长人, 七岁时, 生母刘氏被嫡母(父亲的正妻)嫉妒, 不得不改嫁他人, 五十年母子音信不通. 神宗时, 朱寿昌在朝做官, 曾经刺血书写《金刚经》, 行四方寻找生母, 得到线索后, 决心弃官到陕西寻找生母, 发誓不见母亲永不返回. 终于在陕州遇到生母和两个弟弟, 母子欢聚, 一起返回, 这时母亲已经七十多岁了.

 

 24 涤亲溺器    24 Địch Thân Nịch Khí

   黄庭坚, 北宋分宁(今江西修水)人, 著名诗人、书法家. 虽身居高位, 侍奉母亲却竭尽孝诚, 每天晚上, 都亲自为母亲洗涤溺器(便桶), 没有一天忘记儿子应尽的职责

 

Ngu Thuấn (虞舜): hiếu cảm động trời

 

  Lưu Hằng (刘恆, tức Hán Văn Đế): người con nếm thuốc

 

  Tăng Sâm (曾参): mẹ cắn ngón tay, tim con đau xót

 

  Mẫn Tổn (闵损): nghe lời mẹ với quần áo đơn giản

 

  Trọng Do (仲由): vác gạo nuôi cha mẹ

 

  Đổng Vĩnh (董永): bán thân chôn cha

 

  Đàm Tử (郯子): cho cha mẹ bú sữa hươu

 

  Giang Cách (江革): làm thuê nuôi mẹ

 

  Lục Tích (陆绩): giấu quýt cho mẹ

 

  Đường phu nhân: (唐夫人) cho mẹ chồng bú sữa

 

  Ngô Mãnh (吳猛): cho muỗi hút máu

 

  Vương Tường (王祥): nằm trên băng chờ cá chép

 

  Quách Cự (郭巨): chôn con cho mẹ

 

  Dương Hương (杨香): giết hổ cứu cha

 

  Châu Thọ Xương (朱寿昌): bỏ chức quan tìm mẹ

 

  Dữu Kiềm Lâu (庾黔娄): nếm phân lo âu

 

  Lão Lai tử (老莱子): đùa giỡn làm vui cha mẹ

 

  Thái Thuận (蔡顺): nhặt dâu cho mẹ

 

  Hoàng Hương (黄香): quạt gối ấm chăn

 

  Khương Thi (姜诗): suối chảy cá nhảy

 

  Vương Bầu (王裒): nghe sấm, khóc mộ

 

  Đinh Lan (丁兰): khắc gỗ thờ cha mẹ

 

  Mạnh Tông (孟宗): khóc đến khi măng mọc

 

  Hoàng Đình Kiên (黄庭坚): rửa sạch cái bô đi tiểu của mẹ

 

Lý Văn Phức tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, người làng hồ khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội, sinh vào năm ất Tỵ (1785). Ông thi đỗ cử nhân vào năm 1819, niên hiệu Gia Long thứ 18. Ông trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức.
Trong cuộc đời làm quan, ông bị nhiều lần thăng giáng, và được cử đi công cán nhiều nước ở Viễn đông. Vào năm 1849, ông bị bệnh mà mất, nhà vua liền cho truy thụ Lễ Bộ Hữu Thị Lang.
– Nhị Thập Tứ Hiếu diễn âm (hai mươi bốn truyện hiếu diễn ra quốc âm.)

Nhị Thập Tứ Hiếu
Người tai mắt đứng trong trời đất,
Ai là không cha mẹ sinh thành,
Gương treo đất nghĩa, trời kinh,
ở sao cho xứng chút tình làm con.
Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên,
Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,
Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu


TRUYỆN THỨ XIII – Lục Tích

9814446_142101651000_2.jpg

 


Người đời Đông Hán, từ lúc mới lên 6 tuổi đã biết hiếu thảo. Một hôm Lục Tích theo cha sang quận Cửu Giang viếng Viên Thuật. Họ Viên làm việc thết đãi, Lục Tích thấy trong tiệc có quít ngon, bèn lấy hai trái bỏ vào túi áo dấu. Đến khi chào Viên Thuật ra về, Vô ý để quít lọt ra ngoài. Viên Thuật nói đùa: Sao lấy quýt giấu như thế?. Lục Tích đáp ngay: Mẹ tôi thích ăn quít lắm. Nhân tiện trong tiệc có quít ngon nên tôi giấu vài quả đem về biếu mẹ tôi. Viên Thuật khen Tích là người con chí hiếu.
Nguyên bản:
Hiếu để giai thiên tính,
Nhân gian lục tuế nhi,
Tụ trung hoài lục quất,
Dị mậu sự kham kỳ.
Có nghĩa là:
Lòng hiếu để là tính do trời phú,
Đứa trẻ lên sáu trên thế gian này,
Giấu quít vào trong tay áo,
Đem vè biếu mẹ cũng là điều lạ.
Diễn quốc âm:
Hán Lục Tích thươ còn sáu tuổi,
Quận Cửu Giang đến với họ Viên,
Trẻ thơ ai chẳng yêu khen,
Quít ngon đặt tiệc tiểu diên đãi cùng,
Cất hai quả vào trong tay áo,
Tiệc tan xong từ cáo lui chân,
Trước thềm khúm núp gởi thân,
Vô tình quả quít nẩy lăn ra ngoài,
Viên trông thấy cười cười hỏi hỏi,
Sao khách hiền mang thói trẻ thơ?
Thưa rằng: Mẹ vốn tính ưa,
Vật ngon dành lại để đưa mẹ thì.
Viên nghe nói trọng vì không xiết,
Bé con con mà biết hiếu thân,
Cho hay phú giữ thiên chân,
Sinh ra ai cũng sẵn phần thiện đoan.

TRUYỆN THỨ XIV – Giang Cách

9814446_200240780000_2.jpg

 


Sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc còn bé, Giang Cách chí hiếu. Trong lúc loạn lạc họ Giang cõng mẹ lánh nạn, giữa đường gặp giặc toan bắt đi. Ông kêu van khóc lóc thảm thiết và cho biết còn mẹ già phải phụng dưỡng, nay nếu ông bị bắt đi thì mẹ già không người nuôi nấng. Thấy tình cảnh của Giang Cách đáng thương, giặc tha cho về. Giang Cách liền cõng mẹ chạy về Hạ Bì, cố hết sức làm thuê làm mướn để nuôi mẹ qua cơn loạn lạc.
Nguyên bản:
Phụ mẫu đào nguy gian,
Trung đồ tặc phạm tần,
Ai cầu câu hoạch miễu,
Dung lực dĩ cung thân.
Có nghĩa là:
Cõng mẹ chạy lánh nạn,
Giữa đường gặp giặc bắt luôn,
Kêu van cùng được tha,
Cố làm thuê để nuôi mẹ.
Diễn Quốc âm:
Hán Cách Giang cô đơn từ bé,
Bước truân chuyên với mẹ đồng cư,
Đương cơn loạn lạc bơ vơ,
Một mình cõng mẹ vẫn vơ dọc đường.
Từng mấy độ chiến trường gặp giặc,
Giặc cố tình hiếp bắt đen đi,
Khóc rằng Thân mẹ lưu ly,
Tuổi gì bóng chếch biết thì cậy ai?
Giặc nghe nói thoắt thôi chẳng nỡ,
Rồi dần dà qua ở Hạ Bì,
Dấn mình gánh mướn làm thuê.
Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân.
Áng xuân phong tươi nét từ nhan,
Cho hay những lúc gian nan,
Thật vàng, dẫu mấy lửa than cũng vàng.

TRUYỆN THỨ XV – Hoàng Hương

9814446_201123545000_2.jpg

 

Người đời Đông Hán, mẹ mất vào lúc mới lên 9 tuổi. Hoàng Hương Hoàng Hương gào thét và kêu khóc thảm thiết, người trong làng cho là con có hiếu. Thờ cha rất mực cung kính, sớm khuya hầu hạ, không dám lãng xao. Mùa đông, Hoàng Hương nằm ủ vào chăn chiếu của chad9e63 được truyền hơi nóng cho cha khỏi rét, đến mùa hè quạt màn gối của cha để cho mát mẻ luôn, nhờ đó mà cha được ăn ngon ngủ yên, quanh năm quanh năm vui vẻ không biết có mủa đông, mùa hè. Quan Thái thú ở quận ấy nhận thấy họ Hoàng là người con hiếu thảo, liền làm sớ tâu vua Hán. Hán đế ban cho Hoàng Hương tấm biển vàng đề chữ là người con hiếu để.
Nguyên bản:
Đông nhật ôn khâm noãn,
Viên thiên phiến chẩm lương.
Nhi đồng tri tử chức,
Thiên cổ nhất Hoàng Hương
Có nghĩa là:
Mùa đông thì ủ cho ấm chăn,
Mùa nực thì quạt cho mát gối.
Trẻ thơ đã biết đạo làm con,
Ngàn xưa chỉ có một Hoàng Hương.
Diễn Quốc Âm:
Đời Đông Hán Hoàng Hương chín tuổi,
Khuất bóng từ dòi dõi nhớ thương.
Hạt Châu khôn ráo hai hàng,
Tiếng đồn vang dậy trong làng đều khen.
Thờ nghiêm phụ cần chuyên khuya sớm,
Đạo làm con chẳng dám chút khuây,
Trời khi nắng hạ chầy chầy,
Quạt trong mán gối hơi bay mát rầm.
Trời đông buổi sương đầm tuyết thắm,
Ấp hơi mình cho ấm chiếu chăn.
Vì con cha được yên thân,
Bốn mùa không biết có phần Hạ, Đông,
Tiếng hiếu hạnh cảm lòng quận thú.
Biển nên treo chói đỏ vàng son.
Cho hay tuổi trẻ mà khôn,
Nghìn thu biết đạo làm con mấy người?

TRUYỆN THỨ XVI – Vương Thôi

9814446_143843606000_2.jpg

 


Người nước Ngụy đời Tam Quốc, cha làm quan nhà Ngụy. Sau nhà Tây Tấn diệt nước Ngụy nhất thống thiên hạ. Cha Vương Thôi bị nhà Tây Tấn giết hại, ông quá thương xót, phủ phục trước mộ khóc mãi. Tương truyền nước mắt ông chảy quá nhiều, làm cho cây trắc bên mồ kkhô héo được tươi lại. Suốt đời Vương Thôi không bao giờ ngồi day mặt về hướng Tây, (vì Tây Tấn ở phương Tây) để tỏ ý chí cương quyết không bao giờ làm tôi cho nhà Tây Tấn.
Mẹ ông lúc sinh thời hay sợ sấm, cho nên khi mất rồi, hễ khi nào trời mưa có sấm chớp, ông lại ra mồ mà khấn rằng Có con đây rồi cốt để cho mẹ khỏi sợ. Biết ông là người tài giỏi, nhà Tây Tấn nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông cương quyết khước từ, ở nhà mở trường dạy học. Mỗi khi ông giảng sách cho học trò đến thiên Lục Nga trong Kinh thi có câu: Phụ Hề sinh ngã ông nhớ đến cha rồi tự nhiên nước mắt tuôn rơi, học trò đều cảm động và bỏ thiên Lục Nga không dám đọc nữa.
Nguyên Bản:
Từ mẫu phạ văn lôi.
Băng hồn túc dạ đài,
Át hương thời nhất chấn.
Đáo mộ nhiễu thiên hồi.
Có nghĩa là:
Mẹ hiền sợ nghe tiếng sấm.
Hồn thơm đã nằm dưới suối vàng,
Khi nghe thấy tiếng sấm động,
Đến mồ mẹ đi quanh nghìn lần
Diễn Quốc âm:
Ngụy Vương Thôi gặp đời Tây Tấn,
Vì thù cha lánh ẩn cao bay.
Bên mồ khóc đã khô cây,
Trọn đời ngồi chẳng hướng Tây lúc nào,
Khi sấm sét tìm vào mồ mẹ.
Lạy khóc rằng Con trẻ ở đây,
Bởi vì tính mẹ xưa nay,
Vốn từng sợ sấm những ngày gió mưa.
Nên coi sóc chẳng từ sớm tối,
Thần phách yên, dạ mới được yên.
Trong khi đọc sách giảng truyền,
Tới câu sinh ngã lệ tràn như tuôn.
Ngập ngừng kẻ cấp môn cũng cảm,
Thơ Lục Nga chẳng dám còn ngâm,
Cho hay thử lý thử tâm.
Sư, sinh cũng thấm tình thâm khác gì.

TRUYỆN THỨ XVII – Ngô Mãnh

9814446_203440906000_2.jpg

 

Người đời nhà Tấn, lúc mới lên 8 tuổi đã biết thờ mẹ rất có hiếu, nhà nghèo, mùa hè nhiều muỗi, không có tiền mua màn, sợ cha mẹ bị muỗi đốt, Ngô Mãnh cởi trần nằm cho muỗi đốt mà chẳng dám xua đuổi, để cha mẹ được ngủ yên.
Nguyên bản:
Hạ dạ vô văn trướng,
Văn đa bất cảm huy,
Tứ cừ bảo cao huyết.
Miễn sử nhập thân vi.
Có nghĩa là:
Đêm mùa hè không có màn,
Muỗi nhiều không dám xua,
Cho muỗi đốt no máu mình.
Để khỏi đấn nơi cha mẹ nằm
Diễn Quốc âm:
Tấn Ngô Mãnh tuổi thì lên tám.
Lòng sự thân chẳng dám khi nhàn,
Cực về một nỗi bần hàn.
Có giường không đặt, không màn ngoài che.
Trời đương buổi đêm hè nóng nảy,
Tiếng muỗi kêu vang dậy dường mưa,
Xót thay hai đấng nghiêm từ,
Để người chịu muỗi bây giờ biết sao.
Nghĩ da thịt phương nào thay lấy,
Quyết nằm trần muỗi mấy chẳng xua.
Rầu lòng cho muỗi được no,
Để người êm ái giấc hòe cho an.
Tuổi tuy bé nhưng gan chẳng bé,
Dạ ái thân đến thế thời thôi.
Cho hay phú tính bởi trời,
Những đau trong ruột, dám nài ngoài da

TRUYỆN THỨ XVIII – Vương Tường

128199_162325015000_2.jpg

 

Người đời nhà Tấn, mẹ mất sớm. Vương Tường ở với cha, nhưng bị bà mẹ ghẻ rất sâu cay thường kiếm lời nói ra nói vào, khiến cho cha ông ghét bỏ. Nhưng ông không oán ghét bà mẹ ghẻ mà ăn ở rất có hiếu. Mùa đông, nước đóng lại thành băng, bà mẹ ghẻ đòi ăn cá tươi, ông cởi trần trên băng giá để tìm cá. Bỗng nhiên băng nứt đôi ra, có hai con cá chép nhảy lên, ông bắt về làm món ăn cho kế mẫu. Trước lòng hiếu thảo chân thành của đứa con chồng, bà mẹ ghẻ hồi tâm và cha của Vương Tường cũng hết giận, từ đó hai người yêu mến đứa con như vàng.
Nguyên bản:
Kế mẫu nhân gian hữu,
Vương Tường thiên hạ vô,
Chí kim hà thượng thủy,
Nhất phiến ngọa băng vô
Có nghĩa là:
Mẹ kế thế gian thường có.
Hiếu như Vương Tường người thiên hạ không ai.
Đến bây giờ ở trên sông,
Không một ai nằm trên băng giá cả.
Diễn Quốc Âm:
Người Vương Tường cũng là đời Tấn,
Tủi huyên đường sớm lẫn bóng xa,
Mẹ sau gặp cảnh chua ngoa.
Tiếng gièm thêu dệt với cha những điều,
Lòng cha chẳng còn yêu như trước.
Lòng con thường chẳng khác như xưa,
Mẹ thường muốn bữa sinh ngư,
Giá đông trời lạnh bây giờ tìm đâu.
Trên váng đóng, quyết cầu cho thấy.
Cởi áo nằm rét mấy cũng vui,
Bỗng đâu váng lở làm hai,
Lý Ngư may được một đôi đem về.
Bữa cung cấp một bề kính thuận,
Mẹ cha đều đổi giận làm lành,
Cho hay hiếu cảm tại mình,
Dẫu trăm giận, lúc hả tình cũng thôi.

TRUYỆN THỨ XIX – Dương Hương

20120307130258607.jpg

 

Dương Hương sinh vào đời nhà Tấn, vừa 14 tuổi đầu đã tỏ ra chí hiếu, cha đi đâu cũng theo hầu một bên. Một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng nơi xa, gần vùng núi rừng, giữa đường gặp một con hổ chực nhảy đến vồ cha, Dương Hương cố liều chết, nhảy vào với đôi tay không quyết cùng sinh tử với con hổ. Ông đánh rất hăng, cuối cùng hổ hoảng sợ bỏ chạy, cha ông nhờ đó mà thoát chết.
Nguyên bản:
Thâm sơn phùng bạch ngạch,
Nỗ lực bát tinh phong,
Phụ tử câu vô dang,
Thoát ly hổ khẩu trung
Có nghĩa là:
Nơi rừng xanh gặp con hổ trắng má,
Cố sức xua đuổi giống hôi tanh.
Cha con đều vô sự cả.
Thoát khỏi rơi vào miệng cọp
Diễn Quốc âm:
Tấn Dương Hương mới mười bốn tuổi,
Cha bước ra hằng ruỗi theo cha.
Phải khi thăm lúa đường xa.
Chút thân tuổi tác thoắt sa miệng hùm,
Đau con mắt hầm hầm nỗi giận.
Nắm tay không vơ vẫn giữa đường,
Hai tay chận dọc đè ngang,
Ra tay chống với hổ lang một mình.
Hùm mạnh phải nhăn nanh lánh gót,
Hai cha con lại một đoàn về,
Cho hay hiếu mạnh hơn uy,
Biết cha thôi lại biết chi có mình.

TRUYỆN THỨ XX – Mạnh Tông

20120307130131133.jpg

 

Người ở đất Giang Hạ, về đời Tam Quốc, mồ côi cha, Mạnh Tông ở với mẹ rất có hiếu. Một hôm, bà mẹ của Mạnh Tông đau thèm ăn canh măng, nhưng bấy giờ là mùa đông, khó tìm ra măng. Ông đi vào trong rừng tre, ngồi bên gốc tre mà khóc. Bỗng đâu có mấy mục măng từ dưới đất mọc lên, quá mừng rỡ. Mạnh Tông mang về nhà nấu canh cho mẹ ăn. Ăn xong bà mẹ liền hết bịnh. Người ta cho rằng lòng hiếu động của Mạnh Tông, động lòng trời, nên măng mọc lên để cho ông được tròn chữ hiếu. Về sau này có một loại măng màu xám được đặt tên là Mạnh Tông, hình dáng trông rất đẹp và ăn ngon.
Nguyên bản:
Lệ khấp sóc phong hàn,
Tiêu tiêu trúc cổ san,
Tu du đông duẩn xuất,
Thiên ý báo bình an.
Có nghĩa là:
Ngồi khóc trong gió bấc lạnh thổi,
Lèo tèo chỉ có mấy gốc tre,
Phút chốc măng mùa đông mọc lên,
Ý trời khiến cho mẹ được khỏi bệnh
Diễn Quốc âm:
Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăng khăng,
Tuổi già trằn trọc băn khoăn.
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.
Trời đông tuyết biết đâu tìm được.
Chốn trúc lâm phải bước chân đi
Một thân ngồi tựa gốc tre.
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.
Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nỗi lên.
Đem về điều đặt bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.
Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy.
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày.
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình

TRUYỆN THỨ XXI – Du Kiềm Lâu

20120307130438199.jpg

 

Cũng chép là Sứu Kìm Lâu Người nước Tề, được nổi tiếng là chí hiếu. Khi được bổ nhậm là Thái Thú ở quận Bình Lăng, đến nhậm chức được mười hôm, bỗng Kiềm Lâu thấy tâm thần bàng hoàng, mồ hôi chảy như tắm, biết là nhà có việc chẳng lành, liền xin từ chức. Về đến nhà, mới hay cha đau nặng đã hai ngày. Kiềm Lâu lại nghe thầy thuốc nói hễ người bệnh nặng mà phân đắng thì chữa khỏi, bằng trái lại phân ngọt thì khó chữa. Ông liền nếm thử phân của cha thì thấy ngọt, lòng vô cùng lo lắng đứng ngồi không yên. Đêm đêm ông đốt hương nhắm sao Bắc Đẩu. mà khấn xin được chết thay cha. Sau ông nằm mơ thấy có một người cầm một thẻ vàng có mấy chữ: Sắc trời cho bình an. Quả nhiên ngày hôm sau cha ông được khỏi bệnh ngay.
Nguyên bản:
Đáo huyện vị tuần nhật,
Xuân đình tao tật thâm,
Nguyện tương thân đại tử,
Thường phẩn khởi ưu tâm
Có nghĩa là:
Quan nhậm chức chưa quá mười ngày.
Cha ở nhà bị đau nặng,
Xin được chết thay cho cha già.
Thân rồi sinh lo lắng,
Diễn Quốc Âm:
Kiềm Lâu có danh Tề Quốc,
Huyện Bình Lăng nhậm chức thân dân.
Tới Nha chưa được một lần,
Như dội tâm thần thường đau.
Vó câu buồn bả.
Thăm cha bệnh đã hai ngày,
Nếm dơ vâng cứ lời thầy,
Đầu lưỡi chua cay trong lòng,
Chữ dạy bệnh trung nghi khổ,
Làm sao bệnh đở mới cam,
Đêm đêm hướng bắc triều tam.
Tánh mạng thay làm thân cha.
Cầu khẩn thấu tòa tinh tú,
Bình an vui thú đình vi,
Cho hay máy động huyền vi.
Minh truyện trước còn ghi kim đằng.

TRUYỆN THỨ XXII – Đường Thị vợ Họ Thôi

9814446_145552985000_2.jpg

 

Đường Thị, vợ nhà họ Thôi, ở với mẹ chồng rất có hiếu. Mẹ chồng quá già rụng cả răng, không nhai được cơm. hàng ngày Đường thị phải tắm rửa thật sạch sẻ rồi cho mẹ bú. Nhờ đó mẹ chồng mấy năm liền không ăn mà vẫn được no. Cảm ơn nàng dâu hiếu để, mẹ chồng không biết lấy gì đền đáp, lúc sắp chết liền khấn nguyện trời phật cho con cháu nhà họ Thôi sau này người nào cũng hiếu thảo như Đường Thị vậy. Quả nhiên về sau con cháu dâu nhà họ Thôi người nào cũng bắt chước gương tốt của Đường Thị ăn ở hiếu thuận với nhà chồng. Họ Thôi nhờ đó được hưng thịnh,
Nguyên bản:
Hiếu báo Thôi gia phụ,
Có thân quán sơ.
Ân vô dĩ báo,
Truyện đắc thử Tôn Như.
Có nghĩa là:
Vợ họ Thôi ở có hiếu với mẹ chồng,
Hằng ngày tắm rửa rồi cho mẹ chồng bú.
Ơn ấy mẹ chồng không biết chi báo đền,
Cầu nguyện cho con cháu dâu ở có hiếu với Đường Thị
Diễn Quốc Âm:
Dâu họ Thôi ai bằng Đường Thị,
Thương mẹ chồng niên kỷ đã cao.
Không răng ăn dễ được nào.
Ngày ngày lau chải ra vào thăm coi,
Lấy sửa ngọt thay mùi cơm cháo.
Mấy năm trời chẳng gạo mà no,
Vì dâu dốc dạ thờ cô.
Da mồi tóc bạc bốn mùa như xuân,
Ơn lòng ấy khôn phần báo lại,
Buổi lâm chung nhủ với hoàng thiên.
Xin cho nguyền được như nguyền.
Dâu dâu ngày khác lại hiền như dâu,
Ai nghe cũng răn nhau hiếu kính.
Cữa Thôi gia hưng thịnh đời đời.
Cho hay gia khánh lâu dài,
Báu nào còn báu hơn người dâu ngoan

TRUYỆN THỨ XXIII – Châu Thọ Xương

9814446_144454102000_2.jpg

 

Châu Thọ Xương, người Tống, là con của người vợ thứ. Năm ông vừa lên 7 tuổi, người vợ cả đuổi mẹ ông đi. Về sau ông được làm quan nghĩ đến công sinh thành tác tạo của mẹ đang sống lưu lạc khổ sở, ông cảm thấy chua xót trong lòng. Ông liền xin từ quan chức để đi tìm mẹ đẻ. Trước khi đi, ông thề rằng: Nếu không tìm được mẹ chết cũng đành Tìm kiếm khắp nơi, may đến đất Đồng Châu mẹ con lại được trùng phùng. Tuy xa cách nhau đến năm mươi năm, mẫu tử được đoàn viên, ông lấy làm vui mừng. Ông liền rước mẹ về ở chung và phụng dưỡng tận tình.
Nguyên bản:
Thất tuế sinh ly mẫu,
Sâm thương ngũ thập niên,
Nhất triêu tương kiến diện,
Hỷ khí động hoàng thiên.
Có nghĩa là:
Lên 7 tuổi phải lìa xa mẹ đẻ.
Cách biệt như sao hôm sao mai đã 50 năm.
Một sớm được thấy lại mặt nhau.
Mừng vui cảm động đến trời.
Diễn Quốc Âm:
Chu Thọ Xương làm quan Tống đại,
Mẹ sinh ra bảy tuổi lìa lòng,
Bởi vì đích mẫu chẳng dung.
Đem thân bồ liễu, bạn cùng nước non.
Muôn nghìn dặm, mẹ con xa khuất.
Năm mươi năm trời đất bơ vơ,
Sinh con những tưởng cậy nhờ.
Cái thân sung sướng bây giờ mà chi?
Bỏ quan chức, quyết đi tìm tòi,
Nặng lời thề nói với gia nhân,
Thân này chẳng gặp từ thân,
Thời liều sống thác với thân cho đành.

TRUYỆN THỨ XXIV – Hoàng Đình Kiên

9814446_135614989000_2.jpg


24. Hoàng Đình Kiên (黄庭坚): rửa sạch cái bô đi tiểu của mẹ
Người đời nhà Đường, làm quan đến chức Thái Sử, một chức quan coi về việc chép sử, thờ cha mẹ rất có hiếu. Tuy làm chức quan cao, nhà có nhiều đầy tớ hầu hạ, nhưng ông tự mình săn sóc đến những thứ cần dùng của cha mẹ. Những đồ dùng tiểu tiện của cha mẹ, dù dơ bẩn thế nào, ông cũng chính tay lau rửa và không bảo đầy tớ làm.
Nguyên bản:
Quý hiểm văn thiên hạ,
Bình sinh hiếu sự thân,
Thân thân địch niệu khí,
Bất dụng hoản gia nhân
Có nghĩa là:
Sang giàu thiên hạ đều nghe tiếng,
Thường ngày phụng dưỡng cha mẹ rất hiếu thảo
Chính tay lau rửa đồ dùng tiểu tiện của cha mẹ,
Không bao giờ sai bảo người nhà làm
Diễn Quốc âm:
Triều Nguyên Hữu có thầy Tăng trực,
Là họ Hoàng ngồi chức sử thần,
Ơn vua đã nhẹ tấm thân,
Phận con, vẫn giữ thờ thân như ngày.
Đồ dơ bẩn tự tay lau chuốt,
Việc tầm thường chẳng chút đơn sai,
Há rằng sai khiến không ai,
Đem thân quan trọng thay người gia nô,
Chức nhân tử phải cho cần khổ,
Có mẹ cha mới có thân ta,
Cho hay đạo chẳng ở xa,
Hay là hiếu tử mới ra trung thần
Hết
* * * * * * * * * * * * * *


Ai đang trực tuyến

  • 0
  • 1.181
  • 324
  • 3.702
  • 927
  • 988.359
  • 231.670