Thần tiên Việt Nam

Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝 Trang 1 – Bắc Đẩu Điện – Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam 越南神仙

Đạo Giáo Thần Tiên – Bắc Đẩu Điện 道教神仙

Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝 Phần 1 
Lý Văn Phức dịch

 4655005_1714341773.jpg

Nhị thập tứ hiếu (chữ Hán: 二十四孝) là một tác phẩm kể lại sự tích của 24 tấm gương hiếu thảo do Quách Cư Nghiệp (có sách ghi Quách Cư Kinh 郭居敬, bính âm: Guō Jūjìng) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Ông nổi tiếng là một người con hiếu thảo, và sau khi cha mất ông đã xuất bản quyển này. Hầu hết các người con hiếu thảo là nam giới báo hiếu cho mẹ già. Các câu chuyện được kể lại xảy ra từ thời Thuấn Đế đến đời ông.

二十四孝 越南神仙

01 孝感动天   01 Hiếu Cảm Động Thiên

   舜, 传说中的远古帝王, 五帝之一, 姓姚, 名重华, 号有虞氏, 史称虞舜. 相传他的父亲瞽叟及继母、异母弟象, 多次想害死他:让舜修补谷仓仓顶时, 从谷仓下纵火, 舜手持两个斗笠跳下逃脱;让舜掘井时, 瞽叟与象却下土填井, 舜掘地道逃脱. 事后舜毫不嫉恨, 仍对父亲恭顺, 对弟弟慈爱. 他的孝行感动了天帝. 舜在厉山耕种, 大象替他耕地, 鸟代他锄草. 帝尧听说舜非常孝顺, 有处理政事的才干, 把两个女儿娥皇和女英嫁给他;经过多年观察和考验, 选定舜做他的继承人. 舜登天子位后, 去看望父亲, 仍然恭恭敬敬, 并封象为诸侯

 

02 亲尝汤药 02 Thân Thường Thang Dược

   汉文帝刘恒, 汉高祖第三子, 为薄太后所生. 高后八年(前180)即帝位. 他以仁孝之名, 闻于天下, 侍奉母亲从不懈怠. 母亲卧病三年, 他常常目不交睫, 衣不解带;母亲所服的汤药, 他亲口尝过后才放心让母亲服用. 他在位24, 重德治, 兴礼仪, 注意发展农业, 使西汉社会稳定, 人丁兴旺, 经济得到恢复和发展, 他与汉景帝的统治时期被誉为文景之治.

 

 03 啮指痛心    03 Niết Chỉ Thống Tâm

   曾参, 字子舆, 春秋时期鲁国人, 孔子的得意弟子, 世称曾子, 以孝著称. 少年时家贫, 常入山打柴. 一天, 家里来了客人, 母亲不知所措, 就用牙咬自己的手指. 曾参忽然觉得心疼, 知道母亲在呼唤自己, 便背着柴迅速返回家中, 跪问缘故. 母亲说:有客人忽然到来, 我咬手指盼你回来. 曾参于是接见客人, 以礼相待. 曾参学识渊博, 曾提出吾日三省吾身(《论语·学而》)的修养方法, 相传他著述有《大学》、《孝经》等儒家经典, 后世儒家尊他为宗圣.

 

 04 百里负米    04 Bách Lí Phụ Mễ

   仲由, 字子路、季路, 春秋时期鲁国人, 孔子的得意弟子, 性格直率勇敢, 十分孝顺. 早年家中贫穷, 自己常常采野菜做饭食, 却从百里之外负米回家侍奉双亲. 父母死后, 他做了大官, 奉命到楚国去, 随从的车马有百乘之众, 所积的粮食有万钟之多. 坐在垒叠的锦褥上, 吃着丰盛的筵席, 他常常怀念双亲, 慨叹说:即使我想吃野菜, 为父母亲去负米, 哪里能够再得呢?孔子赞扬说:你侍奉父母, 可以说是生时尽力, 死后思念哪!(《孔子家语·致思》)

 

 05 芦衣顺母    05 Lô Y Thuận Mẫu

   闵损, 字子骞, 春秋时期鲁国人, 孔子的弟子, 在孔门中以德行与颜渊并称. 孔子曾赞扬他说:孝哉, 闵子骞!(《论语·先进》). 他生母早死, 父亲娶了后妻, 又生了两个儿子. 继母经常虐待他, 冬天, 两个弟弟穿着用棉花做的冬衣, 却给他穿用芦花做的棉衣. 一天, 父亲出门, 闵损牵车时因寒冷打颤, 将绳子掉落地上, 遭到父亲的斥责和鞭打, 芦花随着打破的衣缝飞了出来, 父亲方知闵损受到虐待. 父亲返回家, 要休逐后妻. 闵损跪求父亲饶恕继母, 说:留下母亲只是我一个人受冷, 休了母亲三个孩子都要挨冻. 父亲十分感动, 就依了他. 继母听说, 悔恨知错, 从此对待他如亲子.

 

 6 鹿乳奉亲    6 Lộc Nhũ Phụng Thân

   郯子, 春秋时期人. 父母年老, 患眼疾, 需饮鹿乳疗治. 他便披鹿皮进入深山, 钻进鹿群中, 挤取鹿乳, 供奉双亲. 一次取乳时, 看见猎人正要射杀一只麂鹿, 郯子急忙掀起鹿皮现身走出, 将挤取鹿乳为双亲医病的实情告知猎人, 猎人敬他孝顺, 以鹿乳相赠, 护送他出山.

 

 07 戏彩娱亲    07 Hí Thái Ngu Thân

   老莱子, 春秋时期楚国隐士, 为躲避世乱, 自耕于蒙山南麓. 他孝顺父母, 尽拣美味供奉双亲, 70岁尚不言老, 常穿着五色彩衣, 手持拨浪鼓如小孩子般戏耍, 以博父母开怀. 一次为双亲送水, 进屋时跌了一跤, 他怕父母伤心, 索性躺在地上学小孩子哭, 二老大笑.

 

 08 卖身葬父    08 Mại Thân Táng Phụ

   董永, 相传为东汉时期千乘(今山东高青县北)人, 少年丧母, 因避兵乱迁居安陆(今属湖北). 其后父亲亡故, 董永卖身至一富家为奴, 换取丧葬费用. 上工路上, 于槐荫下遇一女子, 自言无家可归, 二人结为夫妇. 女子以一月时间织成三百匹锦缎, 为董永抵债赎身, 返家途中, 行至槐荫, 女子告诉董永:自己是天帝之女, 奉命帮助董永还债. 言毕凌空而去. 因此, 槐荫改名为孝感.

 

 09 刻木事亲    09 Khắc Mộc Sự Thân

   丁兰, 相传为东汉时期河内(今河南黄河北)人, 幼年父母双亡, 他经常思念父母的养育之恩, 于是用木头刻成双亲的雕像, 事之如生, 凡事均和木像商议, 每日三餐敬过双亲后自己方才食用, 出门前一定禀告, 回家后一定面见, 从不懈怠. 久之, 其妻对木像便不太恭敬了, 竟好奇地用针刺木像的手指, 而木像的手指居然有血流出. 丁兰回家见木像眼中垂泪, 问知实情, 遂将妻子休弃.

 

 10 行佣供母    10 Hành Dung Cung Mẫu

   江革, 东汉时齐国临淄人, 少年丧父, 侍奉母亲极为孝顺. 战乱中, 江革背着母亲逃难, 几次遇到匪盗, 贼人欲杀死他, 江革哭告:老母年迈, 无人奉养, 贼人见他孝顺, 不忍杀他. 后来, 他迁居江苏下邳, 做雇工供养母亲, 自己贫穷赤脚, 而母亲所需甚丰. 明帝时被推举为孝廉, 章帝时被推举为贤良方正, 任五官中郎将.

 

 11 怀橘遗亲    11 Hoài Quất Di Thân

   陆绩, 三国时期吴国吴县华亭(今上海市松江)人, 科学家. 六岁时, 随父亲陆康到九江谒见袁术, 袁术拿出橘子招待, 陆绩往怀里藏了两个橘子. 临行时, 橘子滚落地上, 袁术嘲笑道:陆郎来我家作客, 走的时候还要怀藏主人的橘子吗?陆绩回答说:母亲喜欢吃橘子, 我想拿回去送给母亲尝尝. 袁术见他小小年纪就懂得孝顺母亲, 十分惊奇. 陆绩成年后, 博学多识, 通晓天文、历算, 曾作《浑天图》, 注《易经》, 撰写《太玄经注》.

 

 12 埋儿奉母    12 Mai Nhi Phụng Mẫu

   郭巨, 晋代隆虑(今河南林县)人, 一说河内温县(今河南温县西南)人, 原本家道殷实. 父亲死后, 他把家产分作两份, 给了两个弟弟, 自己独取母亲供养, 对母极孝. 后家境逐渐贫困, 妻子生一男孩, 郭巨担心, 养这个孩子, 必然影响供养母亲, 遂和妻子商议:儿子可以再有, 母亲死了不能复活, 不如埋掉儿子, 节省些粮食供养母亲. 当他们挖坑时, 在地下二尺处忽见一坛黄金, 上书天赐郭巨, 官不得取, 民不得夺. 夫妻得到黄金, 回家孝敬母亲, 并得以兼养孩子

  Ngu Thuấn (虞舜): hiếu cảm động trời

  Lưu Hằng (刘恆, tức Hán Văn Đế): người con nếm thuốc

  Tăng Sâm (曾参): mẹ cắn ngón tay, tim con đau xót

  Mẫn Tổn (闵损): nghe lời mẹ với quần áo đơn giản

  Trọng Do (仲由): vác gạo nuôi cha mẹ

  Đổng Vĩnh (董永): bán thân chôn cha

  Đàm Tử (郯子): cho cha mẹ bú sữa hươu

  Giang Cách (江革): làm thuê nuôi mẹ

  Lục Tích (陆绩): giấu quýt cho mẹ

  Đường phu nhân: (唐夫人) cho mẹ chồng bú sữa

  Ngô Mãnh (吳猛): cho muỗi hút máu

  Vương Tường (王祥): nằm trên băng chờ cá chép

  Quách Cự (郭巨): chôn con cho mẹ

  Dương Hương (杨香): giết hổ cứu cha

  Châu Thọ Xương (朱寿昌): bỏ chức quan tìm mẹ

  Dữu Kiềm Lâu (庾黔娄): nếm phân lo âu

  Lão Lai tử (老莱子): đùa giỡn làm vui cha mẹ

  Thái Thuận (蔡顺): nhặt dâu cho mẹ

  Hoàng Hương (黄香): quạt gối ấm chăn

  Khương Thi (姜诗): suối chảy cá nhảy

  Vương Bầu (王裒): nghe sấm, khóc mộ

  Đinh Lan (丁兰): khắc gỗ thờ cha mẹ

  Mạnh Tông (孟宗): khóc đến khi măng mọc

  Hoàng Đình Kiên (黄庭坚): rửa sạch cái bô đi tiểu của mẹ

 

Lý Văn Phức tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, người làng hồ khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội, sinh vào năm ất Tỵ (1785). Ông thi đỗ cử nhân vào năm 1819, niên hiệu Gia Long thứ 18. Ông trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức. 
Trong cuộc đời làm quan, ông bị nhiều lần thăng giáng, và được cử đi công cán nhiều nước ở Viễn đông. Vào năm 1849, ông bị bệnh mà mất, nhà vua liền cho truy thụ Lễ Bộ Hữu Thị Lang.
– Nhị Thập Tứ Hiếu diễn âm (hai mươi bốn truyện hiếu diễn ra quốc âm.)

Nhị Thập Tứ Hiếu
Người tai mắt đứng trong trời đất,
Ai là không cha mẹ sinh thành,
Gương treo đất nghĩa, trời kinh,
ở sao cho xứng chút tình làm con.
Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên,
Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,
Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu


Nhị Thập Tứ Hiếu
Lý Văn Phức

TRUYỆN THỨ I – Ngu Thuấn

4410b.jpg



Một vị vua trong Ngũ Đế thời thượng cổ họ Diêu tên là Thuấn, một trang hiếu tử. Sau được vua Nghiêu, hiệu là Đào Đường gả hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, rồi lại truyền ngôi báu cho. Vua Thuấn lên ngôi đặt niên hiệu là Đường Ngu.
Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dỡ, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẫu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cỗ Tẫu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn trọn gìn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn Cổ Tẫu và người dì ghẻsai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.
Đến khi được vua Đường Nghiêu truyền ngôi, suốt 18 năm trị vì, Đế Thuấn chỉ ngồi gảy đàn hát khúc Nam Phong mà trị bình thiên hạ, nhà nhà đều lạc nghiệp âu ca.
Nguyên Bản:
Đội đội canh điền tượng,
Phân Phân vân thảo cầm,
Phụ Nghiêu đăng báo vị,
Hiếu cảm động thiên tâm
Có nghĩa là
Hàng đàn voi về cày ruộng,
Hàng bầy chim đến nhặt cỏ,
Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,
Hiếu thảo động lòng trời.
Diễn Quốc Âm:
Đức Đại Thánh họ Ngu, vua Thuấn,
Buổi tiềm long gặp vận hàn vi,
Tuổi xanh khuất bóng từ vi
Cha là Cổ Tẫu người thì ương ương,
Mẹ ghẻ tính càng khe khắt,
Em Tượng thêm rất mực điêu ngoa,
Một mình thuận cả vừa ba,
Trên chiều cha mẹ dưới hòa cùng em.
Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt,
Dẫu tử sinh không chút biến dời,
Xót tình khóc tối kêu mai
Xui lòng ghen chét hóa vui dần dần,
Trời cao thẳm mấy lần cũng đến
Vật vô tri cũng mến lọ người.
Mấy phen non lịch pha phôi,
Cỏ chim vì nhặt, ruộng voi vì cày.
Tiếng hiếu hữu xa bay bệ thánh,
Mệnh trương dung trao chánh nhường ngôi
Cầm thi xiêm áo thảnh thơi,
Một nhà đầm ấm, muôn đời ngợi khen.

 


TRUYỆN THỨ II – Văn Đế

9814446_135614782000_2.jpg

 

Tên thật là Hằng, con người vợ thứ của Hán Cao Tổ Lưu Bang em cùng cha khác mẹ với vua Huệ Đế. Vi người vợ cả của Hán Cao Tổ có tính hay ghen dữ tợn và sợ con của người vợ thứ sau này dành ngôi, nên không muốn cho Hằng và mẹ là Bạc Hậu ở triều. Theo lời đề nghị của đình thần, vua Hán Cao Tổ liền phong cho Hằng chức Đại Vương ở đất Đại. Hằng tính tình hiếu thuận được triều thần nhà Hán cũng như thần dân đều mến phục. Sau khi anh là vua Huệ Đế mất, không con nối nghiệp, các quan liền ra đất Đại rước Hằng về lên ngôi, tức là Hán Văn Đế. Khi làm vua rồi, mẹ là Bạc Hậu lại đau yếu trong suốt ba năm liền, Văn Đế, ngoài những buổi chầu, vẫn mặc đại phục của vị Vương đế và đứng hầu mẹ, biếng ăn bỏ ngũ, đêm thức canh chừng bệnh mẹ. Thường ngự y dâng thuốc lên, Văn Đế đở lấy rồi nếm trước sợ có thuốc độc.
Các quan trong triều cũng như ngoài dân chúng biết Văn Đế là người hiếu tử đều bắt chước theo. Nhờ đó, người trong nước đều giữ lòng hiếu thảo hòa mục và thiên hạ thái bình thạnh trị không khác gì ở thời Tam Đại thuở trước. (Tam Đại gồm có các đời vua nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu).
Nguyên bản:
Nhân hiếu lâm thiên hạ,
Nguy nguy quân bách Vương,
Hán đình sự hiền mẫu,
Thang dược tất tiến thường.

Có nghĩa là:
Lấy đạo nhân hiếu dạy thiên hạ,
Công đức cao hơn trăm vua khác,
Phụng dưỡng mẹ nơi công đình nhà Hán,
Thuốc thang tự tay nếm trước.
Diễn Quốc Âm:
Kìa Văn Đế vua hiền Hán Đại,
Vâng ấn phong ngoài cõi phiên Vương,
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lẽ thường chẳng sai,
Đến khi nối ngôi trời trị nước,
Vẫn lòng này săn sắc như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa.
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ.
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng.
Có tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguyên,
Hai mươi năm lẽ kiền khôn.
Đã sau Tam Đại, hãy còn Thành, Khang.
Ấy hai vị đế Vương đời trước,
Chữ hiếu dành đá tạc vàng in,
Còn ra sĩ thứ, đấng hiền.
Đếm xem mấy kẻ tiếng truyền đến nay.

 

 

TRUYỆN THỨ III – Tăng Tử

9814446_203440660000_2.jpg

 

Tên là Sâm, tự là Tử Dư, người ở ấp Vũ Thành thuộc nước Lỗ, sinh vào đời Xuân Thu, là học trò giỏi nhất của Khổng Tử. Tăng Tử được liệt vào hàng tứ phối, nghĩa là trong số bốn người, cùng được phối hưởng với Khổng Tử. Ông thờ cha mẹ rất hiếu thảo, bữa ăn nào cũng cố gắng tìm đũ rượu thịt cho cha mẹ dùng. Khi cha mẹ dùng bữa xong, còn thừa món ăn nào, ông hỏi cha mẹ cho ai thì ông vâng mà cho người ấy. Một hôm ông vắng nhà để vào rừng kiếm củi, có người khách đến chơi, mẹ ông muốn cho ông về ngay, nhưng không biết phải làm cách nào, liền cắn vào đầu ngón tay để động lòng con mình. Quả nhiên ở trong rừng ông cảm cảm thấy trong lòng quặn đau, vội vã gánh củi về nhà.
Nguyên bản:
Mẫu chỉ tài phương khiết,
Nhỉ tâm thống bất căm,
Phụ tân qui vị vãn,
Cốt nhục chí tình thâm.
Có nghĩa là:
Mẹ vừa cắn ngón tay,
Con quặn đau trong dạ,
Vội vàng đội cũi về,
Cốt nhục tình linh cảm.
Diễn Quốc Âm:
Đời Chu Mạt có thầy Tăng Tử,
Thờ mẹ cha thời giữ chí thành,
Bữa thường rượu thịt ngon lành,
Cho ai, vâng cứ đinh ninh chẳng rời,
Nhà bần bạc thường vui hái củi,
Quảng mù xanh thui thủi non xâu.
Mẹ ngồi tựa cửa bóng sau,
Nhân khi khách đến trông mau con về.
Rối trong dạ nhân khi cùng túng.
Cắn ngón tay cho động lòng con.
Trông non bỗng chốc bồn chồn.
Quặn đau khúc ruột bước dồn gót chân.
Quỳ dưới gối ghé gần thưa hỏi.
Lắng bên tai nghe giải nguồn cơn.
Cho hay từ hiếu, tương quan.
Non Đồng khi lỡ, khôn hàn tiếng chuông.

TRUYỆN THỨ IV – Mẫn Tử Khiên

9814446_205017022000_2.jpg

 

Tên chữ là Tồn, học trò Khổng Tử, sinh vài đời Xuân Thu, mẹ ông mất sớm, người cha có vợ khác và sinh hạ được hai con. Người dì ghẻ đối với ông vô cùng khắc nghiệt, nhưng ông vẫn một lòng hiếu thuận. Mùa Đông giá rét, hai con riêng của bà thì được mặc áo lót bông, riêng Mẫn Tử Khiên thì mặc áo độn hoa lau ở bên trong. Tuy không đủ ấm, nhưng ông chẳng bao giò hở môi. Một hôm, cha ông dạo chơi ông theo đẩy xe, vì quá rét, tay cóng lại rời tay xe ra. Cha ông thấy thế biết là người kế mẫu ác nghiệt để cho ông chịu rét lạnh, liền có ý định đuổi người đàn bà cay nghiệt kia đi Ông khóc lóc và kêu van với cha xin đừng đuổi kế mẫu đi. Vì người kế mẫu còn chỉ có mình ông chịu rét, nếu bà đi rồi, cả hai em chịu rét và khổ sở lây. Cha ông nghe theo, và người kế mẫu hiểu biết chuyện hiếu thảo của người con chồng, từ đó bà thay đổi cách cư xử và trở nên bậc hiền mẫu.
Nguyên Bản:
Mẫn thị hữu hiền lang,
Hà tằng oán văn nương,
Đường tiền lưu mẫu tại,
Tam tử miễn phong sương
Có nghĩa là:
Nhà nọ mẫn có đứa con hiền,
Không bao giờ oán trách mẹ kế,
Trước mặt cha xin mẹ kế ở lại,
Để ba con cùng khỏi phải khổ sở
Diễn Quốc Âm:
Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẻ đã lâu,
Thờ cha sớm viếng khuya hầu.
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẻo.
Hai em thời kép áo dày bông,
Chẳng thương chút phận long đong.
Hoa lau nở để lạnh lùng một thân,
Khi cha dạo theo chân xe đẩy.
Rét căm căm xe đẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay.
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy,
Gạt nước mắt chân quỳ miệng gởi.
Lạy cha xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn chịu một thân đơn.
Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba,
Cha trông xuống cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu cảm nên từ.
Thấm lâu như đá cũng rừ lọ ai?

TRUYỆN THỨ V – Trọng Do

9814446_210235496000_2.jpg

 

Trọng Do, người ở ấp Biện, thuộc nước Lỗ, sinh vào đời Xuân Thu, học trò Khổng Tử Lộ. Thờ cha mẹ rất có hiếu. Nhà nghèo, ông thường đi đội gạo đường xa hàng trăm dặm về nuôi cha mẹ. Không có tiền mua thức ăn, phải tìm các thứ rau về nấu canh dâng lên cha mẹ dùng tạm. Sau khi cha mẹ mất, ông sang nước Sở, được vua Sở trọng dụng, phong ban tước cao sang, cấp nhiều bổng lộc. Ông thường than phiền là không còn cha mẹ để được phụng dưỡng như xưa, để ngày ngày đội gạo, bữa bữa nấu canh rau. Khổng Tử thường khen Tử Lộ là người hiếu để và thận trọng từng hành vi.
Nguyên bản tiếng Hán:
Phụ mễ cung cam chỉ,
Ninh Từ bách lý lao,
Thân hoàn thân dĩ một,
Do niệm cựu cù lao
Có nghĩa là:
Đội gạo để cung cấp ngọt bùi cho cha me,
Không nề đường dài xa trăm dặm.
Đến khi sung sướng cha mẹ đã khuất.
Vẫn hằng nhớ công khó nhọc của cha mẹ.
Diễn Quốc Âm:
Thầy Tử Lộ cũng người nước Lỗ,
Thờ hai thân từng bữa canh lê.
Thường khi đội gạo đi về.
Xa xôi trăm dặm nặng nề hai vai,
Đỉnh Hoa biểu từ khơi bóng hạc.
Gót Nam Du nhẹ bước tang bồng.
Xe trăm cỗ, thóc muôn chung.
Ngồi chồng đệm ghép, ăn chồng vạc cao,
Thân phú quý ngẫm vào thêm tủi.
Đức cù lao chạnh tới càng đau.
Nào khi đội gạo canh rau,
Muốn còn như cũ dễ hầu được ru.
Lòng thắc mắc nghìn thu vẫn dễ,
Biết bao giò cam chỉ đền công,
Cho hay dạ hiếu khôn cùng.
Dẫu Tam công chẳng đổi lòng thần hôn

TRUYỆN THỨ VI – Diễm Tử

wKgB3FD71wmASJbPAAh7w9HzCb472.groupinfo.w600.jpg


Diễm Tử sinh vào đời nhà Chu, thờ cha mẹ hết lòng. Cha mẹ già, đôi mắt lòa không trông rõ, thèm muốn được uống sửa hươu. Diễm Tử liền lấy da hươu khô làm áo mặc vào giả hươu con vào rừng đến gần các hươu mẹ có sửa, vắt lấy đem về dâng cho hai thân. Một hôm, Diễm Tử gặp bọn săn tưởng lầm là hươu, dùng cung tên toan bắn Diễm Tử vội vàng bỏ lớp hươu ra trình bày mọi lẽ, bọn thợ săn thôi không bắn nữa.
Nguyên bản:
Thân lão tư lộc nhữ,
Thân phi lộc bì y,
Nhược bất cao thanh ngữ,
Sơn trung đới tiền quy.
Có nghĩa là:
Cha mẹ già thèm uống sửa hươu,
Mình khoác lên vai lớp áo da hươu,
Nếu không kịp kêu la to tiếng,
Bị trúng phải tên bắn trong núi.
Diễn Quốc âm:
Chu Điễm Tử làm con rất thảo,
Chiều hai thân tuổi lão cao niên,
Mắt trần khuất nguyệt mờ sao,
sửa hươu người những ước ao từng ngày,
Vật khó kiếm thường khôn hay thường đôi,
Phải lo phương tìm tỏi cho ra,
Hươu khô tìm lấy lột da.
Mặc làm sắc áo để hòa lẫn theo.
Chốn non thẳm tìm vào bầy lứa,
Sẽ dần dà lấy sửa nuôi thân,
Bỗng đâu gặp lũ đi săn,
Rắp buông cung bắn không phân vật người.
Đem tâm sự tới nơi bày tỏ,
Chút hiếu tình nghe rõ cũng thôi,
Cho hay cung một tính trời,
Mảnh son cũng động được người vũ phu.

TRUYỆN THỨ VII – Lão Lai Tử

9814446_205038479000_2.jpg

 

Lão Lai Tử vốn người ở nước Sở, sinh vào đời Xuân Thu, đã 70 tuổi mà cha mẹ vẫn còn sống, ông thờ cha mẹ rất có hiếu. Không muốn cha mẹ thấy con già nua mà lo buồn, ông thường mặc áo sặc sỡ, rồi tay múa miệng hát trước mắt cha mẹ. Lại có khi bưng nước hầu cha mẹ, ông giả vờ trợt té rồi ngồi khóc oa oa trước mặt cha mẹ như trẻ nít mới lên 5, 3 tuổi vậy. Cha mẹ vui cười trước trò ngộ nghĩnh của con mình.
Nguyên bản:
Hý Vũ học Kiều sy
Xuân phong động thái y
Song thân khai khẩu tiếu,
Hỷ sắc mãn đình vi.
Có nghĩa là:
Chơi đùa như tuồng trẻ con,
Gió xuân lay động áo hoa sặc sỡ,
Cha mẹ cùng nhau mở miệng cười,
Cảnh nhà cửa đầy cả cửa nhà.
Diễn Quốc âm:
Lão Lai Tử đời Chu, cao sĩ,
Thờ hai thân chẳng trễ ngọt bùi,
Tuổi già đã đúùng bảy mươi,
Nói năng chẳng chút hở môi rằng già,
Khi thong thả mẹ cha ngồi trước,
Ghé gần vào bắt chước trẻ thơ,
Thấp cao điệu múa nhởn nhơ,
Xênh xoang màu áo bạc phơ mái đầu,
Chốn đường thượng khi hầu bưng nước,
Giả làm điều ngã trước thềm hoa,
Khóc lên mấy tiếng oa oa,
Tưởng chừng lên bảy lên ba thuở nào.
Trên tuổi tác trông vào vui vẻ,
Áng đình vi gió thụy mưa xuân,
Cho hay nhân thử sự thân,
Trong trăm năm được mấy lần ngày vui.

TRUYỆN THỨ VIII – Đồng Vĩnh

128199_161600948000_2.jpg

 

Người đời nhà Hậu Hán, nhà tuy nghèo nhưng Vĩnh rất hiếu thảo. Khi cha chết trong nhà không tiền để lo việc ma chay cho ấm cúng, Vĩnh liền đến làng khác vay tiền một người nhà giàu, hứa sẽ dệt trả công 300 tấm lụa để trả vào số tiền mượn, số tiền công dệt lụa kia trội hơn gấp mấy lần tiền vay. Vay được tiền Đồng Vĩnh về lo việc tang ma cho cha xong xuôi, thu xếp việc gia đình định đến nhà người nhà giàu để dệt trả công. Dọc đường Đồng Vĩnh gặp người con gái cùng nhau hứa hẹn kết làm chồng vợ, nhưng hẹn dệt xong 300 tấm lụa, rồi sau sẽ thành hôn. Người con gái này giúp Vĩnh dệt xong 300 tấm lụa rất nhanh để trả món nợ cho người nhà giàu .
Khi cả hai cùng trở về đến ngay chỗ gặp, người con gái lúc trước, nàng ấy biến mất. Đó là vì lòng hiếu thảo của Đồng Vĩnh động lòng Trời sai tiên nữ xuống giúp.

Nguyên bản:
Táng Phụ thải khổng phương,
Tiên cô lộ thượng phùng,
Chức khiêm thường trái chủ,
Hiếu cảm động thượng khung.
Có nghĩa là:
Vay tiền để chôn cất cha già,
Giữa đường liền gặp nàng tiên,
Dệt lụa trả công chủ nợ,
Lòng hiếu cảm động đến Trời.
Diễn Quốc Âm:
Đời Hậu Hán có người Đông Vĩnh.
Nhà rất nghèo mà tính rất thành,
Thấu chăng, chẳng thấu trời xanh.
Phụ tang để đo, nhân tình còn chi,
Liều thân thể làm thuê công việc,
Miễn cầu cho thể phách được yên.
Cực người thay, nhẽ đồng tiền,
Đem thân hiếu tử, băng miền phú gia.
Bỗng gặp kẻ đàn bà đâu đó.
Xin kết làm phu phụ cùng đi,
Lụa ba trăm tấm dệt thuê,
Trả xong nợ ấy mới về cùng nhau.
Tới chốn gặp bỗng đâu thoắt biến.
Là tiên cô trời khiến giúp công,
Mới hay trời vốn ở lòng,
Há rằng cao thẳm nghìn trùng mà xa.

TRUYỆN THỨ IX – Quách Cự

9814446_205110892000_2.jpg

 

Người đời nhà Hán, thờ mẹ chí hiếu, nhân khi cửa nhà sa sút, thường bữa ông thấy mẹ không dám ăn no, cứ bớt phần cơm để đưa cho con của ông mới vừa lên 3 tuổi ăn. Hai vợ chồng cùng nhau bàn bạc: Mẹ già không đủ ăn, mà vợ chồng ta còn sinh đẻ được, nếu để con mình chia xẻ ngọt bùi của mẹ là không phải đạo. Thế rồi hai vợ chồng định đào hố chôn con đi. Khi hai vợ chồng đào hố xuống chừng được phân nữa, thì bỗng tìm thấy một hủ vàng, trên miệng có đề hàng chữ:
Hiếu Tử Quách Cự, Hoàng Kim nhất hủ dung dĩ tứ nhữ.
Nghĩa là: Người con hiếu là Quách Cự một hủ vàng đầy để cho nhà ngươi. Nhờ đó mà hai vợ chồng khỏi phải chôn con và có đủ tiền phụng dưỡng mẹ già.

Nguyên bản.
Quách Cự tự cung cấp,
Mai nhi nguyệt mẫu tồn.
Hoàng kim thiên sở tứ,
Quang thái chiếu hàn môn
Có nghĩa là:
Quách Cự chỉ lo phụng dưỡng mẹ,
Đem chôn con để mẹ được sống.
Trời cho đào được hủ vàng,
Đương nghèo trở nên giàu có.
Diễn Quốc âm:
Hán Quách Cự cửa nhà sa sút,
Thờ mẫu thân chăm chút mọi bề.
Con còn ba tuổi biết gì,
Bữa ăn từ mẫu thường thì bớt cho.
Trông thấy mẹ bữa no, bữa đói.
Với hiền thê than nỗi khúc nôi,
Mẹ già đã chẳng hay nuôi.
Để con xẻ ngọt chia bùi sao đang,
Vợ chồng ta còn phen sinh đẻ.
Mẹ già rồi hồ dễ được hai,
Nói thôi! giọt vắn giọt dài,
Đào ba thước đất để vùi tình thâm.
May đâu thấy hoàng câm một hu,
Chữ Trời cho đề rõ rành rành,
Cho hay trời khéo ngọc thành.
Hiếu tâm đâudễđoạn tình cha con.

TRUYỆN THỨ X – Khương Thi

9814446_142159291000_2.jpg

 

Người đời Hán có vợ là Bàng Thị, cả hai vợ chồng đều hiếu thảo. Mẹ chồng muốn uống nước sông, hàng ngày Bàng Thị phải đi thật xa, để gánh nước về. Trời rét, mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, vợ chồng cố tìm cho đủ đem về. Lại sợ mẹ ở một mình buồn bực, nên thường mời các bà bên cạnh đến chơi. Về sau, tự nhiên ở bên cạnh nhà có suối nước ngọt chảy ra giống như vị nước sông, hàng ngày lại có hai con cá chép đủ làm gỏi cho mẹ dùng. Từ đó, Bàng Thị và chồng không phải đi quảy nước xa, và kiếm cá nữa.

Nguyên bản.
Xá trắc cam tuyền xuất,
Thất triêu song lý ngư.
Tử năng tri sự mẫu.
Phụ cánh hiếu ư cô
Có nghĩa là:
Bên nhà có suối nước ngọt chảy,
Mỗi ngày có hai con cá chép.
Con trai biết đạo thờ mẹ.
Con dậu hiếu để với mẹ chồng.
Diễn Quốc âm:
Hán Khương Thị nhà còn lão mẫu,
Vợ Họ Bàng vẹn đạo chữ tòng,
Mẹ thường muốn uống nước sông.
Vợ từng đi gánh thay chồng hầu cô,
Mẹ thường muốn ăn đồ gỏi ghém.
Vợ chồng đều tìm kiếm đủ mùi,
Lại mời lân ẩu sang chơi,
Để bồi cùng mẹ cho vui bạn già,
Bên nhà bỗng chảy ra suối ngọt.
Với nước sông in một mùi ngon.
Lý Ngư ngày nhảy hai con,
Đủ trong cung cấp thần hôn thường lề.
Rày thong thả bỏ khi lận đận.
Cam thỏa lòng dâu thuận, con hiền,
Cho hay gia đạo khi nên.
Đã con hiếu, lại được hiền cả dâu.

TRUYỆN THỨ XI – Thái Thuận

9814446_143535429000_2.jpg

 

Người đời nhà Hán, mồ côi cha từ thuở còn bé, nhà rất nghèo. Thái Thuận hết lòng thờ mẹ. Gặp năm mất mùa đói kém vì loạn lạc, Thái Thuận vào rừng tìm trái dâu về để ăn thay cơm. Được trái nào chín, Thuận để qua một bên, trái nào vừa đỏ để qua một bên khác. Gặp tướng Xích My đi ngang qua, trông thấy hỏi Thuận vì cớ nào lại phải lựa dâu để riêng ra như vậy. Thuận liền đáp: Trái nào chín ngọt dành phần cho mẹ tôi, trái nào đỏ còn chua, đó là phần của tôi. Tướng giặc khen Thuận là người con hiếu, liền truyền quân lính cho một thúng gạo và một đùi thịt trâu để khen thưởng.
Nguyên bản:
Hắc Thầm phụng huyên vy,
Đề cơ lệ mãn y,
Xích My tri hiếu thuận,
Đẫu mễ tặng quân quy
Có nghĩa là:
Quả dâu chín đen để biếu mẹ.
Bụng đói nước mắt chảy thấm áo,
Giặc Xích My biết là người hiếu.
Tặng cho thúng gạo mang về.
Diễn Quốc âm:
Người Thái Thuận ở sau Đời Hán.
Dạ thờ thân tiết loạn khôn lay,
Đường cơn khói lữa mây bay,
Liền năm hoang khiểm, ít ngày đủ no.
Nơi rừng rậm kiếm đồ nuôi mẹ,
Nhặt quả dâu chia để làm hai,
Tặc đồ trông thấy nực cười.
Hỏi: Sao bày đặt hai nơi cho phiền?.
Rằng Quả ấy sắc đen thì ngọt,
Dâng mẹ già gọi chút tình con.
Còn là sắc đỏ chẳng ngon,
Cái thân cay đắng dám còn sợ chua,
Giặc nghe nói khen cho hiếu kính.
Bước lưu ly mà gánh cương thường,
Truyền quân tiền của sẳng sàng.
Vó tr6au một chiếc, gạo lương một bầu,
Mừng trong dạ bước mau nhẹ gót,
Về tới nhà, miếng sốt dâng qua,
Cho hay người cũng người ta,
Biết đâu đạo tặc chẳng là lương tâm?

TRUYỆN THỨ XII – Đinh Lan

20120307130131133.jpg

 

Người đời nhà Hán, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, khi trưởng thành, nhớ công ơn cha mẹ, thuê thợ tạc tượng cha mẹ bằng gỗ để thờ phượng. Ngày dâng hai bữa cơm, tối đến lại lo quạt màn, sửa soạn gối chăn, hầu hạ chăm nom in như hồi cha mẹ còn sống. Phụng thờ như vậy trong mấy mươi năm. Về sau, vợ Đinh Lan sinh chán nản, lại dùng kim châm vào kẻ tay trượng gỗ xem có gì lạ không. Không ngờ nơi ấy cứ nhỏ từng giọt máu tươi xuống mãi.
Đến bữa, Đinh Lan bưng cơm vào cúng, nhìn thấy tượng gỗ rươm nước mắt, kẻ tay lại chảy máu. Ông biết là vợ đã châm kim vào tay cha mẹ, liền đuổi bỏ người vợ ngay.
Nguyên bản:
Khắc một vi phụ mẫu,
Hình dung tại nhật thần,
Ký ngôn chư tứ diệt,
Các yếu hiếu song thân.
Có nghĩa là:
Tạc gỗ làm tượng thờ cha mẹ,
Thờ phượng giống như khi sống,
Nhắn bảo các con cháu,
Mọi người nên hiếu với cha mẹ
Diễn Quốc Âm:
Hán Đinh Lan thuở còn thơ ấu,
Bóng xuân huyên khuất dấu non xanh.
Đến nay tuổi đã trưởng thành,
Cám công sơn hải, thiệt tình trân cam.
Tưởng dung mạo khắc làm mộc tượng,
Cứ bữa thường phụng dưỡng như sinh,
Khi chăn gối, buổi cơm canh,
Mấy mươi năm, vẫn lòng thành trước sau,
Phải người vợ kính lâu nên trễ,
Thử lấy kim châm kẻ ngón tay
Bỗng đâu giọt máu chảy ngay,
Ai hay tượng gỗ lâu ngày thiêng sao?
Khi đến bữa chồng vào đặt lễ
Mắt tượng rơi hàng lệ chứa chan
Xét xem mới biết nguồn cơn,
Nỗi bừng lá giận, dứt tan dây tình.
Há phải nhẫn, mà đành phụ nghĩa,
Hiếu với tình nặng nhẹ phải cân,
Cho hai thành hẳn lên thần,
Há rằng u hiển, mà phân vân, tồn.
Tiếp trang cuối>>


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 1.184
  • 327
  • 3.702
  • 927
  • 988.362
  • 231.673