Thần tiên Việt Nam

Đoán Án Kỳ Quan Ôn Hòa Cảm Hóa Hung Tàn Độc Ác – Đạo Giáo Thần Tiên 道教神仙

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 6 (A)

Ôn Hòa Cảm Hóa Hung Tàn Độc Ác,
Khinh Thường Nhu Nhược

 

Đọc trong sách xưa, thấy anh em gắn bó khắng khít như chân với tay. Cái quý nhất trên đời là tình đồng bào, song không thể so sánh với tình anh em ruột thịt. Đừng có cướp đoạt của cải ruộng vườn của người khác. Tất cả những cái đó đều là của phi nghĩa. Hiểu được điều đó thì thật là có ích.
Đáng cười thay, thế thái nhân tình điên đảo. Tình vợ chồng thì hòa hợp, nhưng tình anh em thì ngày càng mai một. Họ không nghĩ đến tình anh em, mà lại nghe những lời nói bên chăn gối. Thiên tính ngày càng mất đi, lửa tham ngày càng bùng cháy, luôn xảy ra tranh chấp. Đâu được ngưu hoàng(1) mà giết bừa trâu ăn thịt. “

(1) Ngưu hoàng: một chất trong trâu ốm tiết ra, ngưng kết thành hạt, hoặc thành từng miếng. Đây là một vị thuốc Đông y rất quý.
Đây là bài từ theo điệu “Niệm nô kiều”. Nó khuyên anh em nên sống hòa thuận với nhau. Anh em ruột thịt, lúc hợp lúc tan. Anh em ruột thịt, như chân với tay. Cùng một cơ thể sinh ra, nếu như mất một cánh tay thì chân đi tập tễnh. Các bạn thân mến, không nên cho rằng đây là những điều tôi bịa ra cho có vẻ li kì. Rằng, thiên hạ làm gì có người ngu si, chặt tay mình cho người khác xem, rằng, điều ấy không có đối chứng. Song, lời tôi nói tuy có hơi kì lạ, nhưng cũng không hẳn là sai. Nếu không tin các bạn thử bắt chéo tay lại, chạy thật nhanh khoảng một trăm bước, liệu có được không? Bạn sẽ thấy lời tôi nói là đúng sự thực. Những người bại liệt không có chân, phải dùng hai tay bò, mà cũng không bò được xa. Bởi thế anh em phải hòa thuận. Không phải chỉ anh em cùng cha mẹ sinh ra mới hòa thuận, mà ngay cả anh em cùng cha khác mẹ cũng không vì thế sinh ra hiềm khích. Tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện, anh em cùng cha khác mẹ luôn gây gổ hiềm khích nhau, nhưng may lại có một người như Mẫn Tử Khiên, đã dẹp được những mối hiềm khích.

Thời Chính Đức triều Minh, tại huyện Lô Lăng, phủ Cát An, Giang Tây, có một người họ Bình tên là Bình Trường Phát, gia sản của ông ta tới hàng trăm vạn. Viễn thị vợ Bình Trường Phát sinh được một con trai, tên là Bình Thành. Một hôm vì công việc. Bình Trường Phát phải đi xa. Biết được đây là nhà giàu có, chủ nhà lại đi vắng, đêm ấy, hàng trăm tên cướp đã xông thẳng vào nhà cướp bóc. Nhà họ Bình chỉ có mấy chục người, không sao chống đỡ nổi, bị chúng đuổi bắt, rồi vơ vét hết của cải. Viễn thị là người có nhan sắc cũng bị chúng bắt đi. Bình Thành thấy mẹ bị mấy tên cướp lôi ra khỏi cửa, chạy tới níu áo mẹ khóc thảm thiết. Một tên rút dao định chém Bình Thành. Viễn thị vội quỳ xuống cầu xin:
– Tôi chỉ có một đứa con này, xin các ông tha cho nó, tôi nguyện sẽ đi theo các ông!

Tên cướp buông tay. Thấy Bình Thành cứ nức nở khóc, Vưu thị thương con không muốn xa, đành bế nó đi theo.
Hôm sau Bình Trường Phát cùng mấy người trở về, biết được tất cả mọi chuyện xảy ra đều do bọn cướp trên núi, báo quan cũng chẳng làm gì được chúng. Gia tư nhà họ Bình có tới hàng trăm vạn, một nửa là ruộng, vườn, ao hồ; bốn phần nữa là cửa hàng buôn bán rải rác ở một số nơi. Bọn cướp chỉ lấy đi một phần mười gia tài, nên Bình Trường Phát vẫn còn giàu có. Người vợ trước bị cướp mất, Bình Trường Phát lấy vợ khác là Cam thị. Sống với nhau đã được bốn năm năm mà Cam thị không có con, Bình Trường Phát rất buồn và muốn có đứa con trai để nối dõi. Thấy nhà họ Trương có người con gái xinh đẹp, Bình Trường Phát bỏ tiền cưới cô về làm thiếp. Song đúng vào lúc lấy vợ lẽ thì Cam thị lại có mang, sinh được đứa con trai. Người ta nói đùa với bà rằng, bà lo lắng quá mới đẻ được con.
Bình Trường Phát đặt tên con là Bình Y. Năm sau Trương thị sinh con trai, đặt tên là Bình Bạch. Sau, Cam thị lại sinh được hai con trai, đặt tên là Bình Thân và Bình Phẫu. Trương thị cũng sinh thêm được hai người, nhưng đều ít tuổi hơn Bình Phẫu, đó là Bình Duật, và Bình Lâu. Lúc nhỏ, sáu đứa con vẫn chơi với nhau bình thường, đến khi lớn lên, Bình Y trở thành kẻ vô lễ. Y oán hận cha vì đã lấy vợ lẽ, không bằng lòng chia gia tài làm ba. Bình Y cho Bình Bạch, Bình Duật, Bình Lâu là loại hèn hạ, không nhận là anh em, hắn lại còn liên kết với Bình Thân và Bình Phẫu thành một phe, ra mặt coi khinh ba người kia. Bình Bạch con của Trương thị là người hiếu thuận, không suy bì tính toán thiệt hơn. Bình Duật và Bình Lâu thấy bị coi khinh rất bất bình, đã mấy lần bàn với Bình Bạch báo thù, song Bình Bạch ngăn trở. Thấy các con bất hòa, nhân lúc còn sống Bình Trường Phát chia gia tài, mấy năm sau Bình Trường Phát chết. Khi cha chết, Bình Y càng ra mặt coi khinh ba người em do mẹ kế sinh ra. Bình Bạch biết hai em mình rất căm tức Bình Y, nên nhiều lần đã dùng lời hơn lẽ thiệt khuyên nhủ, can ngăn Bình Duật, Bình Lâu không được gây ra tai họa. Hai người em thấy anh hết lòng dạy bảo đành nén giận, không dám trái lời. Bọn Bình Y thì vẫn khinh ghét họ như trước.

Bình Y có một người con gái, gả cho con trai Chu Hiếu Tư, người cùng huyện. Do mắc bệnh hiểm nghèo con gái Bình Y chết. Gia đình Chu Hiếu Tư cho người đến nhà họ Bình báo, được tin Bình Y vô cùng oán hận, cho rằng gia đình thông gia họ Chu không thương yêu con gái mình, để đến nỗi mắc bệnh chết. Bình Y hằm hằm tức giận bảo Bình Bạch cùng với anh em họ đến gây gổ. Bình Bạch ngăn lại nói:
– Anh ạ, chúng ta không nên làm thế, người xưa thường nói “chết có số”, số cháu năm nay chết, nếu còn ở nhà, chưa đi lấy chồng thì nó cũng chết. Hơn nữa, quan hệ mẹ chồng nàng dâu xưa nay chẳng có điều tiếng gì. Nay cháu chết, bên ấy họ cũng đau xót chứ, sao anh lại đến đó gây sự, làm như thế là không nên. Anh đừng đến đó nữa.
Bình Y thấy Bình Bạch không nghe theo, bực tức nói:
– Con gái anh, nó còn trẻ khỏe như thế, lẽ nào vừa mắc bệnh đã chết. Con gái chú, năm ngoái ốm, năm nay cũng ốm, sao không chết? Chú không muốn đi với chúng tôi thì thôi, chú đừng tin vào số mệnh nữa. Tôi thật không sao hiểu được.
– Anh đừng nghĩ, do anh em xích mích nên tôi không đi.
– Bình Bạch nói. – Quả thực việc này không thể làm được, anh hãy suy nghĩ kĩ những lời em nói. Không đi mới thục sự là tình cảm anh em.
Bình Y không thèm trả lời, giận dữ bỏ đi. Bình Bạch khuyên nhủ nhiều lần, nhưng Bình Y vẫn không từ bỏ ý định. Bình Bạch biết dù có khuyên can nữa thì cũng vô ích, nên chỉ buồn rầu than thở.

Bình Y hẹn với Bình Thân, Bình Phẫu tập hợp một số tên vô lại trong họ, cùng một số trai tráng khác, tất cả hơn mười người, sồng sộc kéo nhau đến nhà họ Chu. Chu Hiếu Tư đang tiễn khách ngoài cửa, nhìn thấy bọn họ định ra tiếp đón, song lại thấy người đến rất đông, người nào người nấy mặt cứ hằm hằm. Chu Hiếu Tư bèn chạy vào trong nhà theo dõi, vào tới cửa bọn Bình Y đã quát thét chửi bới. Mấy người thân thấy ầm ĩ chạy vào khuyên can, song bọn người này bất chấp, tất cả xông thẳng vào nhà tìm bà thông gia. Thấy họ xông vào, bà thông gia chạy xuống bếp ẩn nấp, rồi bà nghe thấy tiếng quát: “Nó không ở đây, Phải ra đằng sau tìm ngay!”. Bà thông gia vội chui vào bếp, song chỉ chui được nửa người, may mà có bó rạ che đi. Trong lúc vội vàng chúng không nhìn thấy, chúng bèn bắt đứa ở ra tra khảo, đứa ở không chịu nói, Bình Thân vớ ngay chiếc búa bổ củi dựa ở chân cột định giết. Sợ quá đứa ở buộc phải nói:
– Vừa thấy bà chủ xuống bếp, chắc rằng ở đằng sau.

Chúng chạy ùa cả xuống bếp lục soát, thấy hai chân bà thòi ra ngoài cửa bếp, bèn lôi ra, lột hết quần áo. Trên gác bếp sẵn có củi cành, mỗi đứa rút một thanh đánh bà túi bụi. Khi thấy khắp người bà sưng húp, thâm tím chúng mới dừng tay. Bình Y lấy một chiếc khóa dây tròng vào cổ, lôi đến khóa vào chân người chết. Bọn chúng lại xúm vào chửi bới hết sức độc địa, sau lại ra hố xí lấy cứt nhét vào mồm bắt bà ăn. Mấy tên vô lại đang hành hung bà thông gia thì thấy có tiếng quát bên ngoài, một số người ập vào. Bọn chúng tưởng đó là tốp người nhà họ Chu tới đánh, định chống lại, nhung đấy lại là người của quan trên cử đến, do Chu Hiếu Tư dẫn về. Người dẫn đầu tay cầm lệnh bắt, nói:
– Quan trên có lệnh bắt các người.
Bọn người ấy sững ra đứng im để những người thi hành công vụ lấy khóa, khóa tất cả lại, rồi cởi chiếc khóa ở cổ bà thông gia khóa Bình Y, giải đi.
Hùng hổ ra oai đánh đập người
Cùm chân tất cả thật đáng đời.

Vốn là, Chu Hiếu Tư đứng sau cửa, nhìn thấy bọn người ấy hùng hổ ập vào nhà, ba người con trai lại chưa về, một mình địch sao nổi chúng, bèn vội vã thoát ra ngoài, hộc tốc tới huyện báo quan. Đúng lúc quan huyện đang ở công đường, tức khắc ra lệnh bắt, bởi thế mới nhanh như vậy. Ngay lúc ấy, công sai giải bọn Bình Y tới, Chu Hiếu Tư quỳ trước công đường vừa khóc vừa tố cáo việc hành hung của bọn người vô lại.
Quan huyện nghe thấy vô cùng tức giận, cho lính hầu đánh mỗi tên bốn mươi gậy, sau đó hỏi tội. Bọn lính lệ kéo Bình Y ngã sấp, đánh túi bụi. Quan huyện lúc ấy đang xử bọn Bình Y thì có hai viên thừa sai của quan phủ vào, nói có việc khẩn cấp mời quan huyện đi ngay, thật là may cho bọn Bình Y. Biết quan phủ có việc khẩn cấp, nên quan huyện không dám coi thường, dặn mọi người giam bọn Bình Y lại, lập tức lên kiệu tới phủ đường. Chu Hiếu Tư cùng mọi người ra về.
Thấy anh không nghe lời, Bình Bạch rất lo lắng, ông sai người tới nhà họ Chu nghe ngóng. Lát sau trở về nói với Bình Bạch rằng, họ đã đến nhà họ Chu hành hung, bị công sai bắt giải lên huyện rồi. Bình Bạch nghĩ: “Nguy rồi, ta biết quan huyện là người rất cứng rắn và quyết đoán. Chuyện này làm sao mà ông ấy xử lí nhẹ được”. Rồi Bình Bạch bảo: “Lấy ra đây cho ta bộ quần áo!” Vốn là, trong sáu anh em, thì Bình Bạch là người có học hành, có danh vọng, đã đỗ tú tài. Người dân trong vùng có việc gì khó khăn ở huyện đường đến nhờ, anh đều giúp đỡ. Bình Bạch mặc áo mầu lam, gọi người cùng lên huyện, song quan huyện lên phủ chưa về. Bình Bạch bèn bỏ một tờ giấy vào chiếc hòm đựng đơn từ tại cửa huyện đường, rồi ra chờ ở phòng tiếp khách. Lát sau thì quan huyện về, nhận được giấy của Bình Bạch, ông cho gọi ngay Bình Bạch. Bình Bạch là người đức độ và ngay thẳng, quan huyện rất nể phục. Gặp nhau họ chào mấy câu xã giao, hỏi han chuyện trò, tới khi trời gần tối, quan huyện mời Bình Bạch ở lại dùng cơm. Vì có việc muốn nói, nên Bình Bạch không từ chối, nhân lúc uống rượu. Bình Bạch nói tới chuyện vừa xảy ra, xin ông cho qua việc này. Quan huyện nói:
– Vì việc ấy mà anh đã đến đây, lẽ ra tôi phải giúp anh, nhưng đây là hành động phi pháp, giải quyết vụ này rất khó. Anh bảo tôi nên xử thế nào?
Bình Bạch chau mày nói:
– Phép công là thế, là cha mẹ của dân, mà xử phạt theo tình riêng làm trái pháp luật quả là khó. Số tôi thật long đong vất vả!
Rồi ông kể hết cho quan huyện nghe nỗi khổ của mình, đã khuyên giải các anh nhưng họ không nghe, ông nói:
– Nay thấy họ chịu tội, lòng tôi đau như cắt.
Nói xong, nước mắt ông ứa ra, nhỏ xuống chén rượu. Quan huyện thấy thế thương tình nói:
– Tình yêu thương của anh như thế, lẽ nào tôi lại không thương. Anh đừng đau buồn nữa. Song phải làm thế nào khuyên nhà họ Chu nguôi giận, thì việc này mới giải quyết được.
Bình Bạch vội cảm ơn, nói:
– Tôi vô cùng biết ơn lòng tốt của quan, tôi sẽ sang bên ấy nhận tội.
Từ biệt quan huyện ra về, canh hai Bình Bạch tới nhà họ Chu gõ cửa. Chu Hiếu Tư vẫn còn thức, ba đứa con cũng đã về biết chuyện xảy ra, họ nghiến răng căm giận. Thấy tiếng Bình Bạch bên ngoài, họ chạy ùa ra định trút cơn thịnh nộ, song . Chu Hiếu Tư ngăn lại, nói:
– Các con không được lỗ mãng, anh em nhà ấy chỉ có ông là người đạo đức. Việc xảy ra hôm nay nhất định ông ấy không liên quan. Các con hãy ở lại, để mình ta ra gặp là được rồi.
Chu Hiếu Tư trở ra, Bình Bạch vội quỳ xuống nói:
– Tội em đáng chết.
Chu Hiếu Tư vội quỳ xuống đỡ ông dậy, nói:
– Anh có gì cần dạy bảo, xin mời anh vào nhà, ta nói chuyện. Nếu anh thế này, em cũng phải quỳ, như thế sao tiện.
Lúc ấy Bình Bạch mới đứng dậy. Chu Hiếu Tư mời vào trong nhà. Bình Bạch nghẹn ngào không nói thành lời, nước mắt rơi lã chã, lúc lâu mới nói:
– Số em thật không may, gặp phải những người anh ngỗ ngược. Hôm nay họ đã xúc phạm đến gia đình anh, thấy thế em như ngồi trên đống lửa. Nay đã bị bắt, đúng là gieo gió gặt bão, song em là anh em của họ, sao có thể đang tâm thấy họ bị tra khảo đánh đập? Bởi thế đêm nay em đến đây, cầu mong anh ra ơn cho đứa em này.

Chu Hiếu Tư thấy Bình Bạch xin tha cho Bình Y, ông rất không muốn, nhưng vì Bình Bạch là người quân tử, trung hậu, không thể xem thường, chỉ nói :
– Việc ấy đã đưa lên cửa quan, bàn với em cũng vô ích thôi. Em nghĩ rằng, quan huyện quyết không che chở cho riêng em, xin anh cứ yên tâm.
Bình Bạch thấy ông ta vẫn chưa nguôi giận, chỉ biết kêu thương, van nài. Song Chu Hiếu Tư chỉ nói:
– Thôi thì cứ theo phủ quan phân xử, còn nếu bảo em rút đơn thì em thấy không được.
Bình Bạch thấy Chu Hiếu Tư vẫn không tha thứ, lại khóc lóc van xin.
– Không giấu gì anh, quả thực, vừa rồi em đã lên huyện xin, quan cũng chịu xử lí nhẹ, nhưng còn chờ anh mở rộng đường sống, thì việc này mới xong.
Chu Hiếu Tư nghe thấy quan huyện định tha, song lại nghĩ:
“Quan đã hứa với người ta, thì ngày mai phải đánh tho bọn độc ác ấy mấy gậy, cũng coi là xử lí công tâm, thì tội gì mà mình không thể tất nhân tình với anh ta”. Thế rồi Chu Hiếu Tư nói:
– Em chỉ sợ quan huyện nói là hôm nay kiện, ngày mai lại thôi, quở trách em là đồ phản phúc, bởi thế em do dự. Quan huyện đã bằng lòng tha, hơn nữa anh đêm hôm cất công tới đây thì sao em lại tiếc một tờ giấy xin thôi kiện, ngày mai em sẽ cùng anh đi đệ đơn.
Bình Bạch nghe xong rất mừng, quỳ xuống tạ ơn. Chu Hiếu Tư đỡ dậy, rồi tiễn Bình Bạch ra khỏi cửa. Về tới nhà đã là canh tư.
Hôm sau Bình Bạch cùng Chu Hiếu Tư lên huyện đệ đơn xin thôi kiện. Quan huyện gọi bọn Bình Y ra, quát:
– Bọn ngươi mặc sức làm càn, không kiêng nể ai. Bản huyện định xử tử các ngươi, nhưng vì anh các ngươi đến cầu xin, nên đã nguôi giận đôi chút, bởi thế ta tha cho các ngươi. Lần sau còn hành hung như thế, ta quyết không tha thứ.
Bọn người ấy cúi đầu cảm tạ, quan huyện lại bảo phải cúi đầu nhận tội trước mặt Chu Hiếu Tư ngay tại công đường, chúng không dám trái lời. Thật là:
Cá mắc lưỡi câu may thoát chết
Vẫy đuôi cút thẳng chẳng ngoái đầu.
Bình Y về nhà không những không cảm ơn người em đã can mình, ngược lại vẫn hận thù Bình Bạch đã không cùng mình đi gây sự. Bình Bạch cũng chẳng thèm để ý đến.
Mấy hôm sau, mẹ Bình Bạch mắc bệnh chết. Lẽ ra bọn Bình Y phải để tang một năm, song bọn họ không tuân theo luật lệ. Trong ngày tang lễ đầu tiên, người chết chưa nhập quan. Bình Y và hai đứa em cùng mẹ đã ngồi ở hiên nhà bên chơi trò đố rượu, hò reo cho tới sáng, bọn chúng không hề bén mảng tới trước linh sàng. Bình Duật, Bình Lâu uất ức không chịu nổi, đòi cùng với Bình Bạch kéo nhau đến mắng chửi. Bình Bạch nói:
– Đây là bản thân chúng vô đạo đức, chẳng hại gì đến chúng ta, dù có đến tìm chúng thì chúng cũng chẳng thèm để ý mà ngược lại còn bị chúng đánh chửi.
Hai người em đành thôi. Mấy hôm sau, anh em Bình Bạch đưa quan tài Trương phu nhân đi chôn cất. Khi ấy, Cam phu nhân đã mất từ lâu, an táng cùng với Bình Trường Phát. Bình Bạch muốn an táng mẹ bên cạnh cha, nhưng Bình Y, Bình Thân và Bình Phẫu ngăn lại không cho chôn, chúng nói:
– Mảnh đất này của con gái nhà họ Điền, cách đây hai năm chúng tôi mua về để đó, sao người chết lại đưa đến đấy chôn.
Bình Duật, Bình Lâu thấy vô lí, muốn xông tới đánh. Bình Bạch ngăn lại, rồi tìm một mảnh đất khác chôn mẹ.
Hai tháng sau, vợ Bình Y mắc bệnh chết, Bình Bạch gọi hai em cùng đến cúng lễ. Bình Duật nói:
– Họ chẳng coi mẹ mình ra gì, thì chúng ta cũng chẳng chị em gì nữa! Lần này chúng ta cũng không đi.
Bình Bạch khuyên nhủ mãi, nhưng hai người chỉ cười khẩy bỏ đi. Bình Bạch đành phải đi một mình tới lễ bái, khóc lóc. Song anh thấy Bình Duật và Bình Lâu, người thì thổi sáo, người thì hát hò vui đùa ở gian nhà bên cạnh.
Bình Y thấy thế giận dữ nói:
– Ở bên này có tang, thế mà hai đứa ở gian bên kia vẫn hát xướng, thật là vô đạo đức!
Thế rồi Bình Y sai Bình Thân và Bình Phẫu tới đánh. Bình Bạch cũng mang gậy chạy tới. Vừa đi vừa quát mắng ầm ĩ, chỉ sợ hai người em bị đánh đập, nên cố ý đánh động cho hai người kia chạy trốn. Bình Duật nghe thấy tiếng quát thét bỏ chạy, còn Bình Lâu, vì mấy hôm trước đi ủng, chân bị toạc da nên chạy chậm. Bình Bạch tới nơi, dùng gậy quật vào người nói:
– Sao mày không tới linh sàng cúng, mà còn ở đây hát xướng?
Bình Lâu chưa kịp trả lời thì bọn Bình Y tới, đứa cầm then cửa, đứa cầm gậy đánh túi bụi, bất kể vào đâu. Thấy bọn chúng đánh Bình Lâu quằn quại, không đứng dậy được, Bình Bạch bèn ngáng người ngăn chúng lại. Thấy thế Bình Y quát:
– Sao không để chúng tao đánh cho thằng súc sinh này một trận?
– Nó tuy không tốt, – Bình Bạch nói, – song đánh như thế đủ rồi, xin các anh tha cho nó! Nếu như các anh còn muốn đánh nó, thì em xin chịu thay, chứ không nỡ thấy nó bị đánh.

Thấy vậy bọn Bình Y quay lại đánh túi bụi vào người Bình Bạch, đến nỗi mình mẩy thâm tím, sưng húp, đầu vỡ toác, máu túa ra đầm đìa, lúc ấy chúng mới chịu dừng tay.
Bình Duật trở về thấy hai người bị đánh. Bình Lâu trọng thương, không ăn uống được, Bình Bạch tuy đau đớn nhưng vẫn chống gậy đến Bình Y xin nhận tội. Không chịu nổi, Bình Duật giấu Bình Bạch tự viết đơn trình lên huyện, tố cáo Bình Y không tang mẹ kế. Quan huyện cho công sai về bắt, thấy đó là bọn người đến gây gổ ở nhà họ Chu trước đây, quan huyện rất căm giận, định xử trọng tội. Nhưng vì kính nể Bình Bạch, lại không biết ý ông, nên quan huyện cho mời Bình Bạch tới.
Bình Bạch muốn đi, nhưng khắp người đau đớn, mặt mũi thâm tím, không muốn gặp, chỉ viết một lá đơn bẩm lên, xin quan không xử phạt, rồi nhờ công sai trình giúp lên quan. Công sai hỏi vì sao Bình Bạch lại muốn như thế, Bình Bạch không chịu nói. Bình Duật đứng bên cạnh kể hết đầu đuôi, công sai nghe xong rất bất bình. Trở về, công sai dâng tờ trình lên quan. Quan huyện xem, gật đầu nói:
– Ta ngờ anh ấy không muốn xử tội, nên mới sai các người về hỏi Bình Bạch, quả nhiên đúng như thế!
– Sao anh ấy không đến, mà chỉ giao tờ trình cho các anh mang về. – Quan huyện hỏi công sai.
Công sai bèn thưa lại hết những lời Bình Duật nói. Nghe xong quan huyện đùng đùng nổi giận, lập tức sai người bắt bọn Bình Y ra công đường, quát hỏi:
– Bọn ngươi còn táng tận lương tâm hơn cả cầm thú. Ta chưa hỏi các ngươi về tội không để tang mẹ kế. Bình Bạch là người đã cứu sống các ngươi, vậy mà các ngươi lại đánh anh tàn nhẫn như thế. Hãy đánh chết nó đi.
Nói xong ông rút hết cả ống roi vất xuống đất. Sai nha cũng thấy rất bất bình, chỉ mong sao kết liễu đời chúng cho hả giận, rồi họ hùng hổ, lăn xả lôi bọn chúng ngã sấp ngã dụi. Nhưng quan huyện lại nghĩ: “Xử tử chúng sẽ làm cho người đời vui lòng, song lại làm cho Bình Bạch đau lòng. Đó chẳng phải là lẽ kính trọng người hiền”, rồi cho dừng lại không đánh nữa. Quan huyện hỏi Bình Y:
– Các ngươi trở về có còn dám coi thường anh ấy nữa không?
– Bẩm quan không dám ạ. – Bình Y nói.
Quan huyện lấy trong tay áo ra tờ giấy bẩm trình của Bình Bạch cho chúng xem, nói:
– Có người kiện các người không tang mẹ kế, lẽ ra bản huyện xử tử các ngươi. Bình Bạch không hận thù các ngươi về chuyện ấy, mà lại còn xin bản huyện tha cho các ngươi. Đã hai lần ta tha chết cho các ngươi, đều là do nể Bình Bạch, các ngươi phải hiểu thế mới được.
Ba tên cúi đầu cám ơn quan huyện. Quan huyện lại mắng chửi chúng hết sức thậm tệ, rồi mới tha về.

Đoán Án Kỳ Quan Tập 1

Chương 6 (B)

 

Tới nhà chúng vẫn cho Bình Bạch là người xấu, oán Bình Bạch không ngăn ngừa, để Bình Duật đi kiện. Đúng là “Bến mê, chúng sinh sao dễ vượt qua, người ta muốn vượt quả là rất khó”. Thấy bọn chúng lên huyện mà không bị đánh một roi nào, Bình Duật rất tức, song cũng không làm gì được. Bình Lâu cũng dần dần bình phục. Hai người vẫn cứ trách Bình Bạch, lẽ ra anh không nên viết tờ trình bẩm lên quan. Bình Bạch đã nhiều lần khuyên giải, song hai người đang tuổi tráng niên, tính khí mạnh mẽ, vẫn không chịu nghe theo anh, mà ngược lại họ ngày càng hận thù Bình Y. Ngày nào họ cũng chửi bới, Bình Bạch nghe thấy chán ngán. Trước kia Bình Bạch chỉ nhẫn nhục chịu đựng đám Bình Y, nhưng nay hai em cùng mẹ lại ương bướng, Bình Bạch vô cùng buồn rầu, nghĩ: “Ta khó mà sống được ở đây, chi bằng chuyển đi nơi khác”. Anh bèn mua một ngôi nhà ở thị trấn Bình Đồng cách nhà cũ hai mươi dặm, chẳng nói với ai, chọn ngày tốt dẫn vợ con đến sống ở đó.

Trước đây, khi Bình Bạch còn ở nhà, tuy không thiên vị bênh vực hai em, song Bình Y vẫn thấy ngại. Nay Bình Bạch đã đi hắn ngày càng lấn tới. Hai đứa em Bình Y cũng giống anh, chúng trèo qua cửa gào lên, lôi từ chân tơ kẽ tóc về Trương phu nhân ra nhiếc móc. Bình Duật, Bình Lâu muốn chống trả lại nhưng yếu thế không dám ra tay. Họ vô cùng uất hận, mỗi người sắm một con dao thật sắc luôn giắt bên người, định đâm chết chúng, ý định đó không thực hiện được, họ suốt ngày tức tối, buồn phiền.
Một hôm, Bình Thành, người đã bị bọn cướp bắt đi, nay mang vợ con trở về. Họ nói Vưu thị đã chết, vì nhớ quê hương nên đã trốn về đây. Lúc ấy cả nhà họp lại bàn cách để Bình Thành ổn định gia đình. Ba anh em Bình Y thoái thác, rằng khi cha còn sống đã chia gia tài, nay là của chúng. thì nhất định chúng không chịu bỏ ra chia cho Bình Thành. Ròng rã ba ngày liền việc ấy vẫn không giải quyết, vợ chồng con cái Bình Thành không biết bám bíu vào đâu. Bình Duật, Bình Lâu thấy thế mừng thầm, làm cơm mời họ tới khoản đãi, lại sai người đến Bình Đồng báo cho Bình Bạch. Biết được tin Bình Thành trở về, Bình Bạch rất mừng, dẫn vợ con về gặp mặt, nhường lại gian nhà của mình cho Bình Thành, rồi lại trích một phần tài sản của mình và Bình Duật, Bình Lâu cho anh. Thấy ba người này cư xử tốt như thế Bình Thành rất vui. Bỗng họ nghe thấy tiếng ba anh em Bình Y chửi bới ầm ĩ:
– Nó về thì nó phải tự tìm cách để sống chứ, chúng mày muốn làm người tốt, chia tài sản cho nó cũng phải nói với chúng tao.
Bình Thành là người từng sống với bọn cướp trên núi, tính khí ngỗ ngược, sức khỏe hơn người, nghe thấy thế đùng đùng nổi giận, nói:
– Tao về, không có cơm ăn, may được ba anh em nghĩ đến tình ruột thịt sẻ cửa sẻ nhà cho, ta mới sống được. Các ngươi lại đến tuôn ra những lời thối tha.

Thế rồi, như một con hổ, anh xông tới tống cho Bình Y một quả, làm hắn ngã dụi xuống đất cách đó tới ba trượng. Bình Thân và Bình Phẫu cùng con cháu họ xô đến, tưởng nuốt sống Bình Thành, song không ngờ anh khỏe như trâu móng, lấy tay gạt một cái tất cả đều ngã dúi dụi. Dựa vào thế Bình Thành, Bình Lâu cũng vác gậy xông tới, đánh cho bọn Bình Y một trận nên thân. Bình Bạch xông vào can, nhưng sao mà can nổi. Thấy bọn này bị đánh sứt đầu mẻ trán, máu chảy đầm đìa, họ mới ngừng tay. Bình Thành không chờ họ cáo quan, tự viết tờ nhận tội, rồi trình lên quan, nói rằng bọn Bình Y vô lễ. Quan huyện sai người mời Bình Bạch lên thương lượng. Bất đắc dĩ Bình Bạch phải lên huyện, gặp quan, anh cúi đầu khóc, không nói nên lời. Quan huyện gặng hỏi, anh chỉ đáp:
– Tôi hoàn toàn nghe theo lời quan xét xử.
Quan huyện quyết: anh em Bình Y phải giao lại điền sản cho Bình Thành; anh em Bình Bạch trước đây đã giao nhiều, nay trích ra một ít trả lại. Tất cả tài sản phải chia đều thành bảy phần. Bình Bạch nhiều lần từ chối không nhận lại, và xin quan huyện để lại số tài sản cho Bình Y nhiều hơn, quan huyện không nghe.
Từ đó Bình Bạch vẫn sống ở trấn Bình Đồng, Bình Thành sống chung với Bình Duật, Bình Lâu. Họ kể hết cho Bình Thành nghe mọi chuyện. Một hôm nói về chuyện chôn cất Trương phu nhân, hai anh em sụt sùi khóc. Bình Thành nói:
– Bọn chúng làm như thế là đồ cầm thú!
Họ bàn nhau, chọn ngày đưa hài cốt Trương phu nhân về cạnh phần mộ cha hợp táng. Bình Duật, Bình Lâu rất vui sướng, sai người báo cho Bình Bạch biết. Ngay đêm ấy Bình Bạch về, can ngăn họ, nói:
– Mẹ đã nằm yên ở đó rồi, ta không nên động tới nữa, linh hồn người chết dưới suối vàng sẽ không yên.
Bình Thành sao chịu nghe theo. Hôm đưa hài cốt về hợp táng, anh báo cho mọi người, kể cả bọn Bình Y đến. Bình Thành rút con dao sáng loáng phạt vào cây tùng trồng trước mộ, làm toác ra một miếng vỏ dầy tới hai tấc, chỉ vào mọi người nói:
– Đứa nào không để tang mẹ kế, hãy nhìn vào đây.
Bọn Bình Y vội vàng đáp:
– Vâng ạ, vâng ạ.
An táng mẹ xong, anh em dần dần yên ổn.
Bình Thành là người có cá tính mạnh mẽ, hung bạo. Các em, người nào không nghe theo, nhẹ thì chửi, nặng thì đánh. Bọn Bình Y không biết đã bị đánh mắng bao nhiêu lần. Ngay cả Bình Duật, Bình Lâu cũng bị đánh chửi vài lần. Song hai người thấy anh đã vì mình mà trút nỗi căm giận lên đầu bọn Bình Y, nên không dám oán hận. Trong số anh em, Bình Thành chỉ kính trọng có Bình Bạch. Bởi thế, khi Bình Thành giận dữ đến đâu, chỉ cần Bình Bạch đến nói một vài câu là Bình Thành thôi ngay. Bình Y bị Bình Thành đánh chửi, không chịu nổi, thường đến trấn Bình Đồng mời Bình Bạch về dẹp. Bình Bạch khuyên Bình Y rằng: “Hãy làm trọn đạo làm em, thì tự nhiên anh ấy sẽ đối xử khác”. Song Bình Y không nghe, suốt ngày đeo bám Bình Bạch. Thấy sống ở Bình Đồng cũng không yên, Bình Bạch lại chuyển nhà đến Tam Ba Loan. Nơi đây vắng vẻ, u tịch. Tuy thuộc huyện Lô Lăng, song cách thành khoảng một trăm ba mươi dặm, đường sá xa xôi nên anh em ít đi lại với nhau. Bình Thành từ đó lại bắt đầu sợ anh em họ, không hay chửi mắng như trước nữa. Cuộc sống gia đình yên ổn được một thời gian.
Bình Y có bốn người con. Con cả là Lập Đức, con thứ ba là Lập Ngôn, đều là con của vợ cả Vương thị. Con thứ hai là Lập Công, con thứ tư là Lập Hạnh, là con của vợ lẽ Trắc thị và Toàn thị. Bốn người con này cũng học theo tính cha. Lập Đức, Lập Ngôn vào một phe; Lập Công, Lập Hạnh một phe, suốt ngày cãi vã nhau. Bình Y nhiều lần khuyên chúng phải sống hòa thuận, y nói rằng:
– Các con tuy không phải do một mẹ sinh ra, nhưng đều là con ta, đừng đánh chửi nhau nữa.
Song họ không vâng lời. Một hôm Lập Đức uống rượu say trên đường về gặp Lập Công, hắn cố ý đi sát, rồi dùng vai hích Lập Công, định làm Lập Công ngã. Không ngờ Lập Công phòng bị trước, hích lại. Người tỉnh thì chân vững, người say thì chân tay quờ quạng, bởi thế Lập Đức ngã sấp xuống ngòi, những người quanh đó nhìn thấy cười ồ lên. Lập Đức bị ngã, tỉnh rượu thấy mọi người cười, vừa xấu hổ, vừa bực tức bèn lấy đá ném Lập Công. Lập Công đứng bên gốc cây, né người tránh. Chiếc mũ của Lập Công vướng vào cành cây rơi xuống chỗ Lập Đức. Lập Công vội chạy tới giật lấy, nhưng Lập Đức đã vứt xuống hố phân. Lập Công nổi giận đánh Lập Đức, Lập Đức tống vào mắt Lập Công, máu chảy ròng ròng. Lập Công hung lên, bay người đá vào đúng hạ bộ, Lập Đức không đứng dậy được. Thấy Lập Đức như thế, Lập Công lo sợ bỏ chạy. Mọi người vội dìu Lập Đức về nhà, mặt hắn tái mét không còn hột máu, tới nơi thì tắt thở.
Lúc ấy vợ Lập Đức là Mã thị gào lên khóc, đòi giải Lập Công lên quan xử tội. Bình Y thấy con chết, mà hung thủ cũng là con mình, muốn khuyên Mã thị thôi đi. Song Mã thị nào có chịu nghe. Lập Ngôn đứng bên cũng khích vào:
– Giết người thì phải đền mệnh, đây là phép nước, làm gì có chuyện mình tự giải quyết được?
Bình Y không muốn đưa con lên quan chịu tội. Lập Ngôn thấy cha không nghe, bèn lén lút đi một mạch lên thẳng huyện bẩm quan Huyện bèn cử công sai cùng Lập Ngôn về bắt. Bình Y thấy sự việc không thể giữ nổi, chỉ biết nuốt nước mắt nhìn người ta lôi Lập Công đi. Song vì quá thương con, một mặt ông ta nhờ Bình Thân và Bình Phẫu mang tiền đút lót cửa quan, một mặt ngay đêm ấy tới Tam Bạc Loan, nhờ Bình Bạch đến nói với quan huyện.
Đến nơi, Bình Y gặp Lập Thiện, con Bình Bạch. Biết Bình Bạch đến nhà bạn ăn cỗ cưới, nhưng Bình Y vẫn kéo Lập Thiện cùng đến nhà bạn tìm Bình Bạch. Lập Thiện không hiểu vì sao bác lại hoang mang, lo lắng thế, bèn hỏi:
– Bác ơi, có việc gì mà cháu thấy bác lo lắng thế?
Bình Y nước mắt lưng tròng kể lại mọi chuyện cho Lập Thiện nghe. Lập Thiện là người trung hậu như cha, anh không nghĩ gì đến những chuyện bác đối xử với cha mình trước đây, nghe xong anh lo lắng, muốn đưa bác đi ngay. Song Lập Thiện nghĩ, bên ấy đang có việc vui mừng, nếu gặp cha, bác ấy khóc, mà ngay cả cha mình thấy thế cũng đau khổ, thì sẽ bị người ta oán trách, nên chần chừ không đi. Lập Thiện nói:
– Bác ạ, đêm tối rồi, đi lại vất vả, bác hãy nghỉ tạm ở đây một lát, bố cháu ăn xong sẽ về ngay thôi.
– Cháu ơi, – Bình Y nói, – bây giờ bác như kiến bò trong chảo nóng, không thể kiên tâm chờ bố cháu về! Cháu hãy cùng bác đến đó ngay!
– Nếu cần kíp như thế thì cháu bảo người đi gọi, – Lập Thiện nói, – bảo với cha cháu là bác có việc rất cần đang chờ ở nhà, phải về gấp.
Nói xong quay vào trong gọi người nhà.
Bình Y thấy Lập Thiện không chịu đi, quay vào nhà trong, cho là vì thù oán xưa nên Lập Thiện lảng tránh. Bình Y cuống lên, kéo áo lại, quỳ xuống nói:
– Cháu ơi! Đúng là cháu không muốn đi!
Lập Thiện vội quỳ xuống đỡ Bình Y dậy, nói:
– Bác ơi, sao bác lại nói thế.
– Cháu ơi, – Bình Y nói, – đúng là trước đây bác nghĩ nông cạn, ngu dốt, khinh thường cha cháu và hai chú. Bác đáng tội chết. Nhưng bây giờ các cháu phải nghĩ đến ông bà tổ tông. Bác và cha con tuy không cùng mẹ đẻ ra, song đều là con của ông cháu. Cháu và Lập Công đều là cháu của ông. Cháu đừng nghĩ tới mối thù xưa nữa, cháu hãy đi ngay với bác.
Thấy bác như thế. Lập Thiện nói:
– Không phải cháu không muốn đi, song thú thực với bác, đằng ấy họ đang có việc vui, đến đó bác gặp bố cháu nói tới chuyện thương tâm, cả hai người không kìm nổi đều khóc thì gia đình họ oán.
– Bác đến đấy sẽ không nói, – Bình Y nói, – chỉ đến gọi bố cháu về thôi.
Nói xong Bình Y lôi Lập Thiện đi. Lập Thiện đành cùng Bình Y ra khỏi nhà.
– Nhà bạn cha cháu ở đâu? – Bình Y hỏi.
– Cách đây ba dặm đường. – Lập Thiện nói. – Nơi ấy là Tiểu Thôn Phường.
Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Hôm ấy, bữa cỗ kết thúc sớm, Bình Bạch ăn xong về ngay, giữa đường gặp hai người. Bình Y kéo ngay ông lại, khóc lóc kể lể chuyện đã xảy ra. Bình Bạch nghe xong, chau mày nói:
– Anh ạ, đây không phải là chỗ ta nói chuyện, hãy về nhà em đã.
Ba người về tới nhà, Bình Bạch não nuột thở dài nói:
– Mấy anh em nhà mình, năm nào cũng xô xát nhau. Em biết, mỗi người một tính một nết không hợp nhau, điều đó chẳng hay ho gì, nhưng không ngờ lại xảy ra việc này.
– Chú ạ, chú không phải nói nữa, đó là do tôi không đáng đạo làm anh, không có gia giáo. Ngày nay, mấy anh em nó cũng học theo cái thói của tôi, gây ra tai họa, điều ấy khiến tôi vô cùng đau đớn. Tôi chịu báo ứng như thế đã đủ rồi, chú đừng oán trách tôi nữa, hãy cùng tôi lên huyện giải quyết việc cấp bách này!
– Anh không biết, – Bình Bạch do dự nói, – trước đây anh em bất bình nhau về những chuyện nhỏ nhặt, em có thể lên huyện xin được. Nay là tội lớn, em giết anh thì em đi nói làm sao, dù có nói thì quan huyện cũng sẽ không nghe.
Bình Y thấy Bình Bạch tỏ thái độ như thế, tự nhiên òa lên khóc, nói:
– Tôi vốn biết, nếu chú có đi xin cũng không thể an toàn vô sự song chỉ muốn cháu thoát tội chết, còn mắc tội gì cũng được. Chú hãy thương lấy tôi, đã lần đêm mò hôm tới đây, muốn chú đi với tôi, chỉ một lần nữa thôi.
Nói xong Bình Y quỳ xuống, Bình Bạch cuống lên vội cúi xuống đỡ dậy nói:
– Anh đừng làm em khó nghĩ, em sẽ đi xin cho anh.
Lúc ấy Bình Bạch bất đắc dĩ phải cùng Bình Y xuống thuyền đi thẳng lên huyện.
Công sai đã bắt Lập Công tới. Quan huyện thấy đây là việc của nhà họ Bình, lại là trọng tội giết anh, ông rất phẫn nộ. Lập tức mở công đường, hỏi được mấy câu đã rút ra tám chiếc gậy, hô đánh. Đánh xong bốn mươi gậy, thịt da rách nát, máu chảy đầm đìa. Quan huyện vẫn chưa nguôi giận, lại rút ra tám chiếc gậy hô đánh tiếp. Người thi hành án bẩm:
– Xem ra phạm nhân không thể chịu được nữa, hãy cho giam hắn vào nhà giam.
– Tên này giết anh, ngươi còn muốn bảo vệ cho hắn ư? – Quan huyện trợn mắt quát. – Hãy đánh tiếp.
Bọn lính hầu không muốn đánh chết, chỉ vì mấy quan tiền đút lót song thấy quan huyện giận dữ, không dám có ý trì hoãn, lại tiếp tục đánh thêm bốn mươi gậy nữa. Đánh đến nỗi hai chân tướp hết thịt da, thoi thóp thở. Tới lúc ấy quan huyện mới cho giam vào ngục. Bình Thân và Bình Phẫu tới huyện, thấy thế rất lo lắng, đem tiền đút lót cho bọn coi ngục để được vào thăm, thì thấy Lập Công đã tắt thở. Người coi tù báo với quan, cho nhà họ Bình mang xác về chôn. Bình Thân và Bình Phẫu cùng Lập Hạnh, vừa khóc lóc vừa mang xác Lập Ngôn về.
Sáng hôm sau, Bình Y, Bình Bạch về tới nhà, biết Lập Công bị quan huyện đánh chết, gào lên khóc. Bình Bạch khuyên nhủ mãi, rồi ở đó thêm mấy ngày mới trở về Tam Bạc Loan.
Vợ của Lập Đức là Mã thị và vợ của Lập Công là Kim thị, thấy chồng chết như thế, họ chửi nhau suốt ngày. Bình Y thương tiếc hai con, quá đau khổ rồi sinh bệnh. Nằm trên giường bệnh, lại thấy hai người con dâu cãi nhau, Bình Y càng chán nản buồn rầu. Biết không thể ở nhà được, bèn tới nhà người em họ là Cam Lệnh Nhân, cách đó một trăm năm mươi dặm để chữa bệnh.
Bình Y đi rồi. Một hôm, Mã thị chửi Lập Công, Kim thị ở nhà bên, than thân trách phận, nghe thấy Mã thị chửi, giận dữ nói:
– Chồng chị chết, còn chồng tôi có sống được đâu? Rồi cầm cỏn dao bầu nhọn hoắt, chạy vụt sang, đâm phập vào ngực Mã thị. Lưỡi dao thấu tới lưng, chết ngay tại chỗ. Kim thị rút dao ra, tự cứa vào cổ mình đến xoẹt một cái, đầu lìa khỏi cổ, rơi bịch xuống đất. Cả nhà cuống lên, vội đi báo cho mẹ đẻ của họ.
Cha Kim thị chết từ lâu, anh em không có, chỉ còn một mình mẹ đẻ, lại ốm liệt giường, thấy vậy chỉ biết khóc mà thôi. Cha Mã thị là Mã Đại Lập, lại là kẻ bất lương, nghe thấy tin ấy vô cùng oán hận, nói:
– Đây hoàn toàn do lão Bình Y khốn kiếp, không biết dạy bảo con cái, khiến con gái ta phải chịu cái chết thảm thương!

Thế rồi Mã Đại Lập dẫn bốn đứa con, cùng với một số người thân trong họ tộc, đông tới sáu bảy chục người, đến nhà họ Bình tìm Bình Y. Lúc ấy, những người đàn ông nhà họ Bình không ai có nhà. Bình Y vẫn còn ở nhà Cam Lệnh Nhân, ngay hay người con dâu chết cũng không ai báo tin cho ông, họ sợ rằng ông đang ốm, lại lo nghĩ mà ốm thêm. Mã Đại Lập phá tan hoang cửa nhà, không tìm thấy Bình Y đâu, hắn bắt bọn người ở tra hỏi, biết Bình Y ở nhà Cam Lệnh Nhân, rồi nghĩ: “Thật may cho hắn”. Mã Đại Lập chợt nghĩ tới trước đây con gái chết, Bình Y đã kéo đến đánh bà thông gia họ Chu, sao bây giờ không báo thù cho nhà họ Chu. Rồi bọn họ lôi người vợ kế của Bình Y là Toàn thị ra đánh. Toàn thị trốn trong bếp, bọn chúng túm được lôi ra, lột trần truồng, đánh thâm tím mình mẩy, cuối cùng chúng trói Toàn thị vào một chiếc ghế dài, lấy một quả mướp nhét vào chỗ ấy, rồi chúng mới hò nhau kéo về. Không lâu sau, bọn đàn ông nhà họ Bình trở về, biết được, Bình Thành nổi giận nói:
– Nhà ta người chết đang rối bòng bong, bọn chúng lại đến làm nhục thế này, thật là quá đáng.
Thế rồi Bình Thành thét lên một tiếng, xách gậy chạy đi. Bình Thân và Bình Phẫu, Bình Duật, Bình Lâu và một lũ con cháu đều vác dao, gậy chạy theo.
Nhà họ Mã cách đó ba mươi dặm. Lúc ấy đã vào hạ tuần tháng tám, nhưng trời vẫn nắng chang chang, vừa đi họ vừa nghỉ. Bỗng thấy đằng sau có tiếng người hò hét chạy tới. Quay đầu nhìn lại, chỉ thấy độ mười người, bọn Bình Thành không coi ra gì. Tất cả phe Mã Đại Lập dừng lại, nghĩ rằng sẽ đánh mấy tên này cho sướng tay. Không ngờ Bình Thành xông tới, như một con hổ dữ, chiếc gậy trong tay Bình Thành vung lên, khua tít, khiến năm sáu người ngã gục. Bọn người họ Mã thấy thế lực họ Bình mạnh như vũ bão bỏ chạy tán loạn. Người nhà họ Bình xông lên truy đuổi. Bình Thành tóm được Mã Đại Lập, rút dao cắt đứt hai tai, thả cho về. Con Mã Đại Lập là Phụng Ngôn đến cứu, bị Lập Hạnh lia cho một gậy gẫy hai chân, ngã vật ra. Bình Thành thấy đã thỏa mãn gọi nhau về.
Người nhà họ Mã thấy họ Bình đã đi xa mới dám quay lại khiêng người gẫy chân về. Ngay đêm ấy họ lên huyện tố cáo. Quan huyện thấy đây lại là việc nhà họ Bình, rất tức giận, lập tức sai người đi bắt. Hôm ấy, chỉ có Bình Thân, thấy công sai đến, chui qua lỗ chó rúc thoát thân, ngay đêm ấy tới Tam Bạc Loan. Bình Bạch và con vừa đi thi hương về, thấy Bình Thân đến, liền hỏi:
– Anh có việc gì mà đến đây?
Bình Thân thuật lại mọi việc xảy ra cho Bình Bạch nghe, rồi nói:
– Chú hãy lên huyện lần nữa để xin quan.
Bình Bạch buồn rầu nói:
– Làm sao mà cứ gây hết tai họa này đến tai họa khác? Tôi ở đây đã lâu, không đi lại với quan phủ, e rằng nói cũng vô ích. Tôi chỉ mong sao cho con nhà họ Mã không chết, cha con tôi lại thi đỗ, thì việc đó có thể lo liệu được, anh hãy ở lại đây mấy hôm xem sao.

Bình Thân nghe theo, ở lại Tam Bạc Loan. Hằng ngày ngồi ăn cùng mâm, đêm đến lại ngủ cùng giường. Anh em vô cùng thân thiết. Lại thấy anh em Lập Thiện, tuy cùng cha khác mẹ mà sống với nhau rất hòa thuận, khác hẳn với anh em mình, tự nhiên thấy cảm động rót nước mắt nói:
– Bây giờ em mới hiểu, trước đây mình không phải là người.
Thấy Bình Thân hối hận, Bình Bạch rất mừng, cũng khóc theo.
Sau mấy hôm, thấy trống phách vang lừng, có người tới báo cha con Bình Bạch thi đỗ. Bình Bạch vô cùng sung sướng bảo Lập Thiện ở nhà lo liệu, còn mình và Bình Thân lên gặp tri huyện. Cử nhân thời Minh rất danh giá, các quan châu, huyện đều phải kính nể. Rất may, cháu Mã Phụng Ngôn được một danh y chữa khỏi, quan huyện khuyên họ Mã không kiện nữa, nên tha cho bọn Bình Thành. Bình Thành cùng với Bình Bạch trở về. Bình Y lúc ấy dưỡng bệnh cũng đã về. Mọi người đều yêu quý kính nể Bình Bạch, khuyên Bình Bạch trở lại quê, anh em sống quây quần bên nhau. Bình Bạch cùng anh em thắp hương thề, hứa từ nay về sau, mọi người phải sửa chữa lỗi lầm, tự làm lại cuộc đời. Bình Bạch dọn nhà, trở về chung sống với anh em. Từ đó, có việc gì họ đều hỏi Bình Bạch. Bình Thành ngày một già, tính khí cũng dần dần trở nên ôn hòa, gia đình họ đều vô sự. Anh em, con cháu mấy đời sau sống chan hòa, yêu thương đùm bọc lẫn nhau như cùng cha mẹ sinh ra. Về sau Bình Bạch thi Hội đỗ tiến sĩ, thi Đình lại được cất nhắc làm tri huyện, song ông biết tài làm quan của mình chỉ bình thường, nên xin chuyển làm giáo thụ. Hai khoa sau, Lập Thiện đỗ tiến sĩ, được vào Hàn lâm viện. Con cháu đời đời khoa bảng, song chỉ phát ở chi Bình Bạch. Đây chính là sự đền đáp cho những người sống hiếu thuận.

h]� ��� �q� i thân của bà cụ nhưng khi hỏi quan hệ của anh ấy thế nào với bà cụ, thì anh ấy không trả lời được. Sau thấy ngượng quá Tín Chi bỏ đi. Nghe xong quan huyện lại hỏi Điêu Tinh:
– Khi họ cãi nhau, ngươi không ở đấy, sao lại nói là trông thấy?
– Dù không thấy, – Điêu Tinh nói, – song sự thực đúng là như thế.
– Ngươi là người địa phương, – quan huyện hỏi, – thấy anh ta chết phải báo quan ngay, tại sao ngươi lại chờ đến hôm nay có người kiện, anh mới cáo giác.
– Lẽ ra con phải báo ngay với quan, – Điêu Tinh nói, – nhưng Xương Bá đã giấu thi thể, con không biết tìm đâu. Không có chứng cứ thực, thì con không dám báo liều. Chỉ khi tự dời xác chết đi mới có tội danh.
– Nói bậy. – Quan huyện quát. – Ngươi nói người ta mang xác chết giấu đi, ngươi biết thì phải giữ lại, không cho phép mang đi chứ.
– Nó mang đi giấu, – Điêu Tinh nói, – thì con biết sao được.
– Mày là thằng gian manh, – quan huyện quát, – trước mặt quan huyện mày còn dám nói những lời xảo trá. Đã không biết sao lại đi vu cáo cho người?
Điêu Tinh ấp úng, không dám mở miệng. Quan huyện biết hắn gian dối, gọi lính hầu kẹp hắn lại. Hai lính hầu đang căm tức hắn không chịu đưa tiền, bèn kẹp hắn thật đau. Điêu Tinh tuy là một tên liều lĩnh, song chưa từng bị hình phạt bao giờ, không chịu được buộc phải khai hết sự thực từ khi gặp anh hàng gà. Lúc ấy quan huyện mới cho tháo kẹp, ghi hết lại lời khai của hắn. Quan huyện hỏi tiếp:
– Đúng thì đúng rồi, nhưng vì sao lại di dời thi thể ấy đi, có phải làm thế để ghép thêm tội di dời thi thể nữa không?
– Con làm thế, lúc đầu chẳng qua chỉ dựa vào đó để được mấy lạng bạc, chứ chẳng có thù hận gì mà đòi ông ấy phải đền mệnh. Đã làm người ta chết rồi thì sao lại chịu di dời đi, xin ngài xoi xét cho.
Quan huyện bèn gọi Xương Bá, hỏi:
– Đây là kế ngươi tránh tội, nếu không dùng hình phạt thì sao ngươi chịu khai ra.
Nói xong quan huyện sai lính hầu kẹp Xương Bá. Chu Ân thấy thế vội bẩm rằng:
– Đấy là do con không muốn làm hại người dân lương thiện.
– Vì sao lại do ngươi? – Quan huyện hỏi.
Chu Ân không dám giấu, nói hết việc xấu xa của mình cho quan huyện nghe, rồi anh lại kể việc Xương Bá cho tiền, và từ đó đã hối cải làm ăn. Anh làm thế để báo đền ân đức của ông. Lúc đầu vì không biết là anh mình, nên đã mang xác chết đi. Quan huyện thấy anh thật thà, khẳng khái nhận tội, nên không truy cứu chỉ trách anh qua loa để kết thúc vụ án. Trương Xương Bá tuy không truy bức đến nỗi làm cho Tín Chi phải chết, song vì ông là đầu mối gây họa, phải đền hai mươi lạng bạc cho Ngải thị mai táng và nuôi thân. Điêu Tinh lòng dạ xấu xa, lừa dối người vào chỗ chết phải tử hình chờ xử trảm. Quan huyện cho Ngải thị và Chu Ân trở về.

Lạc Công Tế đã đón họ ngoài cửa, gặp cả Xương Bá. Chu Ân nói:
– Đây là Lạc Tướng công, hiệu là Công Tế. Việc hôm nay nhờ ông chỉ bảo mới giải quyết được rõ ràng.
Ngải thị, Xương Bá vô cùng biết ơn. Mọi người ra về.
Còn Điêu Tinh bị giam, sau chết trong ngục. Vợ là Thủy thị đi lấy chồng. Thế mới biết lẽ trời sáng tỏ, không dung tha kẻ xấu xa. Có thơ rằng:
Vốn chỉ tham tài mà gian dối,
Ai ngờ thật giả lại đảo điên.
Mưu mô quỷ quyệt thành vô dụng,
Vợ sống cô đơn, tự giết mình.

Vụ kiện này khiến Chu Ân chịu thiệt. Xương Bá tuy mất hai ba chục lạng bạc, song không đến nỗi khổ sở vì nhà tan cửa nát. Ông vô cùng cảm động, chuẩn bị hai mâm rượu, mời Chu Ân và Lạc Công Tế đến khoản đãi, dốc hết bầu tâm sự. Rượu ngà ngà say, Xương Bá vội lấy từ trong tay áo ra ba mươi lạng bạc biếu Chu Ân. Ông nói:
– Anh cầm số bạc này về làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ cũng có thể sống được, không cần phải gánh hàng rong suốt ngày trên đường cho khổ.
Sau đó ông lại rút ra hai mươi lạng biếu Công Tế. Công Tế từ chối, nhưng cuối cùng cũng phải nhận. Chu Ân ra sức từ chối, nói:
– Vụ kiện này ông được minh oan, vì ông là người phúc đức nên trời phù hộ; hai là, quan phủ thanh liêm, lại được Lạc tướng công chỉ bảo, chứ tôi có công lao gì mà nhận thưởng!
– Cung kính không gì bằng theo lệnh. – Công Tế nói. – Các ông quen biết nhau từ lâu rồi, đây không phải báo đức hay là nhận, mà là hai người giúp nhau sống yên vui.
Thấy thế Chu Ân không dám chối từ, bèn thay áo ngồi vào ăn uống hết sức vui vẻ cởi mở.
Từ đó Chu Ân vẫn theo nghề buôn bán, và trở nên giàu có Công Tế vì đã giúp đỡ hai người, sau lại thông gia với Xương Bá, đời này đến đời khác vẫn quan hệ thân thiết. Cho tới nay tình thân ái càng thêm khăng khít mặn nồng.

Câu chuyện này luôn luôn khuyên người ta làm việc thiện. Nó giáo dục con người không nên tham lam tiền của. Ngay như Tín Chi, vừa mới nẩy lòng tham đã bị chết; Điêu Tinh vì sẵn có lòng tham, đến nỗi cửa nhà tan nát. Không những không lấy được của người khác, mà ngay của nhà mình cũng phải đội nón ra đi. Tiền bạc là cái tác oai tác quái, nếu các bạn khao khát nó thì các bạn hãy dập tắt ngay những ý nghĩ ấy đi, đừng quá coi trọng. Song không thể quá tham lam tiền tài, cũng không thể không yêu quý nó. Vì sao vậy? Nếu như khinh tiền của mà tiêu hoang phí, đến nỗi áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, cũng không phải là mĩ đức. Nếu một đồng cũng không tiêu, hai đồng cũng không hoang phí, tuy không gây nên họa làm nên tội song cuối cùng có tụ phải có tán, thì tội gì phải giữ tiền của mà không dám ăn. Loại người này gọi là loại người kiết xỉ chứ không phải là người quý tiền của. Được mười thì phải tiêu một, được trăm phải tiêu mười, ai ai cũng cảm kích và biết ơn. Mình không phí nhiều, mà người chịu ơn cũng không ít. Thế chẳng phải người ta thì lãng phí đến cùng cực, mà mình thì không phải là lãng phí. Như vậy mới gọi là biết yêu quý của cải. Giả thử lúc ấy Xương Bá tiếc ba lạng bạc, thì Chu Ân làm sao lại chịu bảo vệ ông. Chu Ân nếu không có ba lạng bạc làm sao khôi phục lại được nghề nghiệp. Tiền bạc quả là một thứ ma mãnh. Các bạn thân mến, nếu bạn tiêu tiền không đúng chỗ thì xin bạn hãy dừng lại, dùng cho đúng chỗ, đừng quá coi thường nó. Mấy lời tôi nói không nhũng khuyên cho đời tốt, mà còn là một cuốn sách khiến người ta trở nên giàu có.


Ai đang trực tuyến

  • 1
  • 2.392
  • 631
  • 5.075
  • 970
  • 846.909
  • 193.668